SUY NIỆM MÙA VỌNG - Năm C
Chúa Nhật Tuần IV Mùa Vọng Năm lẻ
BÀI ĐỌC I: Mk 5, 2-5a (Hr 1-4a); Dt 10, 5-10; Lc 1, 39-45
TÌNH YÊU NHẬP THỂ
Mở lại những trang Kinh Thánh, có lần qua môi miệng các ngôn sứ, Chúa đã phán: Tư tưởng và đường nẻo của Ta không phải tư tưởng và đường lối của các ngươi. Như trời cao hơn đất bao nhiêu thì tư tưởng và đường lối của Ta cũng sẽ cao hơn tư tưởng và đường lối của các ngươi bấy nhiêu.
Trải qua dòng lịch sử, Ngài đã thực hiện đúng như thế. Đọc lại Cựu Ước chúng ta thấy, Đavít chỉ là một trẻ nhỏ đi chăn chiên tại Bêlem, thế nhưng Chúa đã chọn và đặt Đavít lên làm vua, chiến thắng được đạo quân hùng mạnh của Goliat và dẫn đưa dân Do Thái tới một thời đại hoàng kim.
Trường hợp của ngôn sứ Giêrêmia cũng vậy. Lúc bấy giờ ông mới chỉ là một em nhỏ còn nói cà lăm, thế nhưng Chúa đã chọn ông làm ngôn sứ để chuyển đạt thánh ý của Ngài cho toàn dân Do Thái.
Mầu nhiệm nhập thể là mầu nhiệm Ngôi Lời được cưu mang. Khi chấp nhận làm người, Con Thiên Chúa cần một người mẹ. Ngài được thụ thai cách lạ lùng trong lòng một trinh nữ, và Ngài đã lớn lên bình thường trong dạ mẹ. Dạ mẹ là mái nhà êm ấm đầu tiên, là Đền Thánh trước khi Con bước vào thế giới.
Và rồi nhiều lần nhiều lúc ta cũng thấy Chúa đã hành động như vậy. Trước mặt người đời thì Đức Maria và bà Isave là hai người không có hy vọng sinh con. Đức Maria thì khấn giữ mình đồng trinh. Còn bà Elizabeth thì vừa son sẻ, lại vừa cao niên. Quan niệm dân Do Thái cũng giống như quan niệm của người Việt Nam ngày xưa, coi sự kiện đông con nhiều cháu là một phúc lành do trời trao ban vì thế trong những dịp đầu xuân năm mới, chúng ta thường cầu chúc cho nhau: đa tử đa tôn đa phú quý, đông con nhiều cháu và giàu sang. Bởi đó son sẻ và đồng trinh sẽ bị người đời cười chê, vì phải chăng đó là dấu bị Chúa chúc dữ? Phải chăng đó là dấu chỉ tương đường với sự chết bởi vì nếu chết là hết sống, thì son sẻ và đồng trinh là hết chuyển thông dòng sự sống.
Tin Mừng hôm nay chứa chan niềm vui. Bà Elizabeth vui mừng vì được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm. Đức Maria vui mừng vì được Thiên Chúa đoái thương. Thánh Gioan Baotixita vui mừng vì được tha tội ngay từ khi còn trong lòng mẹ. Những niềm vui ấy hoà chung, biến buổi gặp gỡ thành một lễ hội vui mừng tạ ơn Thiên Chúa. Nguồn gốc của những niềm vui ấy là ơn Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần đã giúp chuẩn bị các tâm hồn đón nhận niềm vui ơn cứu chuộc. Ta thấy được ơn Chúa Thánh Thần qua những dấu hiệu sau đây.
Bà Elizabeth đang có mang lần đầu tiên trong lúc tuổi già và bà biết nhờ thiên thần đã nói với Giacaria chồng bà rằng: “Người con trai của bà sẽ được tràn đầy Chúa Thánh Thần từ trong lòng mẹ và người con đó sẽ đi trước Chúa để dọn đường cho Chúa”. Niềm vui đó tràn trề khi Maria chào bà, làm bà phải kêu lên trong hân hoan ngây ngất: “Bởi đâu mà tôi được diễm phúc là Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm tôi!”
Nguyên nhân chính yếu của sự vui mừng hôm nay đó chính là sự hiện diện của Chúa Giêsu, dầu Người mới tượng thai vài tuần trong lòng Mẹ Maria. Chúng ta có thể mở ngoặc một chút ở đây, để nhìn thấy sự kiện trong Phúc Âm hôm nay là một bằng chứng hùng hồn để tôn trọng đời sống con người bắt đầu từ lúc thụ thai. Mới có vài tuần trong lòng Mẹ, Chúa Giêsu đã là Thiên Chúa thật, đã mang niềm vui đến cho mọi người nhất là đem ơn thánh hóa đến cho Gioan cũng còn trong lòng mẹ. Và rồi ta đặt trọng tâm suy niệm vào niềm vui được ơn cứu độ, niềm vui gặp được Chúa. Cùng với Elizabeth và Gioan ước gì chúng ta cảm thấy được niềm vui Chúa đến với chúng ta, và cùng với Mẹ Maria ước gì chúng ta biết đem niềm vui đến cho mọi người.
Thiên Chúa vì yêu thương nhân loại vô cùng, nên Ngài đã đến với con người trong lịch sử, cách đây 2000 năm, để cứu độ và đem hạnh phúc đến cho mọi người, cho từng người. Khi còn tại thế, Ngài đã đến thăm nhiều người, săn sóc nhiều người, cải hóa nhiều người, biểu lộ tình yêu thương cho nhiều người. Nhưng vì nhập thể làm người, Ngài bị giới hạn trong không gian và thời gian, Ngài chỉ sống tại thế có 33 năm, chỉ quanh quẩn trong đất nước Do Thái, và chỉ có thể tiếp xúc được với một số rất ít người.
Chính vì tình yêu vô biên phổ quát của Ngài, Ngài muốn tiếp xúc với tất cả mọi người trên trần gian, để phục vụ, săn sóc họ, từng người một. Nhưng hiện nay Ngài không thể làm điều đó bằng chính thân xác của Ngài. Vì thế, Ngài muốn nhờ chính chúng ta làm điều ấy. Ngài muốn trở thành chính bản thân chúng ta để làm những công việc ấy, và chúng ta có thể giúp Ngài được toại nguyện ý đó.
Thiên Chúa muốn dùng chính bản thân chúng ta để thăm viếng những người chúng ta quen biết, yêu thương. Ngài muốn an ủi, vỗ về, khuyến khích, khuyên lơn, cảnh tỉnh họ bằng miệng lưỡi của ta. Ngài muốn săn sóc, làm việc phục vụ họ bằng chính bàn tay của ta. Ngài muốn yêu thương họ bằng chính trái tim của ta. Ngài muốn quan tâm tới họ bằng chính tâm trí của ta.
Qua ta, Thiên Cúa muốn biểu lộ tình thương vô biên của Ngài cho họ. Muốn thế, Ngài mong muốn ta trở thành hiện thân của yêu thương, thứ yêu thương bằng hành động chứ không phải chỉ bằng lời nói. Ta có là hiện thân của tình thương, thì ta mới trở nên hiện thân của Ngài. Và chính lúc ấy, ý muốn của Ngài là yêu thương phục vụ họ mới được thỏa mãn hoàn toàn.
Cùng với Mẹ Maria, mỗi người chúng ta biết mở rộng lòng ra để đón nhận niềm vui đích thực là Ngôi Lời Thiên Chúa và lên đường mang niềm vui ấy đến với những người xung quanh. Cầu mong cho tình liên đới hiệp thông giữa từng người trong chúng ta ngày càng trở nên tốt đẹp hơn góp phần làm cho cuộc sống có ý nghĩa hơn. Ý nghĩa vì chính chúng ta cùng đón nhận và chia sẻ niềm vui đích thực, niềm vui Ngôi Hai Thiên Chúa trong dịp lễ Giáng sinh sắp tới.
Ta hãy mừng vui ngây ngất trước nhan Mẹ! Nhưng còn mừng vui hơn nữa trước một Thiên Chúa dám chọn con đường của phàm nhân để bắt liên lạc với nhân loại.
Huệ Minh
Thứ Hai Tuần IV Mùa Vọng.
Lc 1, 26-38
XIN VÂNG THEO Ý CHÚA
Trong mọi công việc, mọi quyết định, chúng ta thường xin Chúa soi sáng để chúng ta thực hiện công việc theo như ý Chúa. Lời xin vâng này được Đức Maria thi hành một cách trọn hảo, Mẹ là mẫu gương sống động cho mỗi chúng ta khi thi hành thánh ý Chúa. Mừng lễ Mẹ Maria với tước hiệu Vô Nhiễm Nguyên tội hôm nay, chúng ta cùng suy gẫm về lời xin vâng của Mẹ để đáp trả thánh ý Thiên Chúa bằng lời Xin vâng mỗi ngày trong suốt cuộc đời của mình.
Trình thuật Tin Mừng kể lại việc Đức Maria được Sứ Thần Gabriel báo tin việc cưu mang Đấng Cứu Thế, người mà muôn dân đang mong đợi, Đấng sẽ đến giải thoát dân khỏi cảnh lầm than, khỏi ách nô lệ. Cuộc gặp gỡ định mệnh nhưng cũng thật diệu kỳ, kịch tính.
Đức Maria, một thôn nữ hiền lành, hoàn toàn chưa chuẩn bị gì cho cuộc thăm viếng này. Lời chào của Sứ thần: “Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà” đã mang lại cho Mẹ chút bối rối khi tìm câu trả lời. Mẹ cũng băn khoăn trước sứ điệp của Thiên Chúa: “Sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao”, ý thức mình chỉ là một thôn nữ như bao thôn nữ khác, Mẹ …trước thánh ý của Thiên Chúa, nhưng Mẹ muốn biết, muốn hiểu sự việc dưới ánh sáng của một người có lòng tin mạnh mẽ vào Chúa. Mẹ không hoài nghi trước ơn trọng đại mà mình sắp đón nhận: “Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” nhưng một lòng tín thác vào Chúa.
Là một thiếu nữ mười sáu tuổi, không một điều báo trước, không một sự chuẩn bị, sứ mạng Thiên Chúa trao cho Mẹ Maria qua lời truyền tin của sứ thần Gaprien không khỏi làm Mẹ ngỡ ngàng và bối rối. Cưu mang Con Thiên Chúa do quyền năng Chúa Thánh Thần - đó là điều quá lớn lao vượt sức lý giải và đón nhận của loài người. Mẹ có quyền thắc mắc và Mẹ cũng có quyền từ chối. Tuy vậy, sau lời giải thích của sứ thần, Mẹ Maria mau mắn đáp lời xin vâng: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1, 38).
Lời Xin Vâng của Mẹ đã làm cho triều thần thiên quốc đang nín thở đợi chờ được hân hoan vui sướng, cho hoa lá reo mừng, cho Mùa Xuân Cứu Độ được mở ra. Mẹ Xin Vâng. Tiếng xin vâng trong khiêm cung và tín thác. Tiếng Xin Vâng chấp nhận mọi khó khăn và hiểm nguy có thể sẽ đến sẽ đến như: sự hiểu lầm của Thánh Giuse - người Mẹ đã đính hôn, mất đi sự đức hạnh trước mắt người đời, thậm chí là cái chết vì ném đá theo luật của người Do Thái. Mẹ Xin Vâng. Tiếng Xin Vâng chân thành và vô điều kiện.
Tiếng Xin Vâng của Mẹ chẳng giống như tiếng xin vâng của người con thứ trong dụ ngôn hai người con: Khi anh được cha sai đi làm vườn nho, anh đáp “Thưa Ngài, con đây” nhưng rồi lại không đi (Mt 21, 28-32). Tiếng Xin Vâng đó cũng chẳng giống với cách vâng phục trong tính toán của người con cả trong dụ ngôn Người cha nhân hậu (Lc 15, 11-32). Mẹ đã Xin Vâng. Mẹ Xin vâng với trọn tâm tình và dùng cả cuộc đời để sống lời Xin Vâng ấy. Nơi Mẹ, thánh ý Thiên Chúa luôn được thể hiện cách trọn vẹn. Nhờ Mẹ và qua Mẹ, Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người, mang tình yêu và ơn cứu độ đến cho trần gian.
Đức Maria luôn đặt ý mình trong thánh ý Chúa, Mẹ vâng theo ý Chúa vơi lòng tin tưởng và tín thác: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Với lời thưa xin vâng, Mẹ phó thác trong tay Chúa cuộc đời của mình, không biết ngày mai sẽ ra sao và sẽ thế nào.
Nhìn lại cuộc đời của Mẹ, chúng ta thấy từ lúc Mẹ đáp lời xin vâng Mẹ đã hoàn toàn phó thác trong tay Chúa với lòng tin tưởng mạnh mẽ. Trên đường thập giá và khi đứng dưới chân thập tự, Mẹ luôn lặng lẽ, âm thầm đón nhận thánh ý Chúa trong đức tin và để thánh ý Chúa được thể hiện. Thái độ xin vâng của Mẹ thể hiện lòng vâng phục tuyệt đối. Mẹ, chấp nhận vâng theo thánh ý của Thiên Chúa chứ không theo ý riêng của mình. Vì thế, Mẹ là người nữ luôn luôn “đẹp lòng” Thiên Chúa.
Trước những biến cố xảy ra trong cuộc đời mỗi người, chúng ta lo ngại về thái độ và lời đáp trả của chúng ta trước thánh ý của Thiên Chúa. Có nhiều người luôn coi trọng ý Chúa và sống tâm tình xin vâng theo ý Chúa, nhưng cũng có không ít người, không ít lần chính mỗi người chúng ta cũng có thái độ chống lại ý Chúa, coi thường ý Chúa. Cũng có những lúc chúng ta vô tình hay hữu ý hiểu sai ý Chúa. Không ít lần chúng ta gắn cho ý Chúa những ý riêng của mình và chúng ta tự an ủi vỗ về, tự mê hoặc chính mình và bảo đó là ý Chúa hay chúng ta cho rằng ý Chúa thật trùng khớp với ý mình, hợp với ý mình.
Qua những dấu chỉ của thời đại, những biến cố xảy ra trong cuộc đời mỗi người, nếu chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa, nhạy bén đọc ra thánh ý Chúa ta sẽ thấy Chúa không ngừng nói với chúng ta, không ngừng thể hiện ý Chúa qua những dấu chỉ và biến cố ấy. Như Đức Maria đã nhận ra thánh ý Chúa qua biến cố Truyền tin, chúng ta cũng sẽ nhận ra thánh ý Chúa qua cá biến cố xảy ra trong cuộc đời chúng ta. Thế nhưng, chúng ta không thể đáp trả hai tiếng xin vâng cách thờ ơ và lạnh nhạt. Thưa lên hai tiếng xin vâng thì dễ nhưng để sống điều ấy lại là một thách đố cho mỗi người chúng ta.
Trong hành trình theo Chúa, mỗi ngày chúng ta hãy tập đáp lại lời xin vâng bằng việc cầu nguyện với chuỗi Mân Côi. Chúng ta cũng noi gương Mẹ sống âm thầm lặng lẽ, đón nhận những biến cố trong cuộc đời với lòng tín thác và mến yêu. Mỗi ngày ta tập làm những điều nho nhỏ phục vụ tha nhân để lời xin vâng của ta được hoà quyện với tâm tình yêu mến như Mẹ Maria. Mỗi ngày chúng ta cũng tha thiết xin với Mẹ để Mẹ giúp ta biết lắng nghe và thi hành thánh ý Chúa với tâm tình con thảo. Nhờ đó, chúng ta cũng vượt thắng được những gian nan thách đố, những khó khăn trong cuộc sống của mình để chia sẻ với tha nhân những ân sủng của Thiên Chúa.
Là người con của Mẹ, chúng ta hãy noi gương Mẹ sống phó thác với lời xin vâng để những khi gặp thử thách trong cuộc đời, những lúc lời mời gọi của Chúa gây xáo trộn cuộc đời mình, chúng ta cũng được Chúa nâng đỡ, được diễm phúc mang lấy Chúa vào tâm hồn với lòng tin kính, mến yêu và phó thác và lúc đó chúng ta là những người mang Chúa đến cho người khác nữa.
Theo bước chân của Mẹ Maria, mỗi người kitô hữu cũng được mời gọi hãy luôn biết lắng nghe lời Chúa, tin tưởng vào kế hoạch yêu thương của Chúa dành cho mỗi người và sẵn sàng đáp tiếng “xin vâng”. Tuy vậy, trong một xã hôi đề cao tự do, quyền lợi cá nhân và chủ nghĩa hưởng thụ như ngày hôm nay, việc sống xin vâng theo thánh ý của Chúa là một thách đố không nhỏ.
Đơn giản mà khó vì tiếng xin vâng bao giờ cũng đòi hỏi những sự từ bỏ và hy sinh mà không phải ai cũng can đảm để chấp nhận. Vẫn còn rất nhiều những lời mời gọi của Thiên Chúa đang chờ đợi lời đáp trả. Ước mong mọi kitô hữu hiểu rằng: Tình yêu chỉ trọn vẹn khi đến từ hai phía. Ơn cứu độ chỉ có thể thực hiện khi có sự cộng tác của con người: “Để dựng nên con Chúa không cần con, nhưng để cứu độ con Chúa cần con cộng tác” (Thánh Augustino).
Thứ Ba Tuần IV Mùa Vọng.
(Tr) Thánh Phê-rô Ca-ni-xi-ô (Canisio), Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh.
Lc 1, 39-45
Ðức Maria Gương Mẫu Của Niềm Tin
Chúa Giêsu Kitô xuất hiện trong dòng lịch sử nhân loại tại làng quê bé nhỏ. Bethlem này cách xa khung cảnh huy hoàng vĩ đại của các thành phố lớn thuộc các đế quốc vùng Trung Ðông. Ngài đã bước vào gia đình nhân loại như một trẻ thơ bé bỏng yếu đuối, trong một gia đình thường dân khác.
Tuy nhiên trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa không có gì là tình cờ cả, các lựa chọn ngược đời ấy của Thiên Chúa như: làng quê Bethlem, cuộc sống khiêm tốn, điều kiện lúc bé bỏng, sự mỏng dòn yếu đuối của con người đều tham dự vào sự cao cả và quyền năng vô cùng của Thiên Chúa, bởi vì Ðấng xuất thân từ đó sẽ thống trị mọi dân nước và cai trị với chính uy quyền của Thiên Chúa toàn năng và sẽ đem lại an bình cho nhân loại. Kiểu cách lựa chọn ngược đời và các nẻo đường lạ lùng Thiên Chúa dùng để thực hiện chương trình cứu độ lại càng nổi bật hơn trong trình thuật Tin Mừng theo thánh Luca (Lc 1, 39-48).
Maria một thiếu nữ vô danh, con của một gia đình làng quê Nazareth được Thiên Chúa lựa chọn làm người cưu mang Ðấng Cứu Thế, Con của Ngài. Phước lành Thiên Chúa ban cho toàn thể nhân loại. Trong dòng lịch sử thế giới và lịch sử nhân loại, Thiên Chúa đã ban cho con người không biết bao nhiêu là phước lành, nhưng phước lành cao quí và trọng đại nhất là Ngài đã ban chính Chúa Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Thế cho nhân loại.
Mẹ Maria đã có tương giao nghĩa thiết với Thiên Chúa, nên Mẹ đã sống cuộc đời Mẹ cách vẹn toàn, sung mãn dù cuộc đời có nhiều bấp bênh, thử thách. Mẹ cưu mang Con Thiên Chúa trong lòng; nhờ vậy, Mẹ trở thành Đấng Đầy Ơn Phúc. Cũng thế, gia đình ông Dacaria, nhất là Gioan Tẩy Giả, đã được đầy tràn niềm vui ơn cứu độ nhờ gặp gỡ Con Thiên Chúa Làm Người mà Đức Mẹ đã mang đến cho gia đình ông.
Sống ở đời, người ta phải có tương quan, liên đới. Nhưng trong tương quan, liên đới với những người xung quanh, bạn và tôi đã mang gì đến cho họ? Có khi nào sau cuộc gặp gỡ, trao đổi với ta, họ trở về nhà với tâm hồn nặng trĩu những dằn vặt, đau đớn bởi những lời nói, cử chỉ, hành động thiếu tình bác ái, vị tha của ta? Mẹ Maria đã mang Chúa Cứu Thế đến cho gia đình ông Dacaria. Ta cũng được mời gọi đem Chúa là niềm vui ơn cứu độ đến với những người xung quanh, chứ không phải mang đến cho họ những hiềm khích, chỉ trích gây đau đớn, khổ sầu cho họ.
Lời chào của bà Elizabeth khi thấy Trinh Nữ Maria đến thăm mình và lời kinh chúc tụng của Trinh Nữ Maria đều khen đến cách thế Thiên Chúa lựa chọn con đường dẫn Ngài đến cuộc gặp gỡ cứu độ loài người. Con đường bé nhỏ nghèo nàn, khiêm tốn và kín nhiệm. Nhiều người không chịu được ý tưởng Con Thiên Chúa phải nhập thể làm người trong lòng một phụ nữ, và mở mắt chào đời từ cung lòng của một bà mẹ. Do đó, câu chào của bà Elizabeth: "Em ơi,Em thật có phúc hơn mọi người phụ nữ và Giêsu con em được chúc phúc" khiến cho họ khó chịu.
Nhưng đây là một sự thật, một sự thật lịch sử minh chứng cho thấy tất cả cái nghiêm trọng của biến cố Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đã nhập thể làm người và sinh ra từ cung lòng của một người đàn bà trong gia đình nhân loại. Hoa trái tuyệt diệu ấy, Người Con ấy đã do hoạt động và quyền năng của Chúa Thánh Thần nên đã được cưu mang trong cung lòng của Trinh Nữ Maria.
Nhưng cũng như bất cứ bào thai nào khác, con người được sinh ra trên trần gian đều gắn liền với thịt xác, máu huyết của bà mẹ. Và để nhập thể làm người, Con Thiên Chúa đã cần đến cung lòng của một bà mẹ. Trinh Nữ Maria đã không tiếp nhận Ngôi Lời trong linh hồn mình. mà đã tiếp nhận Ngài trong chính thân xác mình, trong chính cung lòng của mình.
Và Chúa Giêsu hoa trái tuyệt diệu của ơn cứu rỗi ấy đã trở thành một bào thai, nhận chịu mọi luật lệ tâm sinh vật lý của một bào thai. Thân hình, lớn lên, phát triển trong thời gian, giãy dụa đợi chờ trong lòng Mẹ, được Mẹ nuôi nấng bằng chính máu huyết của Bà như bất cứ một thai nhi nào khác. Sự kiện Con Thiên Chúa nhập thể làm người lớn lên từ từ ấy tỏ hiện rõ ràng qua hình ảnh cụ thể tròn trịa của bụng mẹ mình ngày càng lớn lên trong thời gian.
Hoa trái gợi lên trong tâm trí chúng ta hình ảnh thực phẩm để hưởng nếm, để ăn, bồi bổ và nuôi sống. Hoa trái phát sinh từ sự sống và diễn tả sự sống, nó có nhiệm vụ dưỡng nuôi sự sống và không thể có sự sống mà không có hoa trái.
Sự kiện Chúa Giêsu là hoa trái, là bào thai, là sự sống lớn lên trong cung lòng Mẹ Maria, chứng minh Thiên Chúa không phải là một lý thuyết, một tư tưởng hay một giả thuyết. Thiên Chúa cũng không phải là một luận lý mà Ngài là một hoa trái Thiên Chúa ban để dưỡng nuôi, để cứu thế giới này khỏi chết đói. Mẹ Maria đã không nói nhiều mà chỉ im lặng sống cuộc đời bé nhỏ, thầm lặng, ẩn dật, cưu mang Chúa Giêsu trong lòng rồi hiến dâng Ngài cho chúng ta. Sự phong phú không cần lời, ánh sáng không cần lời nói và sự sống với hơi thở và nhịp đập của con tim chính là sứ điệp. Khi tâm hồn càng trống rỗng khô cằn bao nhiêu thì con người càng nhiều người và gây nhiều tiếng động bấy nhiêu.
Kitô hữu là người mang Chúa Kitô trong tâm hồn, nhưng chúng ta chỉ có thể cưu mang Chúa Kitô phong chức và hữu hiệu như Mẹ Maria khi chúng ta biết sống khiêm tốn bé nhỏ, yêu thích chọn lựa con đường và kiểu cách sống bé nhỏ của Thiên Chúa như một tôi tớ, như người khiêm hạ. Kiểu cách chọn lựa con đường gặp gỡ và cứu rỗi nhân loại trên đây cũng được nêu bật trong thư gởi giáo đoàn Do Thái hay diễn từ về chức linh mục của Chúa Giêsu.
Biến cố Chúa Giêsu Con Thiên Chúa Nhập Thể làm người là một biến cố trọng yếu và là trung tâm điểm của lịch sử cứu độ, bởi vì nó mở cửa ra một kỷ nguyên mới, nó vượt xa quan niệm cũ của Do Thái giáo để liên hệ giữa Thiên Chúa và thế giới, giữa con người và Thiên Chúa. Do Thái giáo đóng khung các liên hệ này trong đền thánh, trong việc dâng cúng các lễ vật và tuân giữ luật lệ, mặc dầu các sinh hoạt này đã có nhiệm vụ và vai trò rất ít quan trọng trong lịch sử cuộc sống tinh thần của dân tộc Israel, Chúa cũng không thể trao ban ơn cứu độ cho con người. Nếu muốn được ơn cứu độ, con người phải tìm trở về với chương trình mà Thiên Chúa đã có đối với nó ngay từ thời tạo dựng, nghĩa là trước khi con người phạm tội.
Cần phải nhận biết Thiên Chúa và thánh ý Ngài, và lấy đó làm trung tâm lịch sử đời mình và lịch sử cứu rỗi. Cần phải qui hướng cuộc sống của mình theo chương trình và ý muốn của Thiên Chúa và hoán cải trở về với Ngài. Thái độ sống này đòi buộc chúng ta không được tách khỏi cuộc sống lòng tin ra khỏi các sinh hoạt thường ngày. Bởi vì chúng ta không chỉ là Kitô hữu khi cử hành các nghi lễ phụng vụ mà thôi, nhưng là trong suốt ngày sống, trong mọi công việc khác nhau. Tách rời cuộc sống lòng tin khỏi các sinh hoạt và cung cách hành xử thường ngày là chúng ta khước từ việc tin nhận biến cố Nhập Thể của Chúa Giêsu.
Bởi vì khi Nhập Thể, Chúa Giêsu chấp nhận qui hướng toàn cuộc sống của Ngài theo thánh ý của Thiên Chúa Cha: "Này Con xin đến để thực thi ý Cha". Và Chúa Giêsu đã sống mọi giây phút đời mình dưới ánh sáng chương trình của Thiên Chúa. Như vậy, khi biết noi gương Chúa Giêsu sống tinh thần nhập thể trọn vẹn ấy, là chúng ta đón nhận sứ điệp Giáng Sinh đúng đắn và trọn vẹn nhất vậy.
Thứ Tư Tuần IV Mùa Vọng.
Lc 1, 46-56
MẸ MARIA MẪU GƯƠNG TUYỆT VỜI
Giáo Hội Công giáo có một lòng sùng kính Mẹ Maria một cách đặc biệt. Mẹ đã được ca ngợi trong phụng vụ với nhiều tước hiệu khác nhau. Một trong những tước hiệu tuyệt vời nhất, đó là tước hiệu Mẹ Thiên Chúa. Tước hiệu này phát sinh từ niềm tin của Giáo Hội nơi Chúa Giêsu, người con sinh ra từ cung lòng Mẹ, là Con Thiên Chúa làm người. Ngài là người nhưng đồng thời cũng là Thiên Chúa.
Khi Mẹ Maria tới thăm người chị họ là bà Elizabeth, ngay giờ phút đầu tiên mới gặp nhau, bà Elizabeth đã cất lời ca ngợi Mẹ là Người có phúc nhất trong giới phụ nữ; Mẹ Maria đã hân hoan vui sướng ca ngợi và cảm tạ Thiên Chúa vì Mẹ đã cảm nghiệm sâu sắc tình thương Thiên Chúa dành cho Mẹ: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi.”
Mẹ đã vui mừng hớn hở vì Mẹ cũng như mọi người thời đó đang hết sức chờ mong “Đấng Cứu Thế”. Không vui sướng sao được vì nay không những Đấng Cứu Thế đã đến, mà còn đến ngay trong cung lòng của Mẹ. Mẹ tuyệt vời vui sướng, nhưng không phải vì thế mà Mẹ tỏ ra vênh vang, lên mặt với mọi người, ngược lại với lòng khiêm nhượng thẳm sâu, Mẹ nói mình không xứng đáng được ơn trọng đại này (ơn làm Mẹ Đấng Cứu Thế) qua lời : “Phận Nữ tỳ hèn mọn Người đoái thương nhìn tới”. Người mẹ của một vị vua trần thế, họ tỏ vẻ sang trọng và cung cách của họ tỏ ra quí phái biết chừng nào thế nào. Mẹ Maria thì ngược lại, Mẹ suy nghĩ : ơn trọng đại này là hoàn toàn do tình thương của Thiên Chúa ban cho Mẹ: “Đấng Toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại”.
Suốt cuộc đời Mẹ luôn là bài ca ngợi và cảm tạ Thiên Chúa. Còn chúng ta, khi được ai khen ngợi một chút đã vênh vang và coi đó là tài năng của mình. Chúng ta thường quên những gì chúng ta có được là hoàn toàn do lòng thương yêu Thiên Chúa dành cho mình. Chúng ta cần học nơi Mẹ lòng khiêm tốn thẳm sâu, nhất là những khi được người khác khen ngợi; để chúng ta luôn khiêm tốn ca tụng Thiên Chúa vì những ơn huệ đó.
Mẹ Maria còn giới thiệu cho chúng ta lòng thương xót Chúa dành cho mỗi người, nếu mỗi người trong chúng ta biết tỏ lòng kính tôn Thiên Chúa : “Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người”. Chúng ta tỏ lòng kính tôn Thiên Chúa qua việc chúng ta tuân giữ Lời Chúa và các giới răn cũng như các huấn lệnh Chúa truyền qua Giáo Hội.
Một tấm gương nữa chúng ta học được nơi Mẹ là Mẹ luôn quan tâm đến nhu cầu của những người chung quanh, như việc Mẹ đến thăm bà Elizabeth và còn ở lại giúp đỡ bà ba tháng nữa; Cũng như trong tiệc cưới tại Cana, Mẹ đã can thiệp kịp thời khi chủ tiệc hết rượu, mà duy chỉ mình Mẹ nhận ra, Mẹ nói với Chúa Giesu: “Họ hết rượu rồi”. Chúng ta cần học nơi Mẹ sự quan tâm đến nhu cầu của những người sống chung quanh và sẵn sàng đưa tay giúp họ với một tình yêu vô vị lợi. Xã hội ngày nay người ta chỉ phục vụ khi có lợi nhuận hay chức quyền chứ khó tìm thấy người phục vụ một cách vô vị lợi. Đối với Thiên Chúa thì không như thế :
Thiên Chúa thường thực hiện những điều đi ngược với ý nghĩ của loài người: “Chúa giơ tay biểu dương quyền lực, diệt trừ hạng kiêu căng, đề cao kẻ khiêm nhường”.
Đức Maria còn là một mẫu gương trong sinh hoạt hàng ngày. Trong đời sống vật chất, gia đình Nagiaret vẫn được coi là biểu tượng của những gia đình nghèo. Thế nhưng, trong đời sống tinh thần, tổ ấm thánh gia vẫn được coi là biểu tượng của sự kính trên nhường dưới, đối nhân xử thế, khéo léo nhẹ nhàng với tương quan lối xóm. Trong những sinh hoạt đời thường đó, hẳn Mẹ Maria phải là một mẫu mực cho chồng cho con. Mẫu mực cho chồng vì Mẹ đã cũng phải gạt đi tự ái, quên đi “sự kiện” mà thánh Giuse muốn âm thầm bỏ đi. Mẫu mực cho con vì tình mẫu tử đã giúp mẹ vượt thắng những thử thách hằng ngày để cộng tác, xây dựng và làm cho Nước Chúa mau trị đến ngay cả “trước lúc khi sinh, trong khi sinh và thậm chí ngay cả sau khi sinh Ngôi Hai Thiên Chúa”. Vượt lên trên những trắc trở đó, Mẹ đã trở nên mẫu mực của sự tin tưởng, phó thác, một mực trung thành tuyệt đối với Thánh Ý Thiên Chúa.
Đức Maria là khuôn mẫu, đồng thời là mẹ của chúng ta, trong lúc nguy khốn, chúng ta cần hướng về Ngài để van xin Ngài trợ giúp. Ngài hằng ao ước cứu giúp chúng ta miễn là chúng ta biết kêu cầu Ngài. Nếu muốn tìm một giải pháp cho năm mới thì không gì tốt hơn là chúng ta hãy quyết định dành cho Đức Mẹ Maria một vai trò to tát hơn trong cuộc đời chúng ta.
Mỗi người hãy cảm nghiệm tình yêu thương Thiên Chúa đã, đang thực hiện trong cuộc đời mình và học nơi Đức Maria tâm tình ca ngợi tạ ơn Chúa và luôn phó thác cuộc đời mình cho bàn tay Chúa quan phòng: “Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư”. Khi đã cảm nghiệm được tình thương Chúa dành cho mình, chúng ta hãy vui tươi, phấn khởi và luôn nhớ rằng chúng ta có Mẹ là mẫu gương và là Người dẫn dắt cuộc đời chúng ta.
Thánh Luca nhắc đi nhắc lại mẫu gương của Đức Maria: “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.” Mẹ là người luôn lắng nghe Lời Chúa, suy niệm Lời Chúa và đem ra thực hành. Trước khi Mẹ cưu mang Ngôi Lời trong dạ, thì Mẹ đã cưu mang Lời Chúa trong tâm hồn rồi. Mẹ là mẫu gương tuyệt hảo cho chúng ta về việc lắng nghe và sống Lời Chúa.
Nếu Đức Maria được vinh dự làm Mẹ Thiên Chúa, thì mỗi người Kitô hữu cũng được chia sẻ sự vinh dự đó. Bởi vì, như Chúa Giêsu nói: “Ai nghe Lời Chúa và đem ra thực hành là anh chị em Ta, và là Mẹ của Ta.”
Giáo Hội là mẹ, nghĩa là Giáo Hội tiếp tục sứ mạng của Đức Maria, người phải tiếp tục sinh Chúa Kitô cho người khác. Mỗi người Kitô hữu là Giáo Hội. Chúng ta được mời gọi sinh Chúa Giêsu cho người khác bằng sự hy sinh, lời cầu nguyện và đời sống chứng tá của chúng ta, đặc biệt nhờ việc dạy giáo lý, huấn luyện đức tin cho con cái và giới trẻ.
Thứ Năm Tuần IV Mùa Vọng.
(Tr) Thánh Gio-an thành Ken-ty (Kęty), Linh mục.
Lc 1, 57-66
Sinh Nhật Của Gioan Tẩy Giả
Chúng ta biết đến thánh Gioan Kenty như là một con người thánh thiện và học thức, Ngài vừa là một giáo sư đại học lừng danh, vừa là một ân nhân của người nghèo.
Có một truyền thuyết rất đẹp về lòng bác ái của thánh nhân. Một người nghèo ăn xin ở cửa phòng ăn. Mỗi người có đúng phần mình, nhưng Gioan đã lấy trọn phần mình cho người bất hạnh. Từ đó, phần của người ăn xin được dành riêng. Công thức “người nghèo đến” được đáp ứng lại bằng “Chúa Kitô đến”. Gioan Kenty còn đưa chính áo choàng của mình cho người bị lạnh lẽo.
Là bậc thầy về đức ái, Ngài cũng rất vui tươi. Một lần, được những người quí phái mời, Ngài đến với y phục rất khiêm tốn của mình và bị đầy tớ chủ nhà xua đuổi. Thay bộ đồ khiêm tốn ấy đi Ngài được mời vào tiệc. Chẳng may, một người giúp việc vụng về làm rớt đồ ăn vào đó. Ngài nói : – “Này, chính nhờ bộ áo mà tôi được ở đây, thế là nó cũng được quyền nếm nước chấm nữa”.
Tinh thần và bác ái đi đôi quá chân thật có một không hai. Ngày kia, khi đi Roma, Ngài bị bọn cướp bóc lột, Ngài nói với họ là không còn gì nữa. Nhưng sau đó Ngài thấy tiền trong áo kép. Ngài vội đuổi theo họ, thú nhận mình ăn cắp và đưa cho họ số tiền này. Lịch sử kể lại rằng, bon cướp đã hối cải ngay.
Kenty, quê hương của Gioan gần Cracovia, là nơi Ngài theo học và đạt bằng tiến sĩ triết học lẫn thần học, Ngài thụ phong linh mục. Giữ ghế tại đại học, Ngài nói tiếng Latinh và tiếng Balan.
Khi cần thiết, Ngài chỉ tranh luận trong tinh thần bác ái bao dung. Trả lời cho những nhục mạ của đối phương, Ngài chỉ biết nói: “Tạ ơn Chúa”. Để vượt qua mọi cực nhọc, thử thách, Ngài tự nhủ: “ráng lên”. Ngài thường nói với học trò của mình : – “Hãy lấy nhẫn nại, dịu dàng và tình yêu làm khí giới để chống lại những quan điểm sai lầm. Thô bạo chỉ hại cho linh hồn và làm hư chính nghĩa”.
Những ghen tương đố kỵ đã làm cho Ngài mất chức đại học và đẩy Ngài vào công việc nặng nhọc tại giáo xứ. Thời gian làm cha sở tại Gracôvia, Ngài đã tỏ ra có một đức bác ái vô bờ, nhưng đại học lại đòi Ngài phải trở về, Ngài lãnh trách nhiệm dạy kinh thánh và tôn giáo cho các công tử Balan. Ngài hành hương Giêrusalem và lắng nghe các lương dân. Khi qua đời vào tuổi rất thọ, sự thánh thiện của Ngài đã lừng khắp nơi Ngài đã đi qua. Thánh Gioan Kenty đã để lại lời kinh rất đẹp này.
“Xin hãy cho chúng con yêu Chúa trên hết mọi sự và yêu mọi người vì Chúa và làm đẹp lòng Chúa trong tâm hồn và trong hành động của chúng con”.
Nhiều người khóc thương Ngài và Ngài được kể như người làm nhiều phép lạ. Nhưng mãi tới năm 1767, Ngài mới được tuyên thánh.
Trong bài đọc của phần Phụng Vụ hôm nay, ngôn sứ Malakia đã tiên báo về một sứ giả có nhiệm vụ dọn đường cho vị Vua trên hết các vua đến thăm Ngài. Sứ giả ấy là Elia: "Này đây, Ta sai tiên tri Elia đến cùng các ngươi trước ngày trọng đại kinh khủng của Ta, người sẽ hoán cải lòng cha ông về lại với con cháu và lòng con cháu trở về cùng cha ông". Về sau Chúa Giêsu sẽ tỏ lộ cho các môn đệ Ngài biết: "Elia chính là Gioan Tẩy Giả", và trong bài Tin Mừng thánh sử Luca đã nói gì với sứ giả Gioan này?
Gio-an là một tên bình thường của người Do-thái. Tương tự như những tên Thiên Ân, Thiên Phúc của người Việt, tên Gio-an có nghĩa là ‘Thiên Chúa thi ân’ - ‘Gia vê có lòng tốt, từ bi, nhân từ, độ lượng’. Tuy nhiên, sự kiện khác thường trong việc đặt tên cho Gio-an là vì trong dòng tộc của hai ông bà không ai có tên như thế, mà theo tục lệ người ta sẽ lấy tên ông nội đặt cho đứa trẻ, nhưng vì Da-ca-ri-a đã cao niên và người ta cũng kính trọng ông nên người ta muốn lấy tên ông để đặt cho con, và điều gây ngạc nhiên ở đây là cả hai ông bà đều nhất trí “Tên cháu là Gio-an”. Tại sao? Bởi vì Gio-an chính là tên Chúa đặt cho, mà theo truyền thống Kinh Thánh thì Thiên Chúa đặt tên cho ai thì người ấy thuộc về Thiên Chúa – người được Thiên Chúa chọn.
Tên Gio-an nói lên con người và sứ mạng của ông; bởi chính bản thân Gio-an đã là một quà tặng mà Thiên Chúa ban cách chung cho nhân loại và cách riêng cho ‘đôi bạn già’ Za-ca-ria và Ê-i-sa-bét. Quả thật, Thiên Chúa đã tỏ lòng thương xót với những kẻ có lòng kính sợ người. Người biểu lộ lòng thương xót với Ê-li-sa-bét, giải thoát bà khỏi nỗi tủi nhục không con, vì theo quan niệm Do-thái, người phụ nữ không con là người vô phúc, không đẹp lòng Thiên Chúa, thì nay lòng dạ son sẻ của bà đã được Chúa chúc phúc để từ đây bà có thể ‘ngẩng mặt’ trước hàng xóm láng giềng.
Và cách đặc biệt, Gio-an là người đầu tiên (sau Đức Mẹ) được Chúa thi ân viếng thăm ban ơn cứu độ nên đã “nhảy lên vui sướng trong lòng mẹ” (Lc 1, 44). Gio-an có sứ mạng loan báo lòng thương xót Chúa thi ân cho gian trần, là đã ban chính con của người làm vị Cứu thế đến để giải thoát nhân loại khỏi xích xiềng và bóng đêm tội lỗi - Ông là vị tiền hô dọn đường cho Đấng Cứu tinh và rất xứng đáng với lời ngợi khen của Đức Giê-su: “Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, không có ai cao trọng hơn ông Gio-an” (Lc 7, 28).
Gio-an đã sống trọn vẹn và hoàn tất sứ mạng Thiên Chúa trao cho ông. Ông đóng vai trò của một ‘tiếng kêu’ để giúp nhân loại đón nhận Lời của Thiên Chúa. Ông mời gọi con người tỏ lòng sám hối, từ bỏ nếp sống tội lỗi cũ đầy những gian tham, mưu mô, gồ ghề, lươn lẹo để sống công bình, chính trực, bác ái, yêu thương (Lc 3, 4 – 14). Ông giới thiệu Đấng Mê-si-a cho con người và tự mình rút lui vào bóng tối; Ông đáp lại với những người đối chất và thắc mắc xem ông có phải là Đấng Mê-si-a hay không: “Có Đấng đến sau tôi nhưng trổi vượt hơn tôi, tôi không xứng đáng xách dép cho người” (Lc 3, 15 - 16)….
Mỗi người chúng ta đều có sứ mạng để hoàn thành trong cuộc đời. Cái tên đẹp chỉ có ý nghĩa khi người ta sống đẹp. Tên bạn là Bảo Ngọc ư? Bạn hãy sống sao cho tha nhân có thể cảm nghiệm bạn là viên ngọc quí. Bạn là Hương Lan ư? Bạn hãy sống sao để hương thơm đức độ được lan tỏa…. Ngày nay nếu theo dõi tin tức trên báo chí hay mạng truyền thông, chúng ta có thể thấy có những tội phạm hình sự có những tên rất hay, như tên giết người Thanh Bình, tên cướp Đức Độ…. Chắc hẳn khi đặt tên cho con cha mẹ không bao giờ muốn con mình trở nên những con người như thế. Tuy nhiên, mong ước vẫn là mong ước, nhưng nếu cha mẹ không quan tâm giáo dục con cái trở nên những con người tài đức mà chỉ nuông chiều quá độ, không biết dạy con sống theo lương tâm ngay chính hay thậm chí làm gương xấu cho con thì chính cha mẹ đã không hoàn thành sứ mạng của mình, đồng thời cũng không thể cho con mình một tương lai tốt đẹp được.
Chẳng khác gì người Việt Nam chúng ta, người Do Thái cũng sống tình bà con láng giềng rất thắm thiết. Nghe Elizabeth sinh hạ con trai, bà con láng giềng liền đến giúp đỡ và chia sẻ niềm vui cùng với gia đình Zacharia. Ðến ngày thứ tám, lúc làm lễ cắt bì và đặt tên cho con trẻ cũng có sự hiện diện của họ. Họ muốn lấy tên Zacharia mà đặt tên cho con trẻ chứ không phải là Gioan. Gioan hay Giokhanan tiếng Do Thái có nghĩa là "Thiên Chúa thương xót".
Vì sự chào đời của Gioan là một biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa, cách riêng cho Zacharia và Elizabeth, vì Thiên Chúa đã cất đi sự tủi nhục bấy lâu đè nặng trên người đàn bà son sẻ và cách chung cho toàn thể gia đình nhân loại. Vì hôm nay đã xuất hiện vị sứ giả để dọn đường cho vị Vua trên hết các vua đến thăm dân Ngài, một niềm vui mà đã mấy ngàn năm gia đình nhân loại ngóng chờ. Chắc chắn những người hiện diện đều biết chữ Gioan hay Giokhanan có nghĩa là "Thiên Chúa thương xót".
Tuy nhiên, họ lại không hiểu được lòng thương xót của Thiên Chúa nên đã từ chối không chịu nhận tên Gioan cho con trẻ. Họ không hiểu vì tâm trí của họ đang bị ràng buộc bởi những suy nghĩ của trần thế, quá lệ thuộc vào các tập quán cổ xưa. Vì thế, họ không còn cảm nhận được giá trị của lòng thương xót Thiên Chúa ban xuống cho con trẻ và gia đình: "Không ai trong họ hàng bà có tên này".
Con người cứ nhắm mắt đưa chân theo những vết xưa cũ ấy nên họ chẳng nhận ra được những thực tại trước mắt, không biểu lộ được ý nghĩa của công việc họ đang tham dự. Ðến chung vui vì Thiên Chúa đã xót thương, thế mà họ lại không chịu tuyên xưng lòng thương xót của Ngài.
Với Zacharia cũng thế, lý luận mang tính cách trần thế đã khiến ông không tin nhận lòng thương xót của Thiên Chúa đang được ban xuống cho gia đình ông. Vì thế mà ông đã phải lãnh nhận hình phạt là bị câm. Chỉ khi ông đã quyết định đặt tên cho con trẻ là Gioan, tức là khi ông tuyên xưng lòng thương xót của Thiên Chúa thì lúc đó ông mới được tha khỏi hình phạt, và cũng là lúc ông chúc tụng ngợi khen lòng thương xót của Thiên Chúa.
Thật thế, trong cuộc đời có lẽ không có gì làm buồn lòng con người cho bằng đi làm ơn mà chỉ được lãnh nhận thái độ lãnh đạm, thờ ơ và cũng chẳng có gì đáng trách cho bằng thái độ vô ơn. Nếu trong dân gian có những câu nói diễn tả lòng dạ ác độc như cầm thú thì về phương diện biết ơn, thú vật đôi lúc lại được xếp hạng trên con người: "Cứu vật vật trả ơn. Cứu nhân nhân trả oán".
Trong những ngày cuối cùng của Mùa Vọng để chuẩn bị mừng kính mầu nhiệm Ngôi Hai xuống thế làm người, một mầu nhiệm diễn tả lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa đối với gia đình nhân loại.
Ước mong rằng mỗi người trong chúng ta kiểm điểm lại tâm tình biết ơn của mình. Có thể chúng ta không cố tình quên ơn nhưng trong thực tế chúng ta lại sống như những người vô ơn. Tuy nhiên, như những người láng giềng của gia đình Zacharia, thì qua cách suy nghĩ trần tục, các thành kiến hẹp hòi, các thói quen ích kỷ đã vây phủ lấy chúng ta, làm cho chúng ta bị mờ tối nên chẳng nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa hằng bao bọc chúng ta cũng như tình thương của người anh em đang tặng ban cho chúng ta. Nhưng khi nhận ra lòng thương xót ấy thì chúng ta cũng như Zacharia là thốt lên lời chúc tụng và ngợi khen.
Thứ Sáu Tuần IV Mùa Vọng.
Lc 1, 67-79
VẦNG ĐÔNG ĐÃ GẦN KỀ
Chắc hẳn bài ca của Dacaria hôm nay sẽ không lạ gì đối với những ai thường xuyên đọc Kinh Phụng Vụ ban sáng. Với người vừa đọc, rất có thể lúc này họ cũng cảm nhận chút vui, chút rộn ràng trong lòng bởi chính ca từ, nhịp điệu và ý thơ của bài ca này.
Hơn thế nữa, Mẹ Giáo Hội cho ta nghe bài ca này trong buổi sáng cuối cùng trong hành trình Mùa Vọng như thể muốn thổi vào hồn ta nỗi vui đang cuộn trào bởi những dòng sóng chờ đợi trong tỉnh thức và hy vọng suốt những ngày qua; như thể muốn hối thúc ta mau mau tận dụng chút thời gian vắn vỏi còn lại để hoàn thiện, để trang hoàng lòng mình thành máng ấm cỏ êm, thành chiếc nôi ân tình cho Đấng Cứu Tinh là Vầng Đông từ trời vui đến ngự.
Để cảm nhận được tấm lòng mẫu tử và đáp ứng những chờ mong của Mẹ Giáo Hội, ta cùng dành ít phút quý giá này để cùng với Dacaria, chiêm suy công trình cứu độ mà chính Thiên Chúa đã khởi sự và thực hiện những điều Ngài đã hứa.
Mở đầu bài ca là lời chúc tụng. Tâm tình chúc tụng được thốt lên từ ông già Dacaria, một con người vừa hết hồn trải nghiệm việc Chúa làm cho bản thân và gia đình mình: vợ ông mang thai và hạ sinh con trẻ khỏe mạnh như chính những gì ông đã nhận biết trong phiên tiến hương ; bản thân ông bị câm vì đã dám dùng trí hèn mà xét đoán quyền năng Thiên Chúa mà nay được Chúa thương mở miệng, chữa lành.
Tâm tình chúc tụng này vừa là hoa trái, vừa hun đúc lòng tin mạnh mẽ khiến ông hoan hỉ cao rao nghĩa xót thương và đức tín thành của Thiên Chúa. Nếu ta có quyền hiểu bài ca tỏ lộ niềm tin của Dacaria xưa cũng là niềm xác tín của những người nghèo trong Israel, thì chắc hẳn hôm nay ta cũng mạnh mẽ cao rao rằng: Mẹ Giáo Hội mượn lại bài ca này để tuyên xưng và mời gọi tôi, bạn và các anh chị, ta hãy nhìn xem, hãy ngẫm suy cho cảm thấu hiểu sâu những gì Chúa đã làm nơi Thân Thể Mầu Nhiệm, nơi cộng đoàn giáo xứ, nơi các cộng đoàn tu trì và nơi chính bản thân ta.
Nếu như hôm qua của lịch sử cứu độ là một lịch sử huy hoàng để ta chiêm suy và kể lại, để ta tạ ơn và hoán cải. Lịch sử cứu độ cũng chính là hôm nay, một lịch sử vĩ đại, mà Chúa và Giáo Hội không ngừng mời gọi mỗi tín hữu viết lên với một nhiệt tình mới, một năng lực mới cách thức mới nhằm đáp ứng những nhu cầu và dấu chỉ của thời đại chúng ta, mà ngang qua đó, Thánh Linh Chúa luôn hiện diện và không ngừng mời gọi.
Thiên Chúa hằng vẫn ở với chúng ta trong Nhà Tạm, Ngài luôn kêu mời mỗi người chúng ta đến với Ngài, đến để tìm nguồn an ủi trong cuộc sống, đến để tim nguồn nghị lực và sức mạnh để lướt thắng mọi trở ngại ngăn lối về nhà Cha. Nhưng mấy ai đã tìm đến với Ngài hay chỉ có ngọn đèn dầu màu đỏ leo lét hẩm hiu vô tri làm bạn với Chúa hằng ngày mà thôi.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Zacharia được đầy tràn Chúa Thánh Thần, ông nói tiên tri về Chúa Kitô là Ðấng cứu rỗi sẽ đến. Không phải ai cũng có thể nói tiên tri được, chỉ những người thánh thiện, sống đẹp lòng Chúa, Chúa mới cho họ quyền nói tiên tri, làm phép lạ, nói được các thứ tiếng loài người như trong ngày lễ ngũ tuần các tông đồ chỉ giảng bằng tiếng của mình mà những người nghe đều hiểu theo tiếng bản xứ của họ.
Nhưng Thiên Chúa yêu thích hơn nếu chúng ta có tâm tình mến Chúa thực sự: "Nếu tôi được ơn nói tiên tri mà tôi không có đức mến Chúa thì cũng chẳng có ích gì. Nếu làm được nhiều phép lạ mà tôi không có lòng mến Chúa thì cũng ích gì cho tôi". Ðức tin và đức cậy sẽ mất khi con người nhắm mắt, chỉ còn lòng mến Chúa là tồn tại mãi trong Nước Trời. Cho nên Thập Giới của đạo Công Giáo chỉ tóm gọn trong đức "Mến Chúa - Yêu Người", vì thế mà đạo Công Giáo còn được gọi là đạo của "Yêu Thương".
Làm thế nào để ta có dư tràn niềm say mê mà viết lên lịch sử vĩ đại đó, nếu không phải là đi về phía Vầng Đông, đi trong Ánh Sáng bằng cách đón nhận Lời Chúa, suy niệm Lời Chúa và thực hành Lời Chúa mỗi ngày ? nếu không phải là ngang qua việc thực hành Lời Chúa, ta được trở nên những đốm sáng tuy nhỏ nhoi nhưng cũng đủ để soi bước chân ta, soi cho tha nhân, nhất là soi cho những ai đang ngồi trong bóng tối của tội lỗi, của đói nghèo, bất công và biết bao khuôn mặt khác của bóng tối.
“Vầng Đông từ chốn cao với viếng thăm dân Ngài” mà ông Da-ca-ri-a tán tụng đã xảy ra cách đây 2.000 năm và cứ mỗi độ Giáng Sinh về, chúng ta lại tưởng niệm mầu nhiệm Ngôi Hai xuống thế làm người. Bầu khí của ngày chuẩn bị mừng lễ Chúa Giáng Sinh, cùng với những bài thánh ca, tạo nên một sắc thái đặc biệt khiến lòng người rộn lên niềm vui mong chờ ngày lễ Chúa Giáng Sinh. Thế nhưng, niềm vui phát xuất từ thẳm sâu tâm hồn, làm cho tâm hồn mình như hoà quyện với bầu khí rộn rã khát mong Vầng Đông đến viếng thăm là thứ niềm vui từ trên ban cho. Niềm vui sâu xa tràn ngập tâm hồn và được bày tỏ qua hành động ấy chỉ được ban cho bạn qua tác động và phát xuất từ Chúa Thánh Thần.
Để có thể đi về với Ánh Sáng và hòa mình vào Ánh Sáng, mỗi chúng ta cần tự nhận biết mình đang đứng ở đâu so với Ánh Sáng ? đang có thái độ nào với Ánh Sáng ? Sự nhận biết này sẽ cho ta khát khao, cho ta can đảm hoán cải. Bên ngoài, ánh sáng đèn điện ngập tràn nơi các đường phố và hang đá giáng sinh, nhưng liệu ánh sáng vật chất ấy có đủ nhắc gợi ta soạn sửa lòng mình sao cho sẵn sàng để đón tiếp Ánh Sáng Thật trong Đêm Nay, Đêm Lung Linh, Đêm Huyền Diệu, Đêm Thánh.
Bài Thánh ca “Chúc tụng” Benedictus mở đầu bằng lời “Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Ít-ra-en” là một bài Thánh ca tuyệt đẹp, đầy ắp những hình ảnh Thánh Kinh và lời ngôn sứ trong Cựu Ước, được đặt vào miệng ông Da-ca-ri-a, thực sự là một lời ngôn sứ vừa đúc kết lại cả một lịch sử ơn cứu độ, vừa chuyển tiếp báo tin sự xuất hiện của “Vị Cứu Tinh quyền thế”, của “Vầng Đông tự chốn cao vời đến viếng thăm.” Bài Thánh ca làm dậy lên niềm vui và hy vọng của những ai cảm nghiệm mình có Chúa, được cứu độ, được tự do và bình an.
17/12/2018
Thứ Hai Tuần III Mùa Vọng Năm lẻ
St 49, 2. 8-10; Mt 1, 1-17
NGUỒN GỐC CỦA ĐẤNG CỨU ĐỘ TRẦN GIAN
Khi đề cập đến Con Thiên Chúa, mỗi người chúng ta không khỏi băn khoăn về niềm tin của mình đối với Ngài, bởi vì Ngài vô hình nên chúng ta không thể nhìn thấy Ngài. Cũng chính vì vô hình mà niềm tin của chúng ta mới không chắc chắn nên có những lúc chúng ta tự hỏi rằng Ngài có thật không hay chỉ là giả tạo, truyền thuyết mà thôi.
Kể từ ngày 17 đến 24 tháng 12, nghĩa là một tuần trước ngày áp lễ Giáng Sinh, Giáo Hội dành những ngày này để chuẩn bị mừng lễ Chúa Giáng Sinh gần kề. Các bài đọc trong Thánh lễ đều được chọn với mục tiêu trên, và rải đều trong các sách Tin Mừng, nhất là Tin Mừng của thánh Mathêu và thánh Luca. Bài đọc Tin Mừng hôm nay giới thiệu gia phả của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, qua đó nhằm cho thấy dấu chỉ tình yêu cứu độ của Thiên Chúa được chuẩn bị từ ngàn đời trong lịch sử ngang qua dòng tộc này.
Tin Mừng hôm nay, thánh sử Mátthêu thuật lại cho chúng ta biết rõ hơn về thân thế của Chúa Giêsu qua gia phả của chính Người, khi ngài mở đầu đoạn Tin Mừng: "đây là gia phả của Đức Giêsu Kitô, con cháu vua Đavít, con cháu ông Apraham". Vì vậy gia phả của Chúa Giêsu, chứng tỏ Con Thiên Chúa nhập thể là một người thực sự trong lịch sự dân Chúa.
Theo niềm tin của người Do Thái, Đấng Mêsia được xuất thân từ dòng tộc vua Đa Vít sẽ làm vua cai trị dân Israel. Nhưng vị Vua Giêsu còn cao trọng hơn rất nhiều lần so với vua Đa Vít, vì Ngài là Vua cả trời đất, muôn vật muôn loài do Người tạo thành mà có; cũng nhờ vào Ngài mà được tồn tại, để tất cả cùng quy hướng về Ngài.
Thiên Chúa yêu thương và quan phòng sắp đặt cho từng người chúng ta. Ngài ban đủ các ơn cần thiết để chúng ta sống xứng đáng là con cái của Ngài, để phụng sự Ngài và yêu thương anh chị em đồng loại như yêu chính bản thân mình.
Thiên Chúa muốn cứu độ con người bằng cách sai Con Một Chúa xuống thế gian, nhập thể làm người. Cách làm người của Con Thiên Chúa vừa bình thường lại vừa tuyệt đối khác thường. Bình thường vì Người được sinh ra bởi một người nữ (Gl 4, 4). Khác thường vì Người không được sinh ra bởi người nam (cha ruột), nhưng do quyền năng Chúa Thánh Thần (Mt 1, 18. 20). Mátthêu diễn tả một cách tinh tế như sau: "Giacóp sinh Giuse, chồng của bà Maria, từ bà Đức Giêsu được sinh ra, cũng gọi là Đức Kitô" (c. 16).
Có thể nói, Đức Giêsu có dược "nhập khẩu" vào dòng dõi vua Đavít hay không đều tùy thuộc vào lời đáp trả của thánh nhân. Nên Thánh Mátthêu đã làm nổi bật dung mạo vị cha nuôi của Chúa Giêsu, vừa nhấn mạnh rằng, nhờ qua thánh nhân, Con Trẻ được đưa vào trong dòng dõi vua Ðavít một cách hợp pháp, và như thế thực hiện những Lời Kinh Thánh, trong đó Ðấng Thiên Sai được các tiên tri loan báo như là "Con của Vua Ðavit". Như thế Con Thiên Chúa đã có một người mẹ để trọn vẹn là người. Ngài có cha nuôi là thánh Giuse để được thuộc về dòng Đavít với một gia phả. Có một gia đình cần thiết để sống và lớn lên.
Mỗi khi lắng nghe đoạn Tin Mừng này, có lẽ chúng ta dễ dàng cảm thấy nhàm chán, vì một chuỗi rất nhiều cái tên khác nhau, dường như chúng ta chẳng biết họ là ai. Tuy nhiên, Giáo Hội ít nhất hai lần trong năm (trong mùa vọng và trong lễ sinh nhật Đức Mẹ) cho chúng ta lắng nghe những cái tên của những con người góp phần vào trong lịch sử dân Thiên Chúa và trong mầu nhiệm cứu độ.
Những cái tên trong gia phả Đức Giêsu cho thấy mầu nhiệm của ơn gọi từng người chúng ta, cho thấy tình yêu nhưng không của Thiên Chúa dành cho con người. Abraham chọn Isaac, đứa con của lời hứa (con của vợ ông là Sara), thay vì người con trưởng Ismael (con trai của người hầu Agar). Đến lượt Isaac chúc lành cho người con thứ là Giacob, thay vì người con trưởng Esau. Giacob lại chọn Giuđa là người con thứ tư, thay vì người con cả Ruben, hay thay vì người con ông yêu thương nhất là Giuse, người đã bị các anh em bán sai Ai Cập, đã tha thứ và cứu sống cả gia đình. Tình thương của Chúa thật bao la và tình yêu của Chúa vượt trên mọi lý lẽ con người, “Không phải anh em đã chọn thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15,16).
Trong các vị vua được đề cập đến trong gia phả, thì chỉ có 2 vua Ezechia và Giosia là trung thành với Thiên Chúa. Sau thời lưu đày cũng chỉ có vị là Salatiel và Zorobabele trung thành với Thiên Chúa, còn những người khác thì không; trong những vị vua bất trung người được biết đến nhiều nhất là vua Đa-vit.
Những phụ nữ được đề cập đến trong gia phả đều là những người ngoại giáo và thuộc những trạng huống xã hội khác nhau. Bà Tamar là một người tội lỗi. Racab là một gái điếm, nhưng cô đã bảo vệ người của Thiên Chúa. Rut là một người ngoại giáo, khi người chồng qua đời thì bà vẫn sống tốt lành và trung thành với mẹ chồng. Người thứ tư tác giả Tin Mừng không ghi tên, nhưng đó là Betsabea (vợ của ông Uria), người mà vua Đavit đã ngoại tình, sau này nhà vua tỏ lòng thống hối với thánh vịnh 50.
Trong dòng lịch sử giữa tội lỗi như thế vọt lên một suối nguồn tinh tuyền là Mẹ Maria, và qua Mẹ là Đức Giêsu, ân sủng cho con người, vì “muôn ngàn đời chúa vẫn trọn tình thương”.
Lời Fiat của Mẹ Maria là không gian, mà bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể bước vào.Và Tin Mừng này đang mời gọi chúng ta bước vào : Ở đó sự khởi đầu đang xảy ra, ở đó chúng ta có thể đụng được “mầu nhiệm làm người của Thiên Chúa”, mầu nhiệm mà Tin Mừng nói với chúng ta. Ở đó chúng ta có thể đạt được mức độ hiện thực hóa thật trọn vẹn cho lời cầu xin, mà Giáo Hội vẫn thường kêu cầu trong những ngày Giáng Sinh. Đó là lời cầu xin cho chúng ta được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa, qua việc thông phần với Đức Kitô và trong Đức Kitô : “Nguyện xin Con của Chúa, Đấng đã đón nhận thân phận làm người của chúng con, ban tặng cho chúng con hồng ân được tham dự vào đời sống của Thiên Chúa”.
Ta cùng nhau khiêm tốn dâng lời cầu nguyện, xin Chúa thương thánh hóa đời sống mỗi người chúng ta, giúp chúng ta luôn biết noi gương đời sống của Mẹ Maria, Thánh Giuse và các Thánh là những Đấng đã luôn sống đẹp lòng Chúa, để chúng ta có thể sống một cuộc sống cao đẹp, biết quên mình, khiêm tốn phục vụ Chúa qua mọi người, nhất là những người đau khổ. Xin cho chúng ta luôn biết chung tay xây dựng gia đình, xã hội và thế giới, cũng như góp phần vào việc rao giảng Phúc Âm tình thương của Chúa cho mọi người chúng ta gặp gỡ hàng ngày trong cuộc sống.
18/12/2018
Thứ Ba Tuần III Mùa Vọng
Gr 23, 5-8; Mt 1, 18-24
LẶNG THẦM NHƯ GIUSE
Để có thể ở giữa loài người, Ngài đã muốn có sự cộng tác của con người. Đức Maria là người đầu tiên và gương mẫu của việc thực hiện kế hoạch Emmanuel. Đứng trước kế hoạch hoàn toàn trái ngược với hoài bão và mơ ước của mình, Người đã tự xoá bỏ mình và cúi đầu vâng phục. Thánh Giuse cũng vậy, sau khi đã được giải thích cho biết về kế hoạch thần linh, Người cũng đã sẵn lòng quên mình để cho ý định của Thiên Chúa được hoàn tất. Chính việc tự xoá mình và hoàn toàn giao phó đời mình cho Thiên Chúa đã làm cho tình yêu của các ngài sung mãn và đạt đến mức thiên giới mà không cần quan hệ giới tình.
Trong chương trình của Thiên Chúa tình thương, thánh Giuse đã được mời gọi trở nên người cha trên trần gian của Ngôi Lời Nhập Thể, (nơi ngài) được phản chiếu một cách đặc biệt tình phụ tử của Thiên Chúa. Nên khi chúng ta tôn kính thánh nhân là chúng ta ca khen chúc tụng Thiên Chúa : “Trong ngày lễ kính thánh Giuse chúng con cùng tung hô, chúc tụng và ca ngợi Cha” (Kinh Tiền Tụng Thánh Giuse). Đây là điều đẹp lòng Thiên Chúa, lời nguyện khác có đoạn “ Vào lúc bình minh của thời đại mới, Chúa đã trao cho thánh Giuse bảo vệ các Mầu Nhiệm Cứu Độ, xin cho Hội Thánh Chúa luôn luôn nhớ lời cầu bầu của thánh nhân …”.
Xét về nguồn gốc, thánh Giuse đích thực thuộc dòng dõi Đavit, hậu duệ của vua Đavit. Ðấng Cứu Thế sẽ sinh ra trong dòng dõi này để ứng nghiệm lời các tiên tri đã báo trước: "Này đây đã tới ngày Ta gây cho Đavit một mầm giống công chính, mầm giống này sẽ làm Vua thống trị, sẽ là người khôn ngoan thực hiện công lý và công bình trên đất nước". Hoặc ở một chỗ khác: "Chúa sẽ tạo lập cho Đavit một nhà. Nhà của Người và triều đại của Người sẽ vững chắc đến muôn đời. Ngôi báu của Người sẽ vững bền mãi mãi".
Giuse bị đặt trước sự kiện một con trẻ được cưu mang bởi một nữ đồng trinh. Đức Maria, vị hôn thê của ông, được chọn làm Mẹ theo ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa. Mẹ được chọn đi vào đường lối khác thường. Thái độ của Mẹ thế nào?
Thái độ của người công chính ra sao? Không phải thứ công chính giữ theo luật pháp, cũng không theo ý niệm loài người của Maria. Công chính đây theo nghĩa riêng của Kinh thánh là hợp với thánh ý Thiên Chúa. Giuse công chính vì ông kính trọng công trình của Thiên Chúa và thực thi vai trò Thiên Chúa xếp đặt cho ông. Trong khi thánh Giuse chuẩn bị cho Maria hoàn toàn tự do theo đường lối nhiệm mầu của Thiên Chúa đã se định, thì Thiên Chúa đã làm cho ông khám phá ra rằng ông cũng giữ một vai trò thiết yếu đối với xã hội là bảo lãnh cho Đức Giêsu thuộc gia hệ ông.
Thật vậy, chính nhờ ông, Đức Giêsu thuộc dòng Đavít. Ông đã làm tròn vai trò đó khi nhận Maria làm vợ, đồng thời bảo đảm cho con trẻ sắp sinh ra có cha trước luật pháp. Nhờ thế Thiên Chúa đã thực hiện kế hoạch đã định cho Đấng Cứu thế thuộc con dòng Đavít.
Tuy nhiên, hậu duệ của Đavit không phải chỉ có một mình Giuse nhưng đã có hàng trăm hàng ngàn hậu duệ ấy Giuse đã được chọn làm dưỡng tử của Con Thiên Chúa, vì Ngài quảng đại và bao dung.
Một gia đình sống đời vợ chồng ai lại chẳng mơ ước đến chuyện chung chăn gối, thế mà Giuse lại ký kết hôn ước với một người đã thề hứa suốt đời không biết đến người Nam. Và rồi người Nữ mà Ngài hết lòng yêu mến và quí trọng ấy bỗng dưng lại mang thai. Nàng là người đức hạnh đoan trang sao lại bụng mang dạ chửa cách lén lút?
Theo luật Do Thái, Giuse có thể tố cáo người Nữ ấy trước Hội Trường Do Thái để nàng bị ném đá vì tội ngoại tình. Nhưng do tấm lòng bao dung ngài đã không làm thế. Ngài chỉ muốn âm thầm rút lui, không cãi vã to tiếng. Ngài tôn trọng nàng, ngài muốn để mặc cho nàng tự phân xử.
Ðang khi định tâm như vậy thì Thiên Chúa đã ra tay can thiệp, vì ngần ấy diễn tiến cũng đủ để cho Giuse làm dưỡng tử của Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. Lời của sứ thần đã soi sáng giải đáp thắc mắc bấy lâu đang dày vò tâm hồn Giuse. Hơn thế nữa, sứ thần đã trao cho Giuse nhiệm vụ đặt tên cho con trẻ mới sinh. Với người Do Thái chỉ có người cha là người có quyền tối hậu trong việc đặt tên cho đứa trẻ, dù cho bà con thân thuộc có muốn gì đi nữa khi chưa có ý kiến của người cha thì việc đặt tên cũng không mang lại giá trị gì.
Vì yêu Maria nên Giuse không muốn làm hại bạn mình. Ngài đã chọn con đường rút lui trong âm thầm, một giải pháp thua thiệt cho bản thân vì sẽ mang tiếng là “sở khanh”. Một quyết định can đảm nói lên tình yêu và tấm lòng quảng đại của Ngài. Giuse đúng thật là người công chính. Nơi Thánh Giuse, "sự công chính nội tâm" trùng với "tình yêu". Tình yêu dâng hiến luôn hướng về người khác, sẵn sàng hy sinh để làm người mình yêu có giá trị hơn và đựơc hạnh phúc hơn. Chấp nhận chịu thiệt thòi để người yêu được thuận lợi, chấp nhận đau khổ để người mình yêu hạnh phúc. Sẵn sàng thông cảm và tha thứ cho người mình yêu khi có lầm lỗi. Giuse đã yêu Maria bằng tình yêu dâng hiến như thế.
Thánh Giuse đã đi trong đêm tối im lặng. Ngài đi trong sự im lặng của Đức Maria, người bạn yêu quý. Trước những mầu nhiệm cao cả, Đức Maria đã lặng thinh không nói. Ngài đi trong sự im lặng của Đức Giêsu. Thiên Chúa làm người vẫn là một mầu nhiệm ẩn dấu và Đức Giêsu không hề hé lộ thân phận. Ngài đi trong sự im lặng của Thiên Chúa. Thiên Chúa không bao giờ trực tiếp nói với Ngài. Chỉ có vài lần. Mà chỉ là những tiếng vọng mô hồ, giữa đêm khuya, trong giấc ngủ. Vẫn là ngôn ngữ của im lặng. Im lặng đáng sợ. Nhất là khi phải đối đầu với nguy hiểm, với nghi ngờ, với những vấn đề hệ trọng của đời sống. Im lặng khó hiểu khi những gì thân thiết nhất trong đời lại trở nên bí ẩn, cách xa. Im lặng nguy hiểm. Nó có thể đốn ngã thân cổ thụ, làm chao đảo những niềm tin vững mạnh nhất. Ngài đi trong im lặng của chính mình. Trong cả bốn Phúc Âm, không thấy ghi lại lời nói nào của thánh Giuse. Ngài bước đi trong âm thầm lặng lẽ.
Thánh Giuse đã đi trong đêm tối lãng quên. Ngài bị lãng quên trong làng quê nhỏ bé, trong thân phận nghèo hèn của bác thợ mộc. Người ta không bao giờ nhắc đến Ngài. Nếu có nhắc đến, cũng chỉ để chê bai, dè bỉu, để hạ thấp thân phận của Đức Giêsu: “Giêsu con của bác Giuse thợ mộc tầm thường ấy mà. Có làm gì nên chuyện”. Ngài bị lãng quên vì luôn luôn ở phía sau, luôn luôn chìm trong bóng tối.
Giuse là một người mở lòng đón nghe Lời Chúa trong cầu nguyện. Thiên thần giải thích cho Giuse biết "người sinh bởi Đức Maria là do Chúa Thánh Thần", theo lời ngôn sứ phán xưa: "Này đây: Trinh nữ sẽ thụ thai", và Giuse sẵn sàng tiếp nhận những ý định của Chúa, những ý định vượt quá những giới hạn của loài người.
Giuse như là một con người đích thực sống đức tin. Đức tin liên kết với sự công chính và cầu nguyện, đó là thái độ phù hợp để gặp Đấng Emmanuel. Tin có nghĩa là sống trong lịch sử mở lòng đón nhận sáng kiến của Thiên Chúa, đón nhận sức mạnh sáng tạo của lời Người.
Thánh Giuse mãi mãi là tấm gương cho anh em Gia trưởng soi. Tấm gương của một con người luôn thao thức lắng nghe tiếng Chúa và khi đã nghe thì mau mắn đáp lại không thắc mắc cho dù phải trả giá.Tấm gương của một con người luôn hướng tâm hồn về Chúa, xin vâng trước Thánh ý của Thiên Chúa, luôn phó thác để Chúa thực hiện chương trình cứu rỗi của Người.Tấm gương về người quản gia trung tín chăm sóc hai kho tàng quý giá nhất trần gian là Hài Nhi Giêsu và Mẹ Maria.
19/12/2018
Tl 13, 2-7. 24-25a; Lc 1, 5-25
TIN TƯỞNG VÀ CẦU NGUYỆN
Trong thời cổ đại cũng như trong thời Chúa Giêsu dựng vợ gả chồng mà không có con là một điều bất hạnh. Ông bà Dacaria và Elisabeth sống với nhau đã lâu, hai ông bà đã cao niên, mà không có một mụn con.
Có thể cuộc sống quá ồn ào để rồi ta không nhận ra luôn có những điều kỳ diệu làm cho chúng ta phải ngỡ ngàng. Đây là tâm trạng của ông Giacaria và bà Êlisabét. Hai ông bà là người cao niên. Qua nhiều năm, họ đã tha thiết khẩn cầu Thiên Chúa ban cho mình một mụn con. Tuy nhiên, càng mong càng mất. Vì thế, đã có lúc, ông bà thất vọng và không còn dám mơ ước một điều mà ông bà cho là viển vông.
Ông Dacaria trúng thăm vào đền thờ dâng hương, ông cầu nguyện với Chúa, hiệp với toàn dân chúng đang cầu nguyện với Thiên Chúa. Thiên Chúa đã nhậm lời ông cầu xin.
Thiên Chúa đã can thiệp vào đời tư của 2 ông bà. Ngài thực hiện chương trình cứu độ của Ngài ngay trong dòng lịch sử nhân loại, với những con người bị coi là một hình phạt, là một điều xỉ nhục. Dacaria đã bắt thăm trúng phiên dâng hương và thay than trên bàn dâng hương trong Nơi Cực Thánh.
Đây là một vinh dự hiếm có vì số tư tế quá đông. Người dâng hương sẽ thay mặt toàn dân để dâng lời cầu khẩn lên Thiên Chúa, xin Ngài ban Đấng Mêsia đến Cứu độ nhân loại.
Khi vào dâng hương, ông Dacaria gặp một sứ thần của Thiên Chúa đứng bên phải hương án (x.c.11). Đây là một cuộc thần hiện thường xảy ra trong Cựu Ước. Ông bối rối và sợ hãi (x.c.12) đó cũng là tâm lý thường tình khi con người đối diện với lãnh vực Kinh Thánh. Sứ thần đã trấn an ông “Đừng sợ...” .
Sau đó sứ thần loan báo cho ông một Tin Mừng : ông sẽ có một con trai. Niềm mong mỏi mà ông chờ bấy lâu, nay Thiên Chúa đã thực hiện. Nhưng tên con trẻ sẽ đặt theo ý của sứ thần, vì đó là một sứ mạng cao cả dành cho con trẻ. Sự sinh ra của con trẻ sẽ làm cho nhiều người vui mừng, kể cả ông bố nữa. Vì ngoài sự vui mừng trong nỗi hiếm muộn, sứ vụ của con trẻ sẽ dẫn đưa nhiều người về cùng Thiên Chúa và chuẩn bị mọi tâm hồn sẵn sàng đón Chúa. Để được như vậy, bà mẹ phải kiêng cữ rượu và các chất có men, ý nói về nếp sống hy sinh khổ hạnh của vị tiên tri của Chúa.
Nhìn vào hai người đàn bà son sẻ vợ của Giacaria và Manuel, tuổi đã già vậy mà sinh được hai người con là Gioan tẩy Giả và Samson. Theo tục lệ Á Ðông xưa của chúng ta có nói: "Nữ thập tam, nam thập lục". Nghĩa là người nữ khoảng mười ba đến bốn mươi tuổi là cơ thể bắt đầu biến đổi để có thể chuẩn bị trở thành một người mẹ. Luật Giáo Hội xác định mười sáu tuổi, mà đa số các quốc gia chấp nhận mười tám tuổi là tuổi trưởng thành cho nữ giới để có thể kết hôn. Khả năng sinh con của người đàn bà có thể kéo dài từ đó đến quãng đời từ bốn mươi lăm đến năm mươi tuổi. Qua khỏi tuổi năm mươi thì hầu như không thể thụ thai được nữa.
Lẽ dĩ nhiên phải năm mươi đến sáu mươi tuổi thì mới gọi là đã già, lại càng không thể có hy vọng sinh con cái được nữa. Hơn nữa khi nhìn vào trường hợp của Abraham, ông được mệnh danh là cha của kẻ tin. Mặc dầu Sara vợ ông đã già nhưng được thiên thần báo tin sẽ sinh một con trai trong lúc tuổi già. Abraham đã tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Ðấng mà ông tôn thờ: "Không có việc gì mà Thiên Chúa không làm được".
Và ta thấy đây là một phép lạ cả thể, đến nỗi chính bản thân ông Giacaria cũng ngỡ ngàng. Ngỡ ngàng vì không phải do ông không tin Thiên Chúa, bởi vì trong suốt lịch sử dân Israel, nhiều lúc Thiên Chúa đã can thiệp cách phi thường cho dân. Tuy vậy, vì sự chờ mong quá lâu, và hai ông bà đã về già, nên những chuyện mà hai ông bà đang cầu xin là điều khó có thể xảy ra! Nhưng Chúa có cách của Ngài.
Ta cũng nhận thấy ngày mỗi ngày có lẽ chúng ta bận rộn với nhiều công việc trong cuộc sống, đến nổi dường như chúng ta không có thời gian để cầu nguyện với Thiên Chúa, dường như không có nhiều thời gian để “hướng lòng lên Chúa” và cầu xin Chúa giúp đỡ, như hình ảnh cậu bé trên, cứ loay hoay mãi, trong khi có một sức mạnh bên cạnh luôn đỡ nâng, mà em không nhận biết.
Tuy nhiên, cầu nguyện không chỉ là xin ơn, mà bao gồm tất cả 5 hình thức khác nhau, là: thờ lạy, cầu xin, cầu bầu, cảm tạ, và ngợi khen.
Hãy cầu nguyện liên lỉ, nhiều vị thánh đã để lại gương sáng của đời sống cầu nguyện cũng như dạy chúng ta dùng những lời nguyện tắt, là những lời cầu nguyện đơn sơ xuất phát từ cõi lòng, từ những tâm tình cuộc sống.
“Cầu nguyện, đó là sự hy sinh để cho ta đầy sức mạnh; đó là những vũ khí ma quỉ không thể thắng được mà Chúa Giêsu ban cho tôi" (Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu).
Trong cuộc sống của chúng ta ngày hôm nay cũng vậy. Nhiều khi niềm tin của chúng ta bị thử thách bằng thời gian, đôi khi trong sự chờ mong của chúng ta bị đánh đổi bằng đau khổ và nước mắt. Thiên Chúa để chúng ta chờ mong như vậy, không có nghĩa Ngài là vị Thiên Chúa vô cảm, nhưng ngang qua đó, Thiên Chúa muốn biểu lộ quyền năng mạnh mẽ hơn.
Việc cưu mang và sinh hạ Gioan Tẩy Giả bởi một người mẹ vô sinh và tuổi đã cao niên là do có sự can thiệp của chính Thiên Chúa, nhằm thực thi kế hoạch của Ngài là dọn đường cho Con của Ngài đến. Con trẻ “sẽ đi trước mặt Chúa [...] và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa” (Lc 1, 17).
Ngay từ khi ta chưa hiện hữu trong lòng mẹ, Thiên Chúa đã nghĩ đến ta, và biết tên tôi. Chúa có một sứ mạng rất riêng cho ta hôm nay.
Trong đời sống hàng ngày, chúng ta gặp biết bao biến cố xảy ra trong cuộc sống xã hội, trong Giáo Hội và ngay cả trong tâm hồn mỗi người, nhưng nhiều khi chúng ta vẫn cứng lòng như Giacaria, không tin vào Tình Yêu Thiên Chúa đang bao phủ cuộc đời chúng ta và cả thế giới. Chúng ta thường đặt mình hoặc cậy dựa vào của cải, danh vọng, địa vị hơn. Và rồi ta xin củng cố lòng tin trong mỗi người chúng ta để chúng ta nhận ra uy quyền của Chúa và suy phục Chúa, để chúng ta biết tin vào Chúa, tin vào nhau và cuộc đời chúng ta sẽ tốt đẹp hơn, đặc biệt trong những ngày Vọng Thánh này.
20/12/2018
Is 7, 10-14
Lc 1, 26-38
DUNG MẠO ĐỨC MARIA TRONG MÙA VỌNG
Ta đang sống trong tuần của niềm vui, tuần của màu hồng vì Đấng Cứu Độ đã đến gần. Chúng ta vui mừng vì lời Thiên Chúa hứa sắp được thực hiện trong Đức Kitô, Đấng cứu độ trần gian.
Và trở về với khung cảnh lịch sử thời đó, ta thấy Nazareth trong những hoàn cảnh rộn rã của lịch sử dân tộc Do Thái, một dân tộc đầu tiên đã được hưởng lời hứa của Thiên Chúa. Thánh sử Luca, khi thuật lại biến cố này đã viết: "Thiên thần vào nhà Trinh nữ và chào rằng: Kính chào Đấng đầy ơn phúc” (Lc 1,28).
Ở đây chúng ta có cảm tưởng rằng, "đầy ơn phúc" đã trở thành một tên riêng thật mới, mà Thiên sứ đã tặng cho Đức Maria, để thay thế cho tên Maria, tên mà ông bà Gioakim và Anna đã đặt cho Ngài.
Và ta thấy qua Tin Mừng hôm nay, thánh Luca thuật lại việc thiên thần Gáprien truyền tin cho Đức Trinh Nữ Maria. Mở đầu lời chào Mẹ, thiên thần đã reo vang: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà".
Dung mạo của Đức Maria được Tin Mừng hôm nay tường thuật rõ nét hơn: Maria là một thiếu nữ bề ngoài bình thường như mọi thiếu nữ khác, nhưng đặc biệt hơn mọi thiếu nữ vì “đầy ơn sủng” và được “Đức Chúa ở cùng”. Maria được Thiên Chúa chọn làm mẹ Đấng Cứu Thế, Đấng là Con Thiên Chúa. Maria vẫn sẵn sàng cho Chúa dùng mình để làm công việc của Chúa.
“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).
Và rồi ngay và sau tiếng Xin Vâng này, Đức Maria được Thánh Thần ngự xuống, và Con Thiên Chúa bắt đầu tiến trình làm người ở đời.
Quả thật, loài người không xứng đáng được Chúa trao ban Con Một là quà tặng cao quý nhất, vì loài người quá tội lỗi, tầm cỡ như vua Akhaz, thuộc dòng giống Adam-Eva sau khi phạm tội, không muốn nghe tiếng Chúa, nên khi Ngài đến, họ chạy trốn ! (x St 3,8) Và Mẹ cũng không hề nghĩ đến việc xin Thiên Chúa làm cho mình trở thành Nữ Hoàng, Mẹ Thiên Chúa, để Mẹ đưa Con Đấng Tối Cao vào đời hầu cứu muôn dân.
“Ôi tình Chúa thật lạ lùng, Ngài là Đấng chạnh thương, huệ ái, bao dung, đầy nhân nghĩa, tín thành. Giữ nghĩa cho đến ngàn đời, chịu đựng lỗi lầm, quá phạm, tội khiên, nhưng không coi tội dường thể vô can” (Xh 34,6-7), để muôn đời muôn dân nước phải cất lời ca khen, bởi vì “Chúa sẽ ngự vào : Chính Người là Đức Vua vinh hiển” (Tv 24/23, 7c.10b : Đáp ca).
Khi Mẹ nhận được lời giải thích của Sứ Thần, Mẹ đã chấp nhận đi vào cuộc phưu lưu với Thiên Chúa trong niềm tin tưởng và phó thác. Quyết định này là một hành vi can đảm, bởi vì khi quyết định như vậy, Mẹ sẽ gặp phải muôn vàn khó khăn đến từ gia đình, xã hội và nhất là với Giuse, bạn trăm năm của mình. Nhưng, vì tin vào Thiên Chúa tuyệt đối, nên Mẹ đã buông theo ân sủng để Thiên Chúa rợp bóng trên cuộc đời của Mẹ.
Chúa Giêsu ngự đến trần gian là niềm vui lớn của biết bao nhiêu người đang mong chờ và niềm vui này càng đặc biệt hơn khi Đức Chúa đã chọn Mẹ làm Mẹ của Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể làm người. Vì thế chẳng có lý do gì mà Mẹ lại không mừng vui vì Mẹ được tràn đầy ân sủng của Thiên Chúa. Sau lời xin vâng, Thiên Chúa sẽ ngự xuống trong lòng của Mẹ. Nhưng niềm vui và hồng ân cao cả này đến với Mẹ quá bất ngờ nên khiến Mẹ bối rối vì Mẹ chưa hiểu được điều Chúa đã dành cho riêng Mẹ.
Do đó, thiên thần đã giải thích cho Mẹ hiểu chương trình cứu độ của Thiên Chúa sẽ được thực hiện nơi Mẹ và mời gọi Mẹ cộng tác vào chương trình thánh thiêng này. Với lòng khiêm nhường và phó thác, Mẹ đã hoàn toàn chấp nhận thánh Ý Thiên Chúa và đặt trọn cuộc đời mình trong sự quan phòng yêu thương của Ngài. Vì thế, Mẹ đã trở nên Nữ Vương và là người diễm phúc nhất trong tất cả những người phụ nữ.
Xin Vâng, một sự sẵn sàng trao hiến
Lời “xin vâng” của Mẹ Maria đạt tới mức tuyệt đối. Mẹ Maria xin vâng không điều kiện, không mặc cả. Mẹ đã trao bản thân mình thuộc về Thiên Chúa. Vì thuộc về Thiên Chúa nên Ngài có thể làm bất kì điều gì nơi chính Mẹ Maria. Mẹ Teresa Calcuta nói rằng “Nếu có gì thuộc về tôi, tôi sẽ có toàn quyền sử dụng nó như ý muốn tôi. Nhưng tôi thuộc về Chúa Giêsu, vì thế Ngài có thể làm bất cứ điều gì Ngài muốn”.
Đức Mẹ trở thành Nữ Tỳ Thiên Chúa và sẵn sàng đón nhận lời “xin vâng” với Thiên Chúa là vì Mẹ nhạy bén với ơn Chúa đã được loan báo từ trong thời Cựu Ước. Mẹ cũng khiêm tốn khi thấy điều này là kế hoạch đến từ Thiên Chúa chứ không phải do con người, nên Mẹ đã “xin vâng” để thánh ý Thiên Chúa được nên trọn.
Trong mùa vọng này, Giáo Hội cho chúng ta chiêm ngưỡng Mẹ Maria vì Mẹ là mẫu gương mà mỗi người chúng ta cần noi theo. Mẹ luôn sẵn sàng chuẩn bị tâm hồn để mong chờ Chúa đến cứu dân Người như Người đã hứa. Chính cõi lòng của Mẹ là con đường thẳng tắp luôn sẵn sàng đón Chúa đến. Đây là con đường mà Gioan Tẩy Giả đã kêu gọi mọi người hãy chuẩn bị để đón chào Đấng Thiên Sai ngự đến.
21/12/2018
Dc 2, 8-14; Xp 3, 14-18a
Lc 1, 39-45
NIỀM VUI CHIA SẺ
Ta thấy, sau khi đã đón nhận Chúa Giêsu vào lòng, Mẹ Maria đã đem Chúa đến cho người khác. Khi Chúa đến trong tâm hồn ai thì Chúa thường mở rộng tâm hồn người ấy, để họ cũng nghĩ đến những người chung quanh của mình.
Đức Maria vừa hay tin bà chị họ ở xa, đã già mà lại diễm phúc có thai được sáu tháng, Mẹ liền vội vã khăn gói, tức tốc vượt đường xa xôi thăm chị. Có lẽ lúc ấy Mẹ chẳng kịp chuẩn bị quà cáp và cũng chẳng có gì. Nhưng đây lại là “chuyến bác ái để đời” cho người Kitô hữu qua mọi thời gẫm suy (chuyện hai bà bầu gặp nhau). Hình ảnh bước chân Mẹ nhẹ nhàng, tung tăng trong niềm vui hớn hở như trong sách Diễm ca hôm nay mô tả: “Tiếng người tôi yêu văng vẳng đâu đây, kìa chàng đang tới, nhảy nhót trên đồi, tung tăng trên núi” (Dc 2,8).
Đức Maria vội vã lên đường thăm bà chị họ Êlisabét không phải do Mẹ không tin lời Sứ Thần báo bà Êlisabét đã có thai được sáu tháng, vì thế, phải lên đường để tận mắt phục kích xem điều đó có thật không!
Không phải vậy, nhưng Mẹ lên đường là để thể hiện sự vui mừng, mau mắn, sẵn sàng tín thác nơi Chúa và đem Tin Mừng ấy đến với người chị họ và cũng là người chị trong ân sủng, để cả hai cùng chung lời tạ ơn. Vì thế, khi vừa thấy Mẹ, bà Êlisabét đã cất tiếng tung hô: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc” (Lc 1,42). Cùng lúc, Gioan trong bụng đã nhảy lên vui sướng vì mình được Thiên Chúa viếng thăm.
Đức Maria đang tràn đầy niềm vui vỡ òa, tràn đầy Thánh Thần hoan lạc, lòng “hân hoan mừng hát”, Mẹ ca lên bài ca “Magnificat” mà ngợi khen tôn vinh Thiên Chúa và đường lối của Người. Lạ lùng thay! cuộc gặp gỡ gây… “chấn động” cả hai thai nhi, là bởi vì có sự Hiện Diện của Thiên Chúa trong Mẹ và lan tỏa đến cả người đối diện nữa. Tiên tri Xôphônia cũng thốt lên: “Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Xion, hò vang dậy đi nào, nhà Israel hỡi! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy nức lòng phấn khởi… Đức Vua của Israel đang ngự giữa ngươi, chính là Đức Chúa… Thiên Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi, Người là Vị cứu tinh, là Đấng anh hùng. Vì ngươi, Chúa sẽ vui mừng hoan hỷ, sẽ lấy tình thương của Người mà đổi mới ngươi. Vì ngươi, Chúa sẽ nhảy múa tưng bừng như trong ngày lễ hội.” (Xp 3,14-15.17).
Trong Tin Mừng, chúng ta thấy khi Chúa Giêsu đến với ông Giakêu thì tâm hồn ông được mở rộng để hướng về những người khác. Ông nói: "Tôi sẽ lấy một nửa gia tài của tôi mà giúp cho người nghèo, và nếu tôi đã làm thiệt hại cho ai, thì tôi sẽ đền gấp bốn".
Nghĩ đến người khác, đến với người khác, đó là dấu chỉ có Chúa trong tâm hồn. Chính vì thế mà sau khi được thụ thai Chúa Giêsu vào lòng mình và khi người chị họ của mình đang cần sự giúp đỡ, Mẹ Maria đã lên đường ngày, không chút do dự. Như thế, biết tìm đến với những người khác, nhất là con người ở trong những hoàn cảnh khó khăn, đó là dấu chỉ của một tâm hồn có Chúa.
Trong cuộc sống, nơi các mối tương quan, hẳn sự cảm thông, liên đới là điều quan trọng. Có sự cảm thông, chúng ta dễ dàng tôn trọng, hiểu biết, và đón nhận nhau hơn. Có sự liên đới, chúng ta dễ dàng chia vui, sẻ buồn với nhau để giúp nhau thăng tiến...
Cuộc sống là một cuộc cất bước ra đi. Đi đến để nâng đỡ, để đem niềm vui, để thông cảm, để sẻ chia. Nếu mỗi người ý thức điều đó thì: "Niềm vui biế sẻ chia sẽ tăng lên gấp đôi, và nỗi buồn được sẻ chia sẽ vơi đi một nữa".
Cuộc đời con người còn là một cuộc hành trình, và cuộc hành trình nào cũng có nhiều mơ ước: mơ ước được gặp gỡ, mơ ước được hạnh phúc, mơ ước được sống trong tự do, và mơ ước được xây dựng một đời sống hạnh phúc. Do đó, cuộc hành trình nào cũng chứa đựng nhiều hăm hở.
Mẹ Maria là mẫu gương sống bác ái yêu thương phục vụ, đem Chúa đến cho người khác bằng tình yêu hy sinh thật tuyệt vời! Mẹ đã dạy cho mọi người bài học bác ái yêu thương, sẻ chia tấm lòng, biết đem niềm vui, nhất là biết đem Chúa đến với mọi người mà chúng ta gặp gỡ trong cuộc sống mỗi ngày.
Không chỉ đem niềm vui, bằng tình yêu, đem Chúa đến cho gia đình Dacaria, “tưng bừng” ngay hôm đó mà thôi, Mẹ còn ở lại đó ba tháng. Không chỉ đến chia sẻ niềm vui, Mẹ biết chị họ đang cần gì và Mẹ sẵn sàng ở lại chăm sóc, phục vụ việc nhà tận tình, trong lúc bà chị mang thai những tháng cuối, lúc người phụ nữ cần giúp đỡ hơn bao giờ hết.
Hình ảnh vui tươi phục vụ và nhất là niềm vui mang Chúa đến cho mọi người nơi Mẹ gợi cho chúng ta một cung cách sống quảng đại, yêu thương và dấn thân phục vụ. Noi gương Đức Mẹ, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi ra đi mang Chúa đến cho mọi người, như lời của Đức thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: Đức Maria, trên con đường đi thăm viếng bà Êlisabét, đã trở nên ngôi nhà tạm sống động, vì Mẹ đang cưu mang trong cung lòng mình Con Thiên Chúa”.
Để có thể thực hiện được điều này, mỗi người chúng ta cần phải có Chúa trong mình, cần phải sống kết hiệp với Chúa, trở nên những ngôi nhà tạm sống động của Chúa. Đồng thời, mỗi người chúng ta cũng cần phải biết siêng năng lắng nghe và suy gẫm lời Chúa, để có thể lắng nghe và nhận ra được thánh ý Chúa trên cuộc đời mình, từ đó hăng say cất bước ra đi mang niềm vui đến cho mọi người.
Mùa vọng là mùa của hy vọng, của sự cưu mang, của sự cất bước ra đi. Chúng ta hãy để Đức Kitô lớn lên trong tâm hồn, trong suy nghĩ và hành động của chúng ta. Cùng với Đức Kitô, chúng ta hãy ra đi đến với người khác. Chúng ta hãy biến mọi cuộc gặp gỡ thành những cơ hội phục vụ, yêu thương, quên mình, tha thứ và tươi vui.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã vội vã lên đường đến giúp bà Êlisabét trong những ngày bà mang thai và chuẩn bị sinh nở. Xin giúp con mở rộng vòng tay và tấm lòng cho những người đang cần con giúp đỡ.
22 tháng 12
1 Sm 1, 24-28; Lc 1, 46-56
TÂM HỒN BIẾT NGỢI KHEN
Thời gian trôi qua nhanh quá ! Chỉ còn vài ngày nữa thôi là đến đại lễ mừng Chúa Giáng Sinh.
Quả thế ! Đó là một niềm vui mà không chỉ được gói gọn ở trong một gia đình, một giáo xứ, hay một quê hương nào đó, nhưng là trên toàn thế giới. Niềm vui Giáng Sinh về là niềm vui khi Con Thiên Chúa đến làm người và ở giữa chúng ta, là niềm vui khi được Thiên Chúa hóa thân thành xác phàm để trở nên phận người nhỏ bé như chúng ta. Và niềm vui đó đã được chính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa cảm nhận một cách chân thực nhất qua bài Magnificat mà Mẹ đã thốt lên để tôn vinh Thiên Chúa như Lời Chúa của ngày hôm nay.
Mẹ đã ca ngợi sự trung thành của Thiên Chúa trong việc giữ lời hứa ban Đấng Cứu Độ. Nếu trong Vườn Địa Đàng, con người phạm tội và Thiên Chúa hứa ban Đấng Cứu Thế đến, thì hôm nay, Đấng mà muôn dân mong đợi đã đến trong cung lòng Mẹ, Ngài sẽ cứu chuộc Israel và muôn dân....
Mẹ vui mừng hớn hở ca khen Thiên Chúa trong sự khiêm nhường, đơn sơ chân thật và biết ơn của một cô gái thôn quê: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn!”
Lời lẽ trong bài ca Ngợi khen phản ảnh một tâm hồn luôn mở rộng đón nhận ân sủng Thiên Chúa cũng như sự thánh thiện và khiêm nhường của Mẹ. Lời kinh cho ta thấy rõ tâm trạng hạnh phúc vui mừng của Mẹ, là trọn tâm tình tạ ơn và ngợi khen của Mẹ, người “có phúc” vì “đã tin”. Đức tin của Mẹ đã tóm tắt lại tất cả những gì Kinh Thánh nói cho ta biết về Thiên Chúa và Mẹ đã dệt thành Một bài ca mới, là lời kinh tuyệt mỹ. Những yếu tố như phản ứng của mẹ con bà Êlisabeth, ân sủng của Thiên Chúa và sự thánh thiện của Mẹ Maria, tất cả đều được nêu cao để giúp ta hiểu tột đỉnh của ân sủng Thiên Chúa ban cho Mẹ. Lòng trí và trái tim của Mẹ luôn hướng về Trời Cao với sức hút từ tình yêu trong lòng tin. Mẹ luôn khiêm nhường, làm theo ý Chúa và phục vụ tha nhân, cụ thể trong cuộc thăm viếng hôm nay.
Trang Tin Mừng hôm nay cho thấy người ta chỉ có thể có được những tâm tình tri ân và cảm tạ chân thành đối với Thiên Chúa cũng như với tha nhân, khi xác tín được rằng tất cả những gì mình là và mình có đều là của Thiên Chúa ban cho, trực tiếp hay qua tha nhân, như được phản ảnh, trước tiên, trong 1 Sm 1, 24-28: ở đây, cho thấy cơ sở của niềm tri ân và cảm tạ của bà Anna, người đàn bà hiếm muộn, vô sinh, tuổi đã xế chiều mà lại được sinh con, chính là xác tín rằng Samuen không phải là con “của” vợ chồng bà, mà là “của Đức Chúa ban cho” …
Kế đến, ta thấy trong Lc 1, 46-56 : ở đây, cho thấy cơ sở của niềm tri ân và cảm tạ của Đức Maria chính là xác tín rằng tất cả những gì Mẹ “có” và “là” đều là những ân sủng Thiên Chúa ban cho Mẹ, đặc biệt, Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, do Mẹ cưu mang và sinh ra…
Niềm vui Giáng Sinh về là niềm vui khi Con Thiên Chúa đến ở giữa chúng ta. Ngài đã đến để mang lấy thân phận con người, và hơn hết, Ngài cũng vui khi được mang lấy phận người để yêu thương, để chia sẻ và để cảm thông với kiếp người. Thiên Chúa đã yêu thương con người, một tình yêu vượt biên giới, một tình yêu không khoảng cách đã làm cho con người mang lấy một phẩm giá mới, phẩm giá của con cái Thiên Chúa.
Lời ngợi khen mà Mẹ Maria cất lên là lời ngợi khen của niềm vui khi Mẹ có Chúa ở cùng, không chỉ là một sự hiện diện thể lý trong cung lòng của Mẹ, nhưng còn trong chính sâu thẳm tâm hồn của Mẹ. Sự hiện diện đó làm cho Mẹ hoan hỷ và chan chứa niềm bình an, hạnh phúc.
Thế nhưng rồi sau khi cảm nhận được sự yêu thương của Thiên Chúa, Mẹ cũng nhìn thấy được chính phận người của mình, và dâng lên Thiên Chúa lời tạ ơn vì tình yêu thương bao la mà Thiên Chúa dành cho Mẹ. Mẹ không khoe khoang kiêu kỳ vì sự yêu thương đó, nhưng Mẹ đón nhận trong sự khiêm nhường, sự khiêm nhường khi đứng trước tình yêu của Thiên Chúa: “Phận nữ tỳ hèn mọn”. Quả thực, khi có Thiên Chúa ở cùng thì không có gì quý giá hơn, cao trọng hơn. Nhưng cũng từ đó để con người biết nhìn thấy sự nhỏ bé thấp hèn của mình trước tình yêu cao vời của Thiên Chúa mà biết sống tâm tình tạ ơn và khiêm nhường sâu thẳm.
Không chỉ thế, niềm vui khi có Thiên Chúa ở cùng là niềm vui hoan ca để trao ban và chia sẻ cho người khác. Chính Mẹ Maria đã sống niềm vui đó và cũng đã cất lời ngợi khen Thiên Chúa để cho mọi người của muôn thế hệ biết ca khen Thiên Chúa. Thiên Chúa ở cùng Mẹ và Mẹ cũng muốn Thiên Chúa ở cùng tất cả mọi người. Niềm vui cần được chia sẻ, niềm vui cần được đến với người khác, có như thế thì niềm vui mới lan tỏa nơi sức sống của mọi người. Đón Chúa đến trong mùa Giáng Sinh là đón niềm vui nơi gia đình và xứ đạo của mình, nhưng đồng thời cũng biết đem niềm vui đó đến cho mọi người qua những cử chỉ, những lời nói và những hành động trao ban. Có như thế thì Hài Nhi Giêsu mới có thể mỉm cười và ấp áp trong đêm mà Ngài đến với con người.
Bài Magnificat là bài ca tụng những kỳ công lạ lùng của Thiên Chúa đã làm để cứu chuộc nhân loại. Những sự lạ lùng của thời Cựu Ước như việc tạo dựng vũ trụ (St 5, 9), phép lạ Xuất hành (Xh 3, 24), việc ban hành lề luật. Đó là những kỳ công Chúa đã làm vv...(Tv 119,18), nhưng ở nơi Đức Maria, Thiên Chúa còn làm những điều cao cả hơn nữa: Người đã cho Đấng Cứu Thế sinh ra làm người.
Mẹ Maria đã thốt lên: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới”, với phận người yếu đuối mỏng dòn và tội lỗi, nhưng Thiên Chúa đã đoái thương đến sự “nhỏ bé” để rồi Ngài nâng lên làm con cái của Ngài. Đó chẳng phải là một ân ban, một niềm vui khi có Thiên Chúa ở cùng hay sao. Chỉ khi có Thiên Chúa ở cùng, thì tâm hồn và cuộc đời mới có được niềm vui và ý nghĩa sống đích thực. Chúng ta có thể có những hang đá lộng lẫy, có sự trang hoàng rực rỡ màu sắc, nhưng nếu chúng ta không có Chúa đến và ở trong tâm hồn mình, trong cộng đoàn mình thì tất cả những thứ đó đều vô nghĩa.
Cất cao lời tạ ơn Chúa còn giúp cho chúng ta nhận ra mình yếu đuối và đang được Thiên Chúa thương yêu. Đồng thời cũng bày tỏ lòng sám hối, biết ơn với Thiên Chúa là nguồn mạch mọi ơn lành.
Ta cần phải biết nhạy cảm để khám phá ra những kỳ công lạ lùng của Thiên Chúa nơi vũ trụ vạn vật, nơi xã hội và con người, nơi Hội Thánh, nơi những Kitô hữu, nơi chính bản thân mình để ca tụng quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.
Chúa Nhật Mùa Vọng IV Năm C
TIN ĐỂ ĐÁP LỜI XIN VÂNG NHƯ MẸ
Mk 5, 2-5a; Dt 10, 5-10; Lc 1, 39-45
By Huệ Minh
Với ai thì không biết, nhưng với cái anh chàng trong bài hát "Điệu lý qua cầu thì như thấ này :
Bằng lòng đi em về với quê anh
Một cù lao xanh một dòng sông xanh
Môt vườn cây xanh hoa trái đơm hương
Thuyền ai qua sông dòng hò mênh mông.
Bằng lòng đi em anh đón qua cầu
Mùa mưa cầu tre dẩu khó đưa dâu
Bằng lòng theo anh dưới mái tranh nghèo
Về đây người quê chỉ có tấm lòng
Có chiếc xuồng ba lá để yêu em
Ôi đóa hoa tím trôi líu riu
Dòng sông nước chảy líu riu
Anh thấy em nhỏ xíu, nhỏ xíu nên anh thương ơ...ơ...
Ôi những đêm ngăm sông nhớ em buồn muốn khóc
Mình anh ca điệu lý qua cầu.
Ôi đoá hoa .....anh thương ơ...ơ...
Ôi những đêm ngắm sông nhớ em buồn muốn khóc
Mình anh ca điệu lý qua cầu.
Tình yêu của cái anh chàng này cũng như cái nhìn của người yêu anh chàng này có cái gì đó khang khác. Khác không chỉ ở thời của anh nhưng đặc biệt khác ở thời nay.
Người ta đi yêu ai đó thì người ta muốn giàu và có cái giàu nhưng với anh thì anh chỉ có mái tranh nghèo với tình yêu bằng cả tâm lòng. Và, người yêu của anh chỉ nhỏ xíu bên cạnh cái dòng sông nước chảy liu riu thôi.
Cái nhìn của anh, quan niệm của anh khác nhiều người.
Thiên Chúa cũng vậy, cái nhìn, quan niệm của Thiên Chúa hay nói đúng hơn là tư tưởng của Thiên Chúa khác tư tưởng của loài người.
"Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi và đường lối của Ta cũng không phải là đường lối của các ngươi”(Is 55,8). Đúng vậy, có bao giờ chúng ta ngạc nhiên và sửng sốt bởi cách hàng động của Chúa không ? Những hành động đó không đúng với tính toán và dự liệu của chúng ta, và có khi đi ngược lại các dự tính của chúng ta.
Trang sách Mika vừa bộc bạch cho ta : "Hỡi Bêlem Ephrata, ngươi nhỏ nhất trong trăm ngàn phần đất Giuđa, nhưng nơi ngươi sẽ xuất hiện một Đấng thống trị Israel, và nguồn gốc Người có từ nguyên thuỷ, từ muôn đời. Vì thế, Người sẽ bỏ dân Người cho đến khi một người nữ phải sinh, sẽ sinh con. Số còn lại trong anh em Người, sẽ trở về với con cái Israel. Người sẽ đứng vững và chăn dắt trong sức mạnh của Chúa, trong thánh danh cao cả của Chúa là Thiên Chúa của Người. Và họ sẽ trở về, vì bấy giờ Người sẽ nên cao trọng cho đến tận cùng trái đất. Vì vậy, Người sẽ là chính sự bình an".
Thật vậy, trải qua dòng lịch sử, Ngài đã thực hiện đúng như thế.
Đọc lại Cựu Ước chúng ta thấy, Đavít chỉ là một trẻ nhỏ đi chăn chiên tại Bêlem, thế nhưng Chúa đã chọn và đặt Đavít lên làm vua, chiến thắng được đạo quân hùng mạnh của Goliat và dẫn đưa dân Do Thái tới một thời đại hoàng kim.
Trường hợp của tiên tri Giêrêmia cũng vậy. Lúc bấy giờ ông mới chỉ là một em nhỏ còn nói cà lăm, thế nhưng Chúa đã chọn ông làm tiên tri để chuyển đạt thánh ý của Ngài cho toàn dân Do Thái.
Thế nhưng Thiên Chúa đã chọn những người bất hạnh và yếu kém như thế để làm những việc trọng đại.
Thiên Chúa đã hành động như vậy.
Trước mặt người đời thì Đức Maria và bà Isave là hai người không có hy vọng sinh con. Đức Maria thì khấn giữ mình đồng trinh. Còn bà Isave thì vừa son sẻ, lại vừa cao niên.
Quan niệm dân Do Thái cũng giống như quan niệm của người Việt Nam ngày xưa, coi sự kiện đông con nhiều cháu là một phúc lành do trời trao ban vì thế trong những dịp đầu xuân năm mới, chúng ta thường cầu chúc cho nhau: đa tử đa tôn đa phú quý, đông con nhiều cháu và giàu sang. Bởi đó son sẻ và đồng trinh sẽ bị người đời cười chê, vì phải chăng đó là dấu bị Chúa chúc dữ? Phải chăng đó là dấu chỉ tương đường với sự chết bởi vì nếu chết là hết sống, thì son sẻ và đồng trinh là hết chuyển thông dòng sự sống.
Thế nhưng Thiên Chúa đã chọn những người bất hạnh và yếu kém như thế để làm những việc trọng đại. Đức Maria thì được chọn làm Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đấng Cứu Thế. Còn bà Elisabeth thì được chọn làm mẹ Gioan, vị tiền hô dọn đường và giới thiệu Đấng Cứu Thế cho muôn người.
Đức Maria, đã dám tin vào lời Chúa hứa nên Mẹ đã được tràn đầy ân phúc. Bà Êlisabét nói: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”.
Tin là để cho Chúa thay đổi hướng đi của cuộc đời mình.
Tin là để cho chương trình cứu độ của Chúa đảo lộn chương trình sống của chúng ta.
Tin là chấp nhận lên đường, làm một cuộc hành trình mạo hiểm với Chúa.
Trước khi thưa lời: “Xin Vâng”, Đức Maria đã có chương trình riêng của Mẹ, và qua lời “Xin Vâng”, Mẹ đã chấp nhận hoàn toàn để cho Chúa thay đổi hướng đi cuộc đời mình, để cho Chúa đảo lộn chương trình sống, và cùng Chúa bước vào một cuộc mạo hiểm với trọn niềm tin yêu phó thác.
Đức Maria được chúc phúc, bởi vì không những Mẹ đã tin, mà còn hành động theo lòng tin của mình nữa.
Mẹ Maria chỉ im lặng sống cuộc đời bé nhỏ thầm lặng ẩn dật, cưu mang Giêsu, hoa trái cứu độ rồi dâng hiến Ngài cho chúng ta. Ánh sáng không cần lời nói, sự sống hơi thở của con tim chính là sứ điệp. Khi lòng càng trống rỗng bao nhiêu thì con người càng gây nhiều tiếng động tình yêu. Kitô hữu là người cưu mang Chúa Kitô trong tâm lòng nhưng có thể mang Chúa Kitô phong phú và hữu hiệu như Mẹ Maria, khi ta biết sống khiêm tốn bé nhỏ và yêu thích con đường kiểu sống bé nhỏ của Thiên Chúa như một tôi tớ khiêm hạ.
Phần chúng ta, đứng trước Lời của Thiên Chúa, ta khiêm tốn và tin như Mẹ để đón Lời của Chúa vào trong đời của ta hay không ? Câu trả lời, Thiên Chúa để dành cho mỗi người chúng ta.

Huệ Minh
January 11, 2022