BUỔI TIẾP KIẾN CHUNG THỨ TƯ HÀNG TUẦN

của Đức Thánh Cha Phanxicô

 

ĐTC Phanxicô: Người già chỉ cho chúng ta thấy sự dịu dàng của Thiên Chúa

8 tháng 6 năm 2022

Trong buổi Tiếp kiến Chung hàng tuần vào sáng Thứ Tư ngày 8 tháng 6 năm 2022, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng sứ mạng thiêng liêng và văn hóa của tuổi già là xua tan “ảo tưởng kỹ thuật về sự sống còn của người máy và sinh học”, và dẫn đến “sự dịu dàng của cung lòng sáng tạo và tạo thành của Thiên Chúa”. Ngài xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta nhận ra sứ mạng của người già để chúng ta không theo văn hoá vứt bỏ, loại trừ người già vì họ không còn có ích.

Hồng Thủy - Vatican News

Tiếp tục loạt bài giáo lý về giá trị của người già và tuổi già dưới ánh sáng Lời Chúa, Đức Thánh Cha suy tư về nhân vật Nicôđêmô trong Kinh Thánh, và nói rằng người cao tuổi là sứ giả của sự dịu dàng, khôn ngoan và tình yêu thương.

Giải thích lời Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô, “Không ai có thể nhìn thấy Nước Thiên Chúa nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên” (Ga 3,3), Đức Thánh Cha nói rằng sự tái sinh thiêng liêng này không phủ nhận hay làm giảm giá trị của sự sống của chúng ta trên trái đất, nhưng hướng nó tới sự viên mãn cuối cùng trong cuộc sống vĩnh cửu và niềm vui trên thiên đàng.

Đức Thánh Cha lưu ý rằng thời đại của chúng ta, với việc điên cuồng theo đuổi huyền thoại về tuổi trẻ vĩnh cửu, cần phải học lại sự thật này và xem mọi lứa tuổi của cuộc sống là sự chuẩn bị cho hạnh phúc vĩnh cửu mà chúng ta đã được tạo ra. Chúa Giê-su nói với ông Nicôđêmô: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (câu 16). Những người cao tuổi, thông qua đức tin, sự khôn ngoan và kinh nghiệm của mình, có thể làm chứng thuyết phục về sự hiện diện của Nước Thiên Chúa ở giữa chúng ta và ý nghĩa đích thực của cuộc sống của chúng ta trên trần thế như một cảm nếm trước về “tuổi trẻ vĩnh cửu” đích thực đang chờ đợi chúng ta trong cuộc sáng tạo mới được khai mạc bởi Chúa Kitô và Thánh Thần của Người.

Đức Thánh Cha cũng nhấn mạnh rằng sứ mạng thiêng liêng và văn hóa của tuổi già là xua tan “ảo tưởng kỹ thuật về sự sống còn của người máy và sinh học”, và mở ra “sự dịu dàng của cung lòng sáng tạo và tạo thành của Thiên Chúa”. Ngài xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta nhận ra sứ mạng của người già để chúng ta không theo văn hoá vứt bỏ, loại trừ người già vì họ không còn có ích.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha

 Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong số những nhân vật cao tuổi nổi bật nhất trong các Tin Mừng có ông Nicôđêmô - một trong những nhà lãnh đạo Do Thái, người vì muốn biết Chúa Giêsu nên đã đến gặp Người vào ban đêm, mặc dù cách bí mật (x. Ga 3,1-21). Trong cuộc trò chuyện giữa Chúa Giêsu và ông Nicôđêmô, cốt lõi điều mặc khải của Chúa Giêsu và sứ mạng cứu chuộc của Chúa được nêu rõ khi Người nói: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (câu 16).

Sinh lại bởi ơn trên là sự sinh ra trong Thánh Linh

Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô rằng để “nhìn thấy Nước Thiên Chúa”, người ta cần “được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên” (xem câu 3). Điều này không có nghĩa là bắt đầu lại từ khi sinh ra, lặp lại việc chúng ta đến với thế giới với hy vọng rằng một sự tái sinh mới sẽ mở ra cơ hội có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Việc lặp lại này không có ý nghĩa. Nói đúng hơn, nó sẽ làm mất đi tất cả ý nghĩa của cuộc sống mà chúng ta đã sống, xóa sạch nó như thể đó là một thử nghiệm thất bại, một giá trị đã hết thời, một khoảng trống lãng phí. Không, điều này không phải là như thế. Việc sinh ra một lần nữa này, điều Chúa Giêsu nói, là một điều khác. Cuộc sống này thật quý giá trong mắt Thiên Chúa - nó xác định chúng ta là những thụ tạo được Thiên Chúa yêu thương cách dịu hiền. Việc “sinh ra bởi ơn trên”, điều cho phép chúng ta “đi vào” Nước Thiên Chúa, là một sự sinh ra trong Thánh Linh, một cuộc đi qua dòng nước hướng về miền đất hứa của một thụ tạo được hòa giải với tình yêu của Thiên Chúa. Đây là một sự sinh lại bởi ơn trên, với ân sủng của Thiên Chúa. Nó không phải sự tái sinh về thể xác.

Ông Nicôđêmô hiểu sai việc sinh ra này và đặt nghi vấn bằng cách dùng tuổi già làm bằng chứng cho sự bất khả thi của nó: con người chắc chắn sẽ già đi, giấc mơ trẻ mãi không già là điều mãi mãi xa vời, hao mòn là số phận của mọi sự chào đời trong thời gian. Làm sao người ta có thể tưởng tượng được một đích đến mang hình thức của sự sinh ra? Và ông Nicôđêmô nghĩ như thế và không thể hiểu lời của Chúa Giêsu. Việc sinh ra lần nữa này có nghĩa là gì?

Tuổi già - thời gian thích hợp để hiểu về việc sinh lại trong Thánh Linh

Sự phản đối của ông Nicôđêmô rất hữu ích cho chúng ta. Trên thực tế, theo lời của Chúa Giêsu, chúng ta có thể đảo ngược nó với việc khám phá ra một sứ mạng phù hợp với tuổi già. Thật vậy, tuổi già không những không phải là một trở ngại đối với việc sinh ra lại bởi ơn trên như Chúa Giêsu nói đến, mà còn trở thành thời gian thích hợp để soi sáng cho việc sinh ra này, khiến nó không bị đánh đồng với niềm hy vọng bị mất.

Huyền thoại về tuổi trẻ vĩnh cửu 

Thời đại của chúng ta và nền văn hóa của chúng ta, vốn thể hiện xu hướng đáng lo ngại khi coi việc chào đời của một đứa trẻ là vấn đề đơn giản của quá trình sản sinh và tái sản xuất sinh học của con người, nuôi dưỡng huyền thoại về tuổi trẻ vĩnh cửu như nỗi ám ảnh - tuyệt vọng - về một thân xác không bị hư hoại. Bởi vì tuổi già - theo nhiều cách - bị xem thường. Nhưng tại sao tuổi già không được đánh giá cao? Bởi vì nó mang bằng chứng không thể chối cãi về việc bác bỏ huyền thoại này, một huyền thoại khiến chúng ta luôn muốn trở lại trong lòng mẹ để trở lại với một thân xác trẻ trung.

Công nghệ kỹ thuật bị thu hút bởi huyền thoại này theo mọi cách. Trong khi chờ đợi đánh bại thần chết, chúng ta có thể giữ cho cơ thể sống bằng thuốc và mỹ phẩm, những thứ có tác dụng làm chậm, che dấu, xóa đi tuổi già. Đương nhiên, một đàng là hạnh phúc, đàng khác là việc nuôi dưỡng huyền thoại. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng sự nhầm lẫn giữa hai khía cạnh đang tạo ra một sự hoang mang tinh thần nào đó trong chúng ta.

Nhầm lẫn hạnh phúc và điều khác là đang nuôi dưỡng huyền thoại về tuổi trẻ vĩnh cửu, và người ta làm rất nhiều điều để có lại được tuổi trẻ này. Nhưng rất nhiều thủ thuật, nhiều cuộc phẫu thuật để trông trẻ ra. Tôi nhớ lại lời của một nữ diễn viên người Ý, Magnani, khi họ nói với cô ấy rằng họ phải xóa nếp nhăn cho cô ấy, và cô ấy nói: “Không, đừng chạm vào chúng! Tôi đã có rất nhiều năm để có chúng: đừng chạm vào chúng!” Các nếp nhăn là biểu tượng của kinh nghiệm, một biểu tượng của cuộc sống, biểu tượng của sự trưởng thành, biểu tượng của việc đã trải qua một chặng đường. Đừng xử lý chúng để trở nên trẻ ra, mà chỉ trẻ về gương mặt: điều quan trọng là toàn bộ tính cách, là con tim, và trái tim vẫn còn nguyên sự trẻ trung của rượu ngon, rượu càng lâu ngày càng ngon.

Cuộc sống trần thế là một thực tại đẹp đẽ nhưng “chưa hoàn thành”

Cuộc sống trong xác phàm của chúng ta là một thực tại đẹp đẽ “chưa hoàn thành”, giống như một số tác phẩm nghệ thuật có sức hấp dẫn độc đáo chính xác do tính chưa hoàn thiện của chúng. Bởi vì cuộc sống ở thế gian này là một “sự khởi đầu”, không phải là sự hoàn thành. Chúng ta bước vào thế giới như thế, giống như những con người thật, như những con người luôn luôn già đi, nhưng luôn luôn thật. Nhưng sự sống trong xác phàm của chúng ta là một không gian và thời gian quá nhỏ để có thể giữ cho phần quý giá nhất của sự hiện hữu của chúng ta nguyên vẹn và hoàn thiện trong thời gian của thế giới. Chúa Giêsu nói rằng đức tin, điều đón nhận lời loan báo Tin Mừng về vương quốc của Thiên Chúa được định sẵn cho chúng ta, chứa đựng một hiệu quả chính yếu đặc biệt. Nó cho phép chúng ta “nhìn thấy” vương quốc của Thiên Chúa. Chúng ta trở nên có khả năng thực sự nhìn thấy nhiều dấu hiệu của sự gần đến của hy vọng của chúng ta về sự hoàn thành điều mà trong cuộc sống của chúng ta, mang dấu hiệu hướng đến sự vĩnh cửu trong Thiên Chúa.

Các dấu chỉ là những dấu hiệu của tình yêu theo Phúc Âm, được Chúa Giêsu soi sáng bằng nhiều cách. Và nếu chúng ta có thể “nhìn thấy” chúng, chúng ta cũng có thể “đi vào” vương quốc, bằng hoạt động của Chúa Thánh Thần nhờ nước tái sinh.

Tuổi già tiến bước, tiến về đích của nó

Tuổi già là thời gian, được ban tặng cho nhiều người trong chúng ta, trong đó điều kỳ diệu của việc sinh bởi ơn trên này có thể được đồng hóa một cách mật thiết và trở nên đáng tin cậy đối với cộng đồng nhân loại. Nó không nói lên nỗi nhớ về việc sinh ra trong thời gian, mà là tình yêu dành cho đích điểm cuối cùng của chúng ta. Theo quan điểm này, tuổi già có một vẻ đẹp độc đáo: chúng ta đang hành trình hướng tới Đấng Vĩnh cửu. Không ai có thể trở vào lại trong dạ mẹ của mình, ngay cả bằng cách sử dụng các yếu tố công nghệ và tiêu dùng thay thế. Việc này không mang lại sự khôn ngoan, nó là nhân tạo. Điều đó thật đáng buồn, ngay cả khi nó có thể xảy ra. Tuổi già tiến bước, tiến về đích của nó, hướng tới thiên đàng của Thiên Chúa. Tuổi già bước đi với sự khôn ngoan được trải nghiệm trong cuộc sống. Do đó, tuổi già là thời gian đặc biệt để tách tương lai khỏi ảo tưởng của kỹ thuật về một sự sống còn của người máy và sinh học, đặc biệt là vì nó đưa chúng ta đến với sự dịu dàng của cung lòng sáng tạo và tạo thành của Thiên Chúa.

Sự dịu dàng của người già - sự dịu dàng của Thiên Chúa

Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh từ này: sự dịu dàng của người già. Hãy nhìn một người ông hoặc một người bà nhìn những đứa cháu, cách họ vuốt ve chúng: sự dịu dàng đó, không bị ảnh hưởng bởi mọi thử thách của con người, đã vượt qua thử thách của con người và có khả năng tự do trao gửi tình yêu thương, sự gần gũi yêu thương của người này cho người kia. Và nó mở ra cánh cửa để hiểu được sự dịu dàng của Chúa. Chúng ta đừng quên rằng Thánh Thần của Thiên Chúa là sự gần gũi, cảm thông và dịu dàng. Thiên Chúa là thế, Người biết vuốt ve. Và tuổi già giúp chúng ta hiểu được chiều kích này của Thiên Chúa nhân từ. Tôi đã nói, tuổi già là thời điểm đặc biệt để giải thoát tương lai khỏi ảo tưởng kỹ thuật; là thời gian của sự dịu dàng của Thiên Chúa, Đấng tạo dựng, tạo ra một con đường cho tất cả chúng ta.

Đón nhận sứ mạng thiêng liêng - và văn hóa - của tuổi già

Xin Chúa Thánh Thần giúp cho chúng ta tái mở lòng với sứ mạng thiêng liêng - và văn hóa - của tuổi già, điều hòa giải chúng ta với việc sinh ra bởi ơn trên. Khi chúng ta nghĩ về tuổi già như thế này, chúng ta nói: tại sao nền văn hóa vứt bỏ này lại quyết định loại bỏ những người già, có phải bởi vì họ không hữu ích? Những người già là các sứ giả của tương lai, các sứ giả của sự dịu dàng, các sứ giả của sự khôn ngoan của một cuộc đời đã được trải nghiệm. Chúng ta hãy tiến bước và nhìn vào những người già. Cảm ơn anh chị em.

vaticannews.va.vi

 

Tiếp kiến chung (25/5): Đêm tối không chắc chắn về ý nghĩa cuộc sống

Sáng thứ Tư, 25/5/2022, Đức Thánh Cha đã có buổi tiếp kiến chung thường lệ tại quảng trường Thánh Phêrô với các tín hữu. Đức Thánh Cha nhận xét: "với tất cả sự tiến bộ của mình, tất cả sự sung túc của mình, chúng ta đã thực sự trở nên một 'xã hội mệt mỏi'”. Ngài mời gọi chúng ta hãy suy nghĩ đôi chút về điều này: “chúng ta trở nên một xã hội mệt mỏi”.

Trích Sách Thánh trước bài giáo lý của Đức Thánh Cha từ sách Giảng Viên.
Tôi đâm ra chán ghét cuộc đời, vì đối với tôi, dưới ánh mặt trời, mọi việc làm ra đều xấu cả: quả thế, tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát. Tôi đã chán ghét mọi gian lao vất vả tôi phải chịu dưới ánh mặt trời, những gì tôi để lại cho người đến sau tôi. Lời kết luận cho tất cả mọi điều bạn đã nghe ở trên đây là: hãy kính sợ Thiên Chúa và tuân giữ các mệnh lệnh Người truyền, đó là tất cả đạo làm người, vì Thiên Chúa sẽ đưa ra xét xử tất cả mọi hành vi, kể cả những điều tiềm ẩn, tốt cũng như xấu. (Gv 2,17-18; 12,13-14)

Bài giáo lý thứ 11 của Đức Thánh Cha

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Trong phần tiếp tục suy tư về tuổi già, hôm nay chúng ta gặp thấy Sách Giảng Viên, một viên ngọc khác được đặt trong Kinh Thánh. Ngay khởi đầu của cuốn sách, chúng ta bị đánh động và bối rối bởi điệp khúc nổi tiếng: “Phù vân, quả là phù vân”, tất cả chỉ là phù vân: một vòng lặp đến rồi đi; tất cả chỉ là phù vân, tất cả chỉ là “sương”, “khói”, là “trống rỗng”. Thật ngạc nhiên khi chúng ta đọc thấy trong Sách Thánh những cách diễn đạt này, vốn đặt nghi vấn về ý nghĩa của sự tồn tại. Trên thực tế, sự đung đưa nối tiếp nhau giữa có nghĩa và vô nghĩa của ông Cô-he-lét là cách diễn tả chế giễu về một cái biết tách khỏi sự say mê công lý, nơi đó chính Thiên Chúa là Đấng xét xử. Và phần kết của Cuốn sách chỉ ra con đường để thoát khỏi thử thách này: “hãy kính sợ Thiên Chúa và tuân giữ các mệnh lệnh Người truyền, đó là tất cả đạo làm người” (12,13).

Đối diện với một thực tế mà, vào những thời điểm nhất định, dường như tất cả những người đối lập đều ở chung một nơi, đều có chung một số phận, đến kết cục là hư vô, chúng ta dễ có nguy cơ chọn sự thơ ơ như là phương thuốc duy nhất cho sự vỡ mộng của mình. Khi đó, nơi chúng ta có những câu hỏi nổi lên: Những nỗ lực của chúng ta đã làm thay đổi được gì thế giới? Có ai có khả năng đưa ra khẳng định sự khác biệt giữa đúng và sai không? Dường như tất cả những điều này là vô ích: tại sao lại phải cố gắng quá nhiều?

Đó là một loại trực giác tiêu cực có thể nảy sinh trong bất kỳ thời điểm nào của cuộc đời, nhưng chắc chắn rằng tuổi già sẽ gần như không thể tránh khỏi giây phút gặp thấy sự tỉnh ngộ này. Trong tuổi già, sự tỉnh ngộ sẽ đến. Và do đó sự kiên vững của tuổi già trước những tác động tiêu cực bởi sự thất vọng này sẽ có ý nghĩa quyết định: nếu những người già, nay đã nhìn thấy mọi thứ, giữ được nguyên vẹn niềm đam mê sự công chính, thì họ sẽ có được niềm hy vọng về tình yêu, và cả niềm tin. Và đối với thế giới đương đại, việc vượt qua cuộc khủng hoảng này, một cuộc khủng hoảng lành mạnh, đã trở nên hết sức quan trọng, vì sao? Bởi vì một nền văn hóa cân đo mọi thứ và lều lái mọi thứ sẽ đến hồi kết với một sự sụp đổ về ý nghĩa, về tình yêu và về điều thiện.

Sự thoái lòng này làm chúng ta mất đi ước muốn dấn thân. Một “sự thật” phỏng chừng như thế, vốn chỉ gắn mình ở thế giới này, cũng sẽ thờ ơ với những người đối lập và bỏ mặt họ, chẳng cứu vớt, để chạy theo dòng chảy thời gian và kết cục với sự hư vô. Trong hình thức này - được che đậy bằng tính khoa học, nhưng cũng rất vô cảm và vô đạo đức, việc tìm kiếm chân lý thời hiện đại bị cám dỗ xa rời niềm say mê công lý. Nó không còn tin vào số phận của mình, lời hứa của mình, sự cứu chuộc của mình.
Đối với nền văn hóa hiện đại của chúng ta, nền văn hóa thực tế muốn giao phó mọi thứ cho kiến thức chính xác về sự vật, thì sự xuất hiện của lý trí hoài nghi mới này - kết hợp giữa tri thức và sự vô trách nhiệm - là một hậu quả khắc nghiệt. Thật vậy, tri thức không có đạo đức cho chúng ta thấy thoạt đầu có vẻ là nguồn tự do, là nguồn năng lượng, nhưng nhanh chóng biến thành sự tê liệt của tâm hồn.

Ông Cô-hê-lét, với sự chế giễu của mình, đã vạch trần cám dỗ chết người này về sự toàn năng của hiểu biết con người - một “ảo tưởng về sự toàn tri” - tạo ra sự nản lòng về ước muốn. Các ẩn sĩ thuộc truyền thống Kitô giáo cổ xưa nhất đã xác định chính xác căn bệnh tâm hồn này, họ bất ngờ phát hiện ra sự hư vô của “tri thức không đức tin và không đạo đức”, sự ảo tưởng về một “sự thật không công lý”. Họ gọi đó là “sự lười biếng uể oải”. Đây là một cám dỗ của tất cả, ngay cả đối với người già. Nó không chỉ đơn giản là sự lười biếng mà còn hơn thế nữa. Nó không đơn giản là sự trì trệ. Mà đúng hơn, “sự lười biếng uể oải” là sự dừng lại ở kiến ​​thức của thế giới mà không còn say mê công lý và hành động theo sau đó.

Sự trống rỗng về ý nghĩa và về ý chí là sản phẩm của cái biết này, một cái biết từ chối mọi trách nhiệm đạo đức và từ chối mọi khao khát điều thiện thật, một cái biết có hại. Nó không chỉ lấy đi ước muốn làm điều tốt: mà còn mạnh hơn, nó mở ra cánh cửa cho sự hung hãn của sự dữ. Đó là sức mạnh của một lý trí điên cuồng, bị dẫn dắt bởi một hệ tư tưởng thái quá. Thật sự, với tất cả sự tiến bộ của mình, tất cả sự sung túc của mình, chúng ta đã thực sự trở nên một “xã hội mệt mỏi”. Chúng ta hãy suy nghĩ đôi chút về điều này: “chúng ta trở nên một xã hội mệt mỏi”. Chúng ta bị áp lực phải tạo ra phú quý khắp nơi, và chúng ta dung túng cho một thị trường chọn lọc sức khỏe theo tiêu chí khoa học. Chúng ta đã đặt ra một ranh giới cấm vượt qua đối với hòa bình, và chúng ta chứng kiến ​​những cuộc chiến tàn khốc hơn bao giờ hết chống lại những người không có khả năng tự vệ. Tất nhiên, khoa học ngày càng tiến bộ và điều đó thật tốt. Nhưng sự khôn ngoan của cuộc sống là một điều hoàn toàn khác, mà dường như đang bị bế tắt.

Cuối cùng, lý trí vô cảm và vô trách nhiệm này cũng tước đi ý nghĩa và ý chí tìm biết sự thật. Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta đang ở trong mùa của tin giả, của những mê tín tập thể và sự thật nguỵ khoa học. Đây là một điều nghịch lý. Trong văn hoá hiểu biết này, hiểu biết tất cả mọi sự, ngay cả hiểu biết chính xác, thì lại lan tràn nhiều phép thuật, mà là những phép thuật trí thức nữa. Phép thuật sẽ dẫn đến một cuộc sống mê tín. Một đàng, người ta tiến bộ về sự thông minh hiểu biết sự vật đến tận gốc rễ; đàng khác, linh hồn lại cần một thứ khác, nên người ta đi đến con đường mê tín và kết cục với phép thuật.

Tuổi già có thể học được từ sự khôn ngoan chế giễu của ông Cô-hê-lét, nghệ thuật vạch trần sự lừa dối ẩn giấu trong cơn mê về một “sự thật lý trí không say mê công lý”. Những người cao niên giàu khôn ngoan và hài hước đã làm điều rất tốt cho người trẻ! Họ cứu những người trẻ khỏi sự cám dỗ chỉ hiểu biết về một thế giới buồn tẻ và chẳng có sự khôn ngoan của cuộc sống. Và họ đưa người trẻ trở lại với lời Chúa Giêsu đã hứa: “Phúc cho ai khao khát nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng” (Mt 5, 6).

Vaticannews.va.vi

 

Tiếp kiến chung (18/5/2022): Thử thách của đức tin và phúc của sự chờ đợi

Sáng thứ Tư 18/05/2022, tại quảng trường thánh Phêrô, Đức Thánh đã có buổi tiếp kiến chung hằng tuần với bài giáo lý tiếp theo trong loạt bài về tuổi già. Đức Thánh Cha nói về hình ảnh của ông Gióp. Trong đau khổ, ông đã phản kháng với Thiên Chúa, đã thốt ra tất cả những lời cay đắng của ông với Chúa và đây là một cách cầu nguyện.

Đoạn Sách Thánh được đọc bài giáo lý được trích từ đoạn cuối của sách Gióp.
Ông Gióp thưa với ĐỨC CHÚA: Con biết rằng việc gì Ngài cũng làm được, không có gì Ngài đã định trước mà lại không thành tựu. […] Con đã nói dù chẳng hiểu biết gì về những điều kỳ diệu vượt quá sức con. Trước kia, con chỉ được biết về Ngài nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến. Vì thế, điều đã nói ra, con xin rút lại, trên tro bụi, con sấp mình thống hối ăn năn. ĐỨC CHÚA giáng phúc cho những năm cuối đời của ông Gióp nhiều hơn trước kia. Sau đó, ông Gióp còn sống thêm một trăm bốn mươi năm nữa, ông được thấy con cái cháu chắt đến bốn đời. (G 42,1-6.12.16)

Bài giáo lý 10 của Đức Thánh Cha.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Đoạn Kinh Thánh chúng ta vừa nghe khép lại Sách Gióp, một đỉnh cao của nền văn chương nhân loại. Chúng ta gặp ông Gióp trên hành trình những bài giáo lý về tuổi già: chúng ta gặp ông như một nhân chứng cho đức tin không chấp nhận một “hình ảnh biếm họa” về Thiên Chúa, nhưng gào lên sự phản kháng của ông khi đối mặt với sự dữ, cho đến khi Thiên Chúa đáp lại và mạc khải khuôn mặt của Người. Và cuối cùng, Thiên Chúa đáp lời, một cách đáng ngạc nhiên như thường lệ: Người cho Gióp thấy vinh quang của Người nhưng không đè bẹp ông, ngược lại, với sự dịu dàng trổi vượt. Cần phải đọc kỹ các trang của cuốn sách này, không định kiến ​​và sáo rỗng, để nắm bắt được sức mạnh của tiếng kêu của Gióp. Sẽ rất tốt nếu chúng ta đặt mình nơi trường học của Gióp, để vượt qua cám dỗ của chủ nghĩa duy đạo đức khi đối diện với sự bực tức và chán nản vì nỗi đau mất tất cả.

Trong đoạn kết của cuốn sách - khi cuối cùng Thiên Chúa đáp lời - Gióp được ca ngợi vì hiểu được mầu nhiệm sự dịu dàng của Thiên Chúa ẩn sau sự im lặng của Người. Thiên Chúa quở trách những người bạn của Gióp, những người cho rằng họ biết mọi sự, về Thiên Chúa và về đau khổ, và khi đến để an ủi Gióp, rốt cuộc họ lại phán xét ông bằng những khuôn mẫu sẵn có của họ. Xin Chúa gìn giữ chúng ta khỏi thói đạo đức giả hình và trịch thượng này!

Đây là cách Chúa bày tỏ chính mình ra cho họ. Chúa nói thế này: “Ta bừng bừng nổi giận với [các ngươi] […] bởi vì các ngươi đã không nói đúng đắn về Ta như Gióp, tôi tớ của Ta […]”, Chúa nói với các bạn của Gióp như thế. “Gióp, tôi tớ của Ta, sẽ chuyển cầu cho các ngươi. Ta sẽ đoái nhìn nó và sẽ không xử với các ngươi xứng với sự ngu xuẩn của các ngươi, vì các ngươi đã không nói đúng đắn về Ta như Gióp, tôi tớ của Ta” (42,7-8). Lời tuyên bố của Thiên Chúa làm chúng ta ngạc nhiên, vì chúng ta đã đọc những trang phản kháng gay gắt của Gióp, khiến chúng ta khiếp đảm. Tuy nhiên - Chúa nói - Gióp đã nói đúng, thậm chí khi ông tức giận và ngay cả tức giận với Chúa, nhưng ông nói đúng, bởi vì ông từ chối chấp nhận rằng Thiên Chúa là một “Kẻ bách hại”. Thiên Chúa phải khác. Người là ai? Và ông Gióp đã đi tìm kiếm. Và như một phần thưởng, Thiên Chúa trả lại gấp đôi tất cả tài sản cho Gióp, sau khi yêu cầu ông cầu nguyện cho những người bạn xấu của ông.

Bước ngoặt của việc hoán cải đức tin diễn ra chính vào thời điểm đỉnh cao những lời của Gióp, khi ông nói: “Tôi biết rằng Đấng bênh vực tôi vẫn sống, và sau cùng, Người sẽ đứng lên trên cõi đất. Sau khi da tôi đây bị tiêu huỷ, thì với tấm thân này, tôi sẽ được ngắm nhìn Thiên Chúa. Chính tôi sẽ được ngắm nhìn Người, Đấng mắt tôi nhìn thấy không phải người xa lạ”(19,25-27). Đoạn này thật đẹp. Tôi nhớ phần cuối bản nhạc Mêsia hùng hồn của Handel, sau cao trào Allelujah, bè cao từ từ hát đoạn này: “Tôi biết rằng Đấng Cứu Chuộc tôi đang sống”, với sự bình an. Và như thế, sau tất cả mọi đau khổ và niềm vui của Gióp, thì tiếng nói của Chúa là một điều khác. “Tôi biết rằng Đấng Cứu Chuộc tôi đang sống”: đó là một điều tuyệt đẹp. Chúng ta có thể chú giải câu ở trên thế này: “Lạy Chúa, con biết rằng Ngài không phải là Kẻ bách hại. Thiên Chúa của con sẽ đến và thực thi công lý cho con”.

Dụ ngôn trong sách Gióp trình bày một cách kịch tính và là ví dụ cho những gì thực sự xảy ra trong cuộc sống. Nói cách khác, những thử thách quá nặng nề đối với một người, một gia đình hay một dân tộc, vượt quá sự nhỏ bé và yếu đuối của con người. Trong cuộc sống thường xảy ra, như người ta nói, “đã nghèo lại gặp cái eo”. Và một số người bị choáng ngợp bởi những sự dữ xuất hiện thực sự quá sức và bất công.

Tất cả chúng ta đều biết đến những người như thế. Chúng ta xúc động bởi tiếng khóc của họ, nhưng chúng ta cũng thường ngạc nhiên về sự kiên vững của đức tin và tình yêu của họ trong sự thinh lặng của họ. Tôi nghĩ đến cha mẹ của những đứa trẻ bị khuyết tật nặng, những người đang sống với bệnh tật vĩnh viễn hoặc người thân bên cạnh họ... Những hoàn cảnh thường trầm trọng hơn do sự khó khăn về kinh tế. Trong một số điểm nối của lịch sử, những gánh nặng quá mức này dường như dồn lại vào một điểm. Đây là những gì đã xảy ra trong những năm gần đây với đại dịch Covid-19 và những gì đang xảy ra hiện nay với cuộc chiến ở Ucraina.

Liệu chúng ta có thể biện minh cho những “điều quá sức” này như một sự hợp lý cao siêu của tự nhiên và lịch sử không? Liệu chúng ta có thể chúc lành tôn giáo cho những điều đó như thể chúng là quả báo do tội lỗi của các nạn nhân, như thể họ đáng phải chịu không? Chúng ta không thể. Các nạn nhân có một loại quyền phản kháng khi đối diện với sự dữ, đó là quyền Thiên Chúa ban cho bất cứ ai, thậm chí tự thẳm sâu do chính Thiên Chúa khơi lên.

Đôi khi tôi gặp những người đến với tôi và nói: “Thưa cha, con đã phản kháng với Chúa vì con có vấn đề này, vấn đề kia ...”. Nhưng bạn thân mến, bạn biết đấy, sự phản kháng đó cũng là một cách cầu nguyện, khi nó được thực hiện như thế. Khi đứa con phản kháng cha mẹ chúng, đó là một cách để thu hút sự chú ý và xin cha mẹ chăm sóc chúng. Nếu bạn có những vết thương trong lòng, những nỗi đau và bạn cảm thấy muốn phản kháng, ngay cả phản kháng đối với Chúa, Chúa sẽ lắng nghe bạn, Chúa là Cha, Chúa không sợ lời cầu nguyện phản kháng của chúng ta. Chúa hiểu điều đó. Hãy tự do, hãy tự do trong lời cầu nguyện của bạn, đừng giam hãm lời cầu nguyện của bạn trong những khuôn mẫu định sẵn! Đừng! Lời cầu nguyện phải thật tự phát, giống như của một người con với cha mình, nói ra tất cả mọi sự bởi vì nó biết cha sẽ hiểu điều đó. “Sự im lặng” của Thiên Chúa, trong thời điểm đầu tiên của thảm kịch, có nghĩa là điều này. Thiên Chúa sẽ không né tránh đối diện, nhưng ngay từ đầu, Người đã để cho Gióp thốt ra sự phản kháng của mình và Chúa lắng nghe. Có lẽ, đôi khi, chúng ta cần phải học Thiên Chúa về sự tôn trọng và sự dịu dàng này. Thiên Chúa không thích bách khoa từ điển, như người ta thường nói, để biện giải và suy tư như các bạn của Gióp đã làm. Cách múa lưỡi đó không thích hợp. Đó là một thứ tôn giáo giải thích tất cả, nhưng trái tim vẫn giá lạnh. Thiên Chúa không thích điều đó. Nhưng Chúa thích sự phản kháng của Gióp hay sự thinh lặng của ông.

Lời tuyên xưng đức tin của Gióp – nổi lên từ chính lời khẩn cầu không ngừng của ông lên Thiên Chúa, công lý tối cao – cuối cùng được kiện toàn với một kinh nghiệm gần như thần bí, khiến ông phải thốt lên: “Trước kia, con chỉ được biết về Ngài nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến.” (42,5). Bao nhiêu người trong chúng ta sau một kinh nghiệm đau đớn, có phần mờ tối, nó đã cho chúng ta tiến thêm một bước và biết về Chúa hơn! Và chúng ta có thể nói rằng, như Gióp, “con đã nghe người ta nói một chút về Chúa, nhưng bây giờ con đã thấy Chúa, vì con đã gặp Ngài”. Lời chứng này đặc biệt đáng tin khi mang lấy tuổi già, trong sự mong manh và mất mát ngày càng tăng. Người già đã thấy nhiều trong cuộc sống! Và họ cũng thấy sự bất nhất trong lời hứa của con người. Những người theo luật, theo khoa học, và thậm chí theo tôn giáo, nhầm lẫn kẻ bách hại với nạn nhân, khi quy cho nạn nhân toàn bộ trách nhiệm về nỗi đau của họ. Những người này đã sai!

Những người già tìm ra con đường chứng tá này, hoán chuyển sự oán trách vì mất mát thành sự kiên trì chờ đợi lời hứa của Thiên Chúa. Họ là thành luỹ vững chắc cho cộng đoàn trong việc đối diện với cái quá mức của sự dữ. Cái nhìn của tín hữu hướng về Thánh giá học được điều này. Chúng ta có thể học được điều đó từ các ông bà, từ nhiều người cao tuổi, như Đức Maria, kết hiệp những lời cầu nguyện của họ, đôi khi xé lòng, với lời cầu nguyện của Con Thiên Chúa, Đấng đã phó mình cho Cha trên thập giá.

Chúng ta hãy nhìn người già, nhìn bằng tình yêu, nhìn vào kinh nghiệm của họ, những người đã phải chịu đau khổ rất nhiều trong cuộc sống, những người đã học được rất nhiều điều trong cuộc sống. Họ đã trải qua rất nhiều và cuối cùng có được bình an này, một điều gần như thần bí, nghĩa là sự bình an của cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, và nói rằng: “Con đã biết Chúa qua những lời người ta nói, nhưng bây giờ chính mắt con đã nhìn thấy Chúa”. Những người già này có được sự bình an giống như sự bình an của Con Thiên Chúa trên Thánh giá, Đấng phó mình cho Cha.

 

Bài giáo lý 9: tuổi già

(11/05/2022): Một tuổi trẻ đáng ngưỡng mộ, một tuổi già quảng đại

Sáng thứ Tư 11/05/2022, tại quảng trường thánh Phêrô, Đức Thánh đã có buổi tiếp kiến chung hằng tuần với bài giáo lý tiếp theo trong loạt bài về tuổi già. Đức Thánh Cha đặt câu hỏi của những người nghỉ hưu, công việc kết thúc: “Tôi sẽ làm gì bây giờ khi cuộc sống của tôi sẽ trống rỗng, không còn những điều vốn đã lấp đầy trong thời gian dài?”

Đoạn Sách Thánh được đọc trước bài giáo lý được trích từ sách Giu-đi-tha.

Sau những ngày đó, ai nấy trở về phần đất gia nghiệp của mình. Bà Giu-đi-tha trở lại Bai-ty-lu-a và cư ngụ trong phần đất bà vẫn có. Ngay trong buổi sinh thời, tiếng tăm bà đã lừng lẫy khắp nơi. Danh tiếng bà mỗi ngày một thêm lừng lẫy. Bà sống tại nhà chồng bà, tuổi đời rất cao, thọ được một trăm lẻ năm tuổi . Bà trả tự do cho người nữ tỳ. Cuối cùng bà qua đời ở Bai-ty-lu-a và được chôn cất trong hang mộ bên cạnh ông Mơ-na-se, chồng bà. Nhà Ít-ra-en khóc thương bà suốt bảy ngày. Trước khi nhắm mắt, bà Giu-đi-tha đã phân phát của cải cho tất cả bà con bên chồng cũng như cho thân quyến của bà. (Gđt 16,21.23-24)

Bài giáo lý 9 của Đức Thánh Cha:

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay chúng ta sẽ nói về Giu-đi-tha, một nữ anh hùng trong Kinh Thánh. Phần kết của cuốn sách mang tên bà - chúng ta vừa nghe - tóm tắt phần cuối cuộc đời của người phụ nữ này, người đã bảo vệ Israel khỏi kẻ thù. Giu-đi-tha là một góa phụ Híp-ri trẻ tuổi và nhân đức, nhờ đức tin, sắc đẹp và sự khôn khéo của mình, đã cứu thành Bai-ty-lu-a và dân tộc Giuđa khỏi vòng vây của Hô-lô-phéc-nê, tướng của Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua nước Át-sua, một kẻ thù hống hách và khinh thường Thiên Chúa. Và như vậy, với cách hành động thông minh của mình, người phụ nữ này có khả năng giết chết bạo chúa chống lại đất nước mình. Người phụ nữ này dũng cảm, nhưng bà có một đức tin ...

Sau cuộc phiêu lưu lớn mà bà là nhân vật chính, Giu-đi-tha trở về sống ở thành phố của bà, Bai-ty-lu-a, nơi đây bà sống một tuổi già đẹp, đến 105 tuổi. Điều này cũng xảy ra với nhiều người: đôi khi sau một cuộc sống làm việc căng thẳng, sau một cuộc phiêu lưu mạo hiểm, hoặc một trong những cống hiến lớn lao. Sự anh hùng không chỉ là sự kiện trọng đại được chú ý, như vụ Giu-đi-tha đã giết chết bạo chúa: mà sự anh hùng thường được tìm thấy ở tình yêu bền bỉ dành cho một gia đình khó khăn và hỗ trợ một cộng đồng đang bị đe dọa.

Giu-đi-tha đã sống hơn một trăm tuổi, một phúc lành đặc biệt. Nhưng ngày nay cũng không hiếm người sống rất nhiều năm sau khi nghỉ hưu. Cần diễn giải thế nào, làm sao để tận dụng khoảng thời gian này của chúng ta? Tôi sẽ nghỉ hưu hôm nay, và sẽ còn nhiều năm nữa, và tôi có thể làm gì trong những năm này? Làm thế nào để tôi có thể lớn thêm - về tuổi tác thì tự nó, nhưng làm thế nào tôi có thể lớn thêm hơn về quyền bính, sự thánh thiện và khôn ngoan?

Đối với nhiều người, viễn cảnh nghỉ hưu cũng là viễn cảnh được nghỉ ngơi xứng đáng và mong muốn thoát khỏi các hoạt động đòi hỏi và mệt mỏi. Nhưng cũng xảy ra rằng nó là sự kết thúc của công việc vốn thể hiện một nguồn quan tâm và được mong đợi với một số lo lắng: “Tôi sẽ làm gì bây giờ khi cuộc sống của tôi sẽ trống rỗng những điều vốn đã lấp đầy trong thời gian dài?”. Đây là vấn đề. Công việc hàng ngày cũng có nghĩa là một tập hợp các mối quan hệ, sự hài lòng trong việc kiếm sống, thực thi một vai trò, một sự cân nhắc xứng đáng, một khoảng thời gian tròn đầy ngoài những giờ làm việc đơn giản.

Tất nhiên, có một sự dấn thân vui vẻ và không mệt mỏi trong việc chăm sóc các cháu, và ngày nay ông bà đóng một vai trò rất lớn trong gia đình để giúp nuôi dạy các cháu; nhưng chúng ta biết rằng ngày nay ngày càng ít trẻ em được sinh ra, và cha mẹ thường ở xa hơn, phải đi lại nhiều hơn, với hoàn cảnh gia đình và công việc không thuận lợi. Thậm chí đôi khi họ miễn cưỡng với việc giao phó không gian giáo dục của các cháu cho ông bà, và chỉ nhờ những gì rất cần sự hỗ trợ. Nhưng có người nói với tôi, với một nụ cười khểnh, rằng: “Ngày nay, trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện tại, ông bà càng quan trọng hơn, vì ông bà có lương hưu”. Họ nghĩ như thế. Có những nhu cầu mới, cũng trong lĩnh vực giáo dục và các mối quan hệ của cha mẹ, đòi hỏi chúng ta phải định hình lại liên minh truyền thống giữa các thế hệ.

Nhưng, chúng ta tự hỏi: liệu chúng ta có đang thực hiện nỗ lực “phục hồi” này không? Hay đơn giản là chúng ta phải chịu sức ì của các điều kiện kinh tế và vật chất? Trên thực tế, sự chung sống của nhiều thế hệ đang kéo dài. Chúng ta có đang cố gắng làm cho sự chung sống này trở nên nhân bản hơn, tình cảm hơn, công bằng hơn, trong điều kiện mới của xã hội hiện đại? Đối với ông bà, một phần quan trọng trong thiên chức của họ là hỗ trợ các con trong việc nuôi dạy con cái. Những đứa trẻ học được sức mạnh của sự dịu dàng và tôn trọng đối với sự mong manh. Đây là những bài học không thể thay thế, mà với ông bà, những bài học này sẽ dễ dàng truyền đạt và tiếp nhận hơn. Về phần mình, ông bà học được rằng sự dịu dàng và mong manh không chỉ là dấu hiệu của sự sa sút: đối với những người trẻ, điều này là những bước làm nên con người tương lai.

Giu-đi-tha sớm trở thành góa phụ và không có con cái, nhưng như một phụ nữ lớn tuổi, bà có thể sống một mùa tràn đầy và thanh thản, với ý thức mình đã sống trọn vẹn sứ mạng mà Chúa đã giao phó cho bà. Đối với bà, đã đến lúc để lại di sản tốt đẹp của trí tuệ, sự dịu dàng, những món quà cho gia đình và cộng đồng: di sản về điều tốt chứ không chỉ về tài sản. Khi chúng ta nghĩ về sự thừa kế, đôi khi chúng ta nghĩ về tài sản, chứ không phải điều tốt đã làm trong tuổi già và đã được gieo trồng, điều tốt đẹp đó là cơ nghiệp tốt nhất mà chúng ta có thể để lại.

Chính ở tuổi già, Giu-đi-tha đã “trả tự do cho người nữ tỳ của bà”. Đây là dấu hiệu của một cái nhìn quan tâm và nhân văn đối với những người đã gần gũi với bà. Người nữ tỳ này đã đồng hành cùng bà trong cuộc phiêu lưu để cắt cổ và chiến thắng bạo chúa. Khi bạn già, bạn mất đi một chút thị giác nhưng cái nhìn bên trong trở nên thấu hiểu hơn: bạn nhìn bằng trái tim. Một người có khả năng nhìn thấy những thứ trước đây lẩn khuất. Người già biết cách nhìn và biết nhìn thấy... Nó là thế này: Chúa không chỉ giao những nén bạc của Người cho người trẻ và người mạnh: Người trao cho tất cả, tuỳ theo khả năng của mỗi người, phù hợp với từng người, ngay cả đối với người già. Cuộc sống của các cộng đoàn của chúng ta phải có khả năng tận hưởng những nén bạc và đặc sủng của nhiều người cao tuổi. Theo biên chế thì họ đã nghỉ hưu, nhưng họ là một gia sản đáng được trân trọng. Điều này đòi hỏi, về phía những người cao tuổi, một sự lưu tâm sáng tạo, một sự để tâm mới, một tấm lòng quảng đại. Các kỹ năng sống hoạt bát trước đây mất đi phần nắm giữ và trở nên nguồn để ban tặng: dạy dỗ, khuyên nhủ, xây dựng, chữa lành, lắng nghe... Ưu tiên cho những người thiệt thòi nhất, những người không có khả năng học tập hoặc những người bị bỏ rơi trong cô đơn của họ.

Bà Giu-đi-tha đã trả tự do cho người nữ tỳ của mình và khiến mọi người chú ý. Khi còn trẻ, bà đã giành được sự kính trọng của cộng đồng bằng lòng dũng cảm của mình. Khi là một người lớn tuổi, bà xứng đáng nhận điều đó bởi sự dịu dàng vốn làm phong phú thêm cho sự tự do và tình cảm của bà. Giu-đi-tha không phải là một người nghỉ hưu buồn sầu, sống trong sự trống vắng của mình: bà là một cụ bà say mê lấp đầy thời gian mà Chúa ban bằng những món quà.

Tôi khuyên anh chị em: trong những ngày này, hãy cầm lấy Kinh Thánh và mở sách Giu-đi-tha: nó nhỏ, anh chị em có thể đọc nó... khoảng 10 trang, không hơn. Hãy đọc câu chuyện về một người phụ nữ can đảm kết thúc như thế, với sự dịu dàng, với lòng bao dung, một phụ nữ cao quý. Và vì vậy tôi ước mong những người bà của chúng ta: can đảm, khôn ngoan và để lại cho con cháu di sản không phải tiền bạc, mà là di sản của trí tuệ, được gieo vào cháu chắt của họ.

 

Bài thứ 8: giáo lý tuổi già

Tiếp kiến chung 4/5: Lòng thành tín của tuổi già và danh dự của đức tin

Sáng thứ Tư 4 tháng 5 năm 2022, Đức Thánh Cha đã có buổi tiếp kiến chung với khoảng 12 ngàn tín hữu tại quảng trường thánh Phêrô với bài giáo lý tiếp theo về chủ đề tuổi già. Đức Thánh Cha khuyến khích những người cao tuổi đảm nhận sứ mạng rất quan trọng là khôi phục lại danh dự cho đức tin, giúp người trẻ xây dựng một tương lai vững chắc.

Vatican News

Bài đọc trước bài giáo lý được trích từ chương 6 của sách Maccabê quyển 2:
Có một người tên là E-la-da, một trong những kinh sư quan trọng tuy tuổi đã cao nhưng trông rất đẹp lão. Ông đã tự ý tiến ra nơi hành hình. […] Ông nói : “Ở tuổi chúng tôi, giả vờ là điều bất xứng, e rằng có nhiều thanh niên sẽ nghĩ là ông già E-la-da đã chín mươi tuổi đầu, mà còn theo những lề thói dân ngoại. Rồi bởi tôi đã giả vờ và ham sống thêm một ít lâu nữa, nên họ bị lầm lạc vì tôi, còn tôi thì chuốc lấy vết nhơ và ô nhục cho tuổi già.” (2 Mcb 6,18.23-25)

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha:
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Trong hành trình các bài giáo lý về tuổi già, hôm nay chúng ta gặp một nhân vật trong Kinh thánh tên là E-la-da, người sống vào thời kỳ bách hại của vua An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê. Hình tượng của ông cho chúng ta một bằng chứng về mối tương quan đặc biệt giữa lòng thành tín của tuổi già và danh dự của đức tin. Đây là một điều hãnh diện. Tôi muốn nói chính xác về danh dự của đức tin, chứ không chỉ về tính kiên định, về lời tuyên bố, về sự bền bỉ của đức tin. Danh dự của đức tin thường xuyên bị đặt dưới áp lực, thậm chí là bạo lực, của những người thống trị, những người tìm cách làm suy yếu đức tin bằng cách xem nó như một tàn tích khảo cổ, một sự mê tín cổ hủ, hay sự ngoan cố lạc hậu.

Câu chuyện trong Kinh thánh – chúng ta đã nghe một đoạn ngắn, mà rất hay nếu đọc nguyên câu chuyện – thuật lại chi tiết những người Do Thái bị buộc tuân theo một sắc lệnh của nhà vua phải ăn thịt đã hiến tế cho các thần. Khi đến lượt cụ E-la-da, một người già ở tuổi chín mươi, được mọi người kính trọng, các quan của nhà vua khuyên ông nên làm một cử chỉ tượng trưng, đó là giả vờ ăn thịt mà không thực sự làm điều đó. Như vậy, cụ E-la-da sẽ được cứu, và - họ nói - nhân danh tình bạn, ông sẽ nhận được cử chỉ trắc ẩn và tình cảm của họ. Họ nhấn mạnh, đó chỉ là một cử chỉ tối thiểu, giả vờ ăn mà không cần ăn, một cử chỉ chẳng đáng kể.

Phản ứng bình tĩnh và dứt khoát của cụ E-la-da dựa trên một đề tài khiến chúng ta kinh ngạc. Điểm trung tâm là đây là: đức tin bị ô nhục trong tuổi già để sống thêm được một vài ngày, điều đó không thể so sánh với di sản để lại cho những người trẻ, cho các thế hệ mai sau. Một người già đã sống trung thành trong đức tin của mình suốt cả cuộc đời, và bây giờ giả vờ từ chối, thì chẳng khác nào nói với thế hệ trẻ rằng toàn bộ đức tin chỉ là hư cấu, một lớp vỏ bọc bên ngoài có thể bị lột bỏ, khi nghĩ rằng đức tin có thể giữ trong tâm thôi. “Không được”, cụ E-la-da nói. Hành vi như vậy không tôn trọng đức tin, ngay cả trước mặt Thiên Chúa. Và tác động của sự tầm thường hoá bên ngoài này sẽ phá huỷ nội tâm của những người trẻ. Sự kiên định của người già này là nghĩ về người trẻ, nghĩ về sự kế thừa tương lai, nghĩ về dân tộc của mình.
Chính tuổi già ở đây nói lên vị trí quyết định và không thể thay thế của chứng tá này. Một người cao tuổi, vì lý do dễ bị tổn thương, nếu chấp nhận coi việc thực hành đức tin là không quan trọng, thì sẽ khiến cho người trẻ nghĩ rằng đức tin không có mối liên hệ thực sự với cuộc sống. Nếu vậy, nó sẽ cho thấy, đức tin ngay từ đầu có vẻ như một tập hợp các hành vi, mà nếu cần, có thể được giả vờ hoặc cải trang, bởi vì không có hành vi nào quá quan trọng đối với cuộc sống.
Thuyết Ngộ đạo cổ đại, vốn là một cái bẫy rất lớn và rất quyến rũ đối với Kitô giáo trong những thế kỷ đầu, rằng: đức tin là một điều thuộc tinh thần, không phải là một thực hành; một sức mạnh của tâm trí, không phải là một lối sống. Theo thuyết này, lòng trung thành và danh dự của đức tin không liên quan gì đến hành vi của cuộc sống, của các thể chế cộng đoàn, các biểu tượng của thân thể. Sự quyến rũ của thuyết này rất mạnh mẽ, bởi vì nó diễn giải, theo cách riêng của nó, một sự thật không thể chối cãi rằng: niềm tin không bao giờ có thể bị thu hẹp thành một tập hợp các quy tắc ăn uống hoặc thực hành xã hội. Niềm tin là một điều khác. Mối nguy nằm ở chỗ sự cực đoan hóa chân lý này của thuyết Ngộ đạo sẽ huỷ bỏ việc thực hành đức tin Kitô. Bởi vì đức tin Kitô là hiện thực, đức tin Kitô không chỉ là đọc Kinh Tin kính, mà còn nghĩ về Kinh Tin kính, cảm được Kinh Tin kính và thực hành Kinh Tin kính, là hoạt động với đôi tay. Ngược lại, đề xuất của Thuyết Ngộ đạo này là một sự “giả vờ”, điều quan trọng là bạn có điều thiêng liêng bên trong và sau đó bạn có thể làm bất cứ điều gì bạn muốn. Đây không phải là Kitô giáo. Đây là dị giáo đầu tiên của những người theo thuyết Ngộ giáo, và hiện đang rất thịnh hành ở đây, bây giờ, ở rất nhiều trung tâm tâm linh. Nó gạt bỏ những chứng tá của dân chúng, những người cho thấy các dấu hiệu cụ thể của Thiên Chúa trong đời sống cộng đoàn. Những chứng tá này chống lại sự bóp méo tâm trí bằng những cử chỉ cụ thể.

Cám dỗ Ngộ đạo có thể nói là một trong những dị giáo, một trong những lệch lạc tôn giáo của thời nay, cám dỗ Ngộ đạo luôn tồn tại. Trong nhiều xu hướng xã hội và văn hóa của chúng ta, việc thực hành đức tin trải qua một biểu hiện tiêu cực, đôi khi dưới hình thức mỉa mai văn hóa, đôi khi bằng việc gạt sang bên lề cách kín đáo. Đối với những người theo thuyết Ngộ đạo, vốn đã có từ thời Chúa Giê-su, việc thực hành đức tin bị coi là một thứ bề ngoài vô dụng và thậm chí có hại, như một tàn tích cổ xưa còn sót lại, như một sự mê tín trá hình. Tóm lại, nó là một điều dành cho người già. Áp lực mà thuyết này tác động lên thế hệ trẻ là rất mạnh. Chắc chắn, chúng ta biết là việc thực hành đức tin có thể trở thành một thứ bề ngoài vô hồn – điều này là một nguy hiểm khác – nhưng tự nó không phải vậy. Đối với chúng ta, những người cao tuổi, chúng ta có một sứ mạng rất quan trọng là khôi phục lại danh dự cho đức tin, làm cho nó trở nên nhất quán, đó là chứng tá của cụ E-la-da, kiên vững đến cùng. Việc thực hành đức tin không phải là biểu tượng cho sự yếu đuối của chúng ta, mà là dấu chỉ sức mạnh của đức tin. Chúng ta không còn là những đứa trẻ. Chúng ta không đùa khi bước trên con đường của Chúa!

Đức tin đáng được tôn trọng và tôn vinh cho đến cùng: nó đã làm thay đổi cuộc sống của chúng ta, làm trong sạch tâm trí của chúng ta, dạy chúng ta sự tôn thờ Thiên Chúa và tình yêu đối với người lân cận. Đức tin là một lời chúc phúc cho tất cả mọi người! Nhưng đó phải là tất cả, không phải một phần, của đức tin. Chúng ta sẽ không đánh đổi đức tin để lấy một vài ngày an bình, nhưng chúng ta sẽ làm như cụ E-la-da, kiên định cho đến cùng, cho đến khi tử vì đạo. Chúng ta sẽ minh chứng, bằng tất cả sự khiêm tốn và kiên định, chính trong tuổi già của chúng ta rằng, tin không phải là điều gì đó “dành cho tuổi già", mà là một điều của cuộc sống. Hãy tin vào Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho mọi sự trở nên mới mẻ, và Ngài sẽ sẵn lòng giúp đỡ chúng ta.

Anh chị em cao tuổi thân mến, xin hãy nhìn đến người trẻ. Họ nhìn chúng ta, chúng ta đừng quên điều này. Tôi nhớ về một phim hậu chiến rất hay: “Những trẻ em nhìn chúng ta”. Chúng ta cũng có thể nói như vậy với người trẻ: những người trẻ nhìn chúng ta và sự kiên định của chúng ta có thể mở ra một con đường sống tươi đẹp cho họ. Ngược lại, bất kỳ sự giả hình nào cũng sẽ gây hại rất nhiều. Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau. Xin Chúa chúc lành cho tất cả người già chúng ta!

 

June 9, 2022

vaticannews.va