|
|
7.
Quãng đời thai nhi:
Mẹ được nhìn thấy Thiên Chúa cách
thiêng liêng từ khi đầu thai, nên Mẹ đã
chiêm ngắm Hữu Thể Thiên Chúa cách tỏ
tường, và tâm hồn Mẹ cháy lên niềm
mến yêu Thiên Chúa. Mẹ không hề ngừng
thờ lạy Thiên Chúa.
Vào áp ngày sinh ra, Thiên Chúa đã cho Mẹ biết
đã đến lúc xuất hiện trên trần
gian. Mẹ hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa và thưa
rằng: "Lạy Chúa uy linh cao cả, chủ
quyền tuyệt đối trên con, con chỉ
là hư vô Chúa làm cho nên hiện hữu, đã cho
con đầy ân sủng, Chúa cho con sinh ra và cư
ngụ giữa loài người, xin cho con được
trọn ý Chúa."
Về phần thân mẫu Mẹ, Chúa cũng cho
bà được nên người thiêng liêng hoàn
toàn, nhưng cũng để cho bà chịu một
ít phiền não, để che mắt bọn quỉ
Satan, để chúng không thể biết được
kho tàng bà đang cưu mang trong lòng. Các Thiên Thần
cũng gìn giữ bà và giúp bà bình thản chờ
đợi giờ hạnh phúc được
nhìn ngắm người con chí ái chào đời.
8.
Sinh vào trần thế:
Đến ngày 8 tháng 9, bà Anna biết mình sắp
sinh ái nữ, bà sấp mình cầu xin Chúa chúc lành
cho mình. Bà được ơn gìn giữ khỏi
những cơn đau thông thường nơi
các bà mẹ sinh con, nên bà dâng lời cảm tạ
Thiên Chúa. Các Thiên Thần hầu cận Mẹ
hát lên những khúc ca thiên đàng. Mẹ xinh đẹp
nằm gọn trên tay thân mẫu mình. Mẹ xin
các Thiên Thần ca tụng Chúa với Mẹ và
nhân danh Mẹ. Tổng Thần Gabriel được
sai đến ngục Tổ Tông, để báo
cho các Thánh tin Mẹ Chúa Cứu Thế đã sinh
ra, một tin mừng làm cho các ngài hoan hỷ và
tri ân vô ngần.
Thiên Chúa lại sai các Thiên Thần rước
Mẹ về trời, trước ngai uy linh Thiên
Chúa, Mẹ sấp mình thờ lạy Thiên Chúa Ba
Ngôi. Ngôi Lời nâng Mẹ dậy và đặt
ngồi bên hữu mình. Mẹ lãnh nhận nhiều
mạc khải mới và lòng Mẹ bừng lên
niềm vinh quang. Mẹ xin Chúa mau thi hành ơn
nhập thể để cứu độ trần
gian. Thiên Chúa đoan quyết với Mẹ là sắp
được thực hiện. Thiên Chúa còn cho
các Thiên Thần biết, Chúa rất hài lòng về
danh hiệu Maria và Giêsu mà từ ngàn đời
Ngài đã thỏa lòng.
Tám ngày sau, cha mẹ đặt tên cho con trẻ
là Maria, tên mà Thiên Chúa đã dành cho Mẹ. Các Thiên
Thần ca lên những khúc hát tuyệt vời mà
chỉ hai mẹ con bà Anna được thưởng
thức.
9.
Cuộc sống ba năm đầu:
Theo luật Lêvi, 60 ngày con gái mới sinh phải
đem vào đền thờ dâng cho Chúa như lời
bà đã hứa, với của lễ là một
con chiên một tuổi và một con chim gáy. Thân
mẫu Anna vâng theo lề luật dạy đã
sung sướng dâng Mẹ cho Thiên Chúa, người
con mà Chúa đã ban cho bà.
Nhìn đền thờ uy nghiêm, Mẹ muốn hôn
kính đền thờ rồi tự tâm hồn
Mẹ cầu nguyện: "Lạy Thiên Chúa
đáng muôn loài chúc tụng, trong đền thờ
này, con tán dương Chúa và cảm tạ lòng khoan
dung Chúa, đã ban cho con hạnh phúc nhìn thấy
đền thờ nơi Cha Ông con đã từng
tôn kính Chúa. Xin đoái thương nhận con vào,
hầu con được phụng sự Chúa tại
đây".
Khi nhìn thấy những việc lạ lùng, Luxiphe
muốn hiểu ra bí mật, nhưng Thiên Chúa đã
dấu kín, chỉ cho biết những việc
bề ngoài, để chúng yên lòng, mặc dầu
hai mẹ con có thánh thiện hơn những người
khác. Khi các nghi lễ đã xong, hai mẹ con hoan
hỉ trở về Nazareth. Ở đây, Mẹ
được nuôi dưỡng như các trẻ
đương thời. Mẹ rất ngoan và gây
nhiều thiện cảm, nhưng cũng rất
oai nghi buộc ai đến gần phải tôn
kính. Mẹ cũng hay khóc nhưng là khóc thương
tội lỗi trần gian và nài xin Đấng
Cứu Chuộc mau đến. Nơi Mẹ không
có chút gì là con nít, nhưng Mẹ cũng để
cho thân mẫu nựng chiều. Mẹ liên lỉ
cầu nguyện cùng Chúa, dù cả trong giấc
ngủ cũng không gián đoạn, vì trí năng
có thể hoạt động không cần giác quan
giúp đỡ.
Với song thân, Mẹ tỏ hết tâm tình của
một người con. Đôi khi Mẹ cầm
tay cha mẹ mà hôn kính, trân trọng thiệt
tình. Suốt đời Mẹ cư xử như
thế, không bao giờ tỏ ra một chút bất
bình.
Tuổi thơ của Mẹ cứ thế qua
đi trong những cuộc truyện vãn thánh thiện
hoặc với các Thiên Thần hoặc với
chính Thiên Chúa. Những đặc ân ấy không
hề làm cho Mẹ kiêu căng, song lại tăng
thêm đức khiêm nhường của Mẹ.
Mẹ tin thật Mẹ là cuối rốt trong
mọi loài thụ tạo, mặc dù Mẹ
là Nữ Vương, là Chủ Mẫu vũ trụ.
Sau 18 tháng Mẹ mới bắt đầu nói.
Trước khi nói với loài người, Mẹ
được Thiên Chúa dạy cho cầu nguyện
mỗi ngày nhiều lần, để Con Chúa mau
nhập thể. Mẹ cũng nói với song thân
và cám ơn các ngài đã cho Mẹ một thân xác
sống giữa trần ai. Ông bà rất sung sướng
khi thấy con cất tiếng lần đầu
và thấy những bước đầu tiên
Mẹ đi một mình.
Trong 18 tháng kế tiếp, nghĩa là cho tới
khi Mẹ lên 3 tuổi, Mẹ nói rất ít. Mẹ
khôn ngoan vượt trên các con cháu Adong, nhưng
khi đó Mẹ lại rất khiêm tốn, ngoan
ngoãn hỏi han thân mẫu nhiều điều
để học hỏi. Mẹ thích làm những
việc thấp hèn nhất trong nhà, nhưng chẳng
ai nỡ để Mẹ làm. Vì thế, lúc có một
mình Mẹ cố gắng ra sức làm việc.
Vì sức Mẹ chưa làm nổi nên các Thiên Thần
thường giúp Mẹ làm để Mẹ thỏa
chí và thêm phần thưởng khiêm nhu.
Khi đã trọn hai tuổi, Mẹ bắt đầu
thi hành việc bác ái với người nghèo. Mẹ
xin thân mẫu cho của này vật nọ để
đem đi bố thí. Mẹ thường nói
trong lòng: "Tôi không đáng có thì lại có,
nên tôi mắc nợ người anh em này vì họ
không có gì".
Thời gian trôi qua, Mẹ cảm thấy hạnh
phúc vì khám phá ra nơi mình nhiều điều
kỳ diệu Chúa thương ban cho, còn thân mẫu
Anna thì đau lòng khi nghĩ đến ngày sắp
phải lìa con theo lời đã hứa. Bà
buồn có thể đến chết đi được,
nếu Chúa không giúp sức cho. Vì thế 6 tháng
trước khi chẵn ba tuổi, Mẹ đã
năng nhắc đến để chuẩn
bị tâm hồn thân mẫu cho ngày biệt ly và
giúp bà nguôi buồn.
Ít ngày trước khi trọn 3 tuổi, Mẹ
được Chúa tỏ cho xem thấy Ngài trong
một lần thị kiến, Ngài cho Mẹ biết
đã gần đến giờ Mẹ được
tận hiến cho Ngài trong đền thờ.
Lòng đầy hoan hỉ và tri ân, Mẹ thưa
lên: "Lạy Chúa cao cả của Tổ Phụ
con, tự con chẳng xứng đáng, nhưng
Chúa đã vô cùng nhân từ nhìn đến một
nữ tì thấp hèn ti tiện này. Bởi đâu
con được ơn trọng, là được
nhận vào nhà Chúa để phụng sự Chúa,
trong khi con chỉ đáng bỏ quên trong một
xó rất khốn nạn trên trần gian. Chúa thương
ban cho con vinh dự này, thì xin Chúa hướng lòng
cha mẹ con thực thi ý Chúa".
Nhận lời Mẹ xin, Chúa đã soi sáng cho song
thân Mẹ thực hiện lời hứa và thêm
ơn can đảm để ông bà bớt đau
đớn khi phải lìa biệt Mẹ, một
niềm an ủi dịu ngọt trong lúc tuổi
già.
10.
Dâng con trong đền thờ:
Trong ý định của Thiên Chúa, Chúa đã quan
phòng cho Mẹ một cách khôn khéo là không để
cho mấy ai biết đến Mẹ là Mẹ
Thiên Chúa khi còn tại thế. Bởi thế, trước
mặt người đời việc Mẹ
dâng mình trong đền thờ chẳng có gì đáng
trọng, đáng chú ý.
Song thân từ Nazareth đưa Mẹ lên đền
thờ Giêrusalem với mấy người thân
thuộc đơn sơ, không ồn ào, không long
trọng, nhưng có đoàn Thiên Thần hộ
tống theo hầu. Các Ngài vừa đi vừa
hát những khúc ca tán tụng Thiên Chúa, nhưng
chỉ mình Mẹ nhìn thấy và nghe thấy tiếng
các Ngài hát. Trên quãng đường dài, song thân
của Mẹ cũng được hưởng
một nguồn an ủi thiêng liêng tràn ngập.
Khi tới đền thờ, các ngài cầm tay
Mẹ dẫn vào nội điện. Cả ba
cùng sốt sáng cầu nguyện, rồi ông bà hiến
dâng Mẹ cho Thiên Chúa. Mẹ cũng tự hiến
dâng trọn vẹn mình dứt khoát cho Ngài. Trong
ánh sáng huy hoàng tràn ngập đền thờ,
Mẹ nghe thấy rõ tiếng Thiên Chúa ưng nhận
lễ vật là chính toàn thân Mẹ. Sau khi cầu
nguyện, hai ông bà dẫn Mẹ đến giới
thiệu với vị Tư Tế. Ngài chúc lành
cho Mẹ rồi tất cả đưa Mẹ
tới khu nhà giáo dục dành cho nữ giới.
Mẹ được các vị Tư Tế ra
cầu thang 15 bậc đón Mẹ vào. Vị hướng
dẫn Mẹ là một vị Tư Tế có phẩm
trật thấp nhất. Ông đặt Mẹ
lên bậc cầu thang thứ nhất. Mẹ quay
lại qùi xuống, cúi đầu bái tạ song
thân và xin cha mẹ ban phép lành. Cha mẹ bùi ngùi
nhỏ lệ chúc lành cho Mẹ, sau đó một
mình Mẹ quả quyết bước lên bậc
thang không quay lại, không rơi lệ, không
tỏ cử chỉ ấu trĩ nào, không phàn
nàn vì phải rời xa cha mẹ. Trái lại dung
mạo Mẹ đều tỏ cử chỉ
vui mừng, uy nghi, dịu dàng, làm mọi người
sững sờ thán phục. Thượng Tế
Simêon đón Mẹ ở đầu nấc thang
và trao cho các cô đạo đức việc đào
tạo Mẹ. Bà Tiên Tri Anna được Chúa
soi dẫn và chỉ định coi sóc Mẹ. Bà
thật đức hạnh và thánh thiện, xứng
đáng là một mẫu sư trong đền
thờ. Ông Simêon không biết gì về mầu nhiệm
dấu kín nơi Mẹ cả. Ông chỉ được
soi cho biết Mẹ là một nữ nhi thánh thiện
thôi. Sống trong đền thờ Mẹ được
bà giáo tận tình hướng dẫn, săn
sóc và giáo hóa. Mẹ cũng được Chúa
tỏ cho rất nhiều ân huệ cao vời.
Mẹ tạ ơn Chúa và khấn giữ bốn
lời khấn: Khiết tịnh, Thanh bần,
Vâng lời và nội vi ở trong đền thờ.
Nhưng Chúa chỉ cho phép Mẹ thực hiện
hết khả năng tùy hoàn cảnh thôi, ngoại
trừ đức Khiết tịnh thì Chúa chấp
nhận. Suốt cuộc đời Mẹ giữ
tỉ mỉ, nhiệt thành, trung tín chu toàn mọi
quyết định.
Hội ý với Thượng Tế Simêon, bà Anna
vạch cho Mẹ một luật sống. Mẹ
đã xin Chúa cho Mẹ được ơn siêu
thoát khỏi mọi thụ tạo và cả chính
mình để chỉ sống trong tình yêu Chúa, nên
Mẹ rất hân hoan đón nhận sự chỉ
dạy của mẫu sư Anna. Luật đó
là phải hết lòng phụng sự Chúa và ham
mê thực hành các nhân đức và mau mắn tuân
phục. Mẹ cúi đầu vâng ý Thầy Thượng
Tế và bà giáo Anna.
Từ đó Mẹ hòa mình vào nếp sống với
chị em, mặc dù quan điểm của Mẹ
cao vượt hơn. Mẹ biết rằng vâng
phục không lý luận bao giờ cũng tốt
hơn theo tư kiến, dù là tư kiến tốt,
vì Chúa đã sống và dạy các ngài làm. Bà Anna
cũng vạch cho Mẹ một chương trình
sống, là hết sức nhiệt thành tham dự
các giờ tán dương Thiên Chúa, cầu nguyện
cho đền thờ và dân riêng của Chúa, cho
Đấng Cứu Chuộc mau đến. Buổi
tối đi ngủ lúc 8 giờ. Sáng thức dậy
sớm cầu nguyện đến 9 giờ. Từ
đó tới chiều làm việc thủ công và
đọc sách. Mẹ cũng rất tiết độ
khi ăn khi ngủ. Mẹ dùng thì giờ rất
khéo và khít khao. Thời giờ Mẹ dùng nhiều
nhất là đọc và học Thánh Kinh. Mẹ
am tường ý nghĩa nhập thể, nhờ
có trí thức Chúa ban dư tràn đến nỗi
có thể giải thích về mầu nhiệm
ấy với các Thiên Thần. Mẹ
hiểu hết nhưng bề ngoài Mẹ vẫn
học hỏi như không biết gì. Mẹ lớn
dần về tuổi và ân sủng trước
mặt Chúa và loài người. Mẹ cũng rất
khiêm nhường không bao giờ tỏ cho loài
người biết những ơn lạ lùng
Mẹ được. Mẹ giữ kín đáo
các ơn ấy.
11. Những
thử thách trong đền thờ:
Để đón nhận được những
đau khổ mà nên hoàn thiện, Mẹ đã thật
quả cảm, cái quả cảm vượt trên
cả các Thánh Tử Đạo chỉ vì mến
Chúa. Cơn đau khổ đầu tiên Chúa dành
cho Mẹ, là Chúa cho Mẹ biết thân phụ Mẹ
đã đến ngày mãn phần. Ngài sẽ
xuống ngục Tổ Tông cùng với các thánh
khác.
Nỗi phần đau khổ hơn thế nữa,
là Chúa không cho Mẹ thấy Ngài và cả các Thiên
Thần nữa. Mẹ rơi vào đêm tối
tăm và lòng Mẹ phiền não, cay đắng
vì khuất mặt Chúa. Mẹ cũng than thở
với các Thiên Thần và các thụ tạo nữa.
Thực thế không thể có nỗi khổ nào
sánh bằng nỗi đau khổ Mẹ phải
chịu. Chưa hết, Chúa quan phòng còn chuẩn
bị cho Mẹ mạnh mẽ hơn nữa để
chiến thắng mặt trận do rắn xà hỏa
ngục bày ra: Dâm dật, giả hình, kiêu ngạo,
ghen ghét.... và mọi hình thức nó cám dỗ loài
người nó dành đổ vào Mẹ. Nhưng
Mẹ cũng cứ một mực cậy trông
vào sự che chở của Chúa.
Ma quỷ cũng nhóm lên trong lòng các chị em đồng
tu ngọn lửa căm hờn, ganh ghét, hành hạ,
buông những lời nặng nhẹ chê bai, xoi
mói, xỉa xói chua cay và buộc tội Mẹ để
gây xáo trộn là kẻ giả hình, đưa điều,
báo cáo, ton hót với Bề Trên và coi Mẹ như
một con quỷ con. Phần Mẹ đối
với họ vẫn nhu mì thực hiện đức
ái tới mức anh hùng lạ thường, lấy
ơn trả oán, chúc phúc thay nguyền rủa,
cầu nguyện thay xỉ báng, yêu thương
thay hận thù. Công đức Mẹ lập khi
đó vượt xa trên công đức của
các Luyến Thần nồng mến nhất.
Điều đau khổ nhất phải nói là
vắng mặt Chúa 8 ngày trước khi thân phụ
Mẹ giã thế đứa con 3 tuổi rưỡi,
cho tới khi Mẹ lên 12 tuổi, tức là tới
khi thân mẫu của Mẹ qua đời, tính
ra là 10 năm.
|
|