|
ẢNH
HƯỞNG CỦA ĐỨC MẸ TRONG GIÁO HỘI
Địa
vị của Đức Mẹ trong Giáo Hội ví được như “Trái Tim” trong thân
thể con người. Nhân đó chúng ta dễ hiểu ảnh hưởng của Đức Mẹ đối
với Giáo Hội quan hệ như thế nào. Chúng ta không muốn trình bày
sự việc theo tưởng tượng. Nhưng chúng ta muốn bằng chứng nơi Thánh
Kinh và Công đồng Vaticanô II để nói lên ý nghĩa mặc khải của
vấn đề.
Trước hết chúng ta xem Công đồng nói gì rồi chúng ta sẽ đi vào
chi tiết của những trang Thánh Kinh nói về ảnh hưởng của Đức Mẹ
đối với Giáo Hội. Công đồng quả quyết trong chương 8 hiến chế
về Giáo Hội như sau: “Đồng thời với việc Ngôi Lời nhập thể, Đức
Mẹ Maria được tiền định từ đời đời để làm Mẹ Thiên Chúa, và cũng
do sự xếp đặt đặc biệt của Thiên Chúa quan phòng, thì ở dưới trần
Đức Mẹ Maria trở nên Mẹ Đấng Cứu Thế, nên người bạn quảng đại
đặc biệt, đồng thời lại là một tớ nữ khiêm nhường của Chúa. Vì
đã cưu mang, sinh thành dưỡng dục Chúa Giêsu, dâng Người lên Chúa
Cha tại nơi đền thánh, rồi ra còn chịu đau khổ vô hạn khi thấy
con chết trên thập giá, nên Đức Mẹ cộng tác với công việc Chúa
Cứu Thế một cách hoàn toàn đặc biệt, cộng tác trong vâng phục,
trong đức tin, trong hy vọng và trong lòng mến nồng nàn để khôi
phục lại đời sống siêu nhiên cho các linh hồn. Vì thế, trong lãnh
vực ơn thánh Người quả là Mẹ chúng ta.”
Trong những dòng vừa kể, Giáo Hội quả quyết và minh xác việc Đức
Mẹ cộng tác với Chúa Giêsu để ảnh hưởng tới Giáo Hội trong thời
gian Chúa Giêsu còn sống dưới trần như thế nào. Cũng như Chúa
Giêsu khi ban ơn cứu độ thì chính Người cũng là Đấng sáng lập
Giáo Hội, một xã hội được cứu rỗi, thì Đức Mẹ khi cộng tác vào
công cuộc cứu thế, Người cũng ảnh hưởng tới chính sự hiện hữu
và sống còn của Giáo Hội. Đó là điều Công đồng muốn quả quyết
theo ánh sáng mặc khải.
1- Trước hết Công đồng muốn nhắc đến chương trình tiền định đời
đời của Thiên Chúa. Từ đời đời Thiên Chúa đã định có việc Ngôi
Lời nhập thể, và vì thế cũng tiền định một người Mẹ cho Ngôi Thiên
Chúa đó.
2- Theo sự xếp đặt của Chúa quan phòng thì người Mẹ đó là chính
Đức Maria để người trở nên (a) Mẹ Đấng Cứu Thế và (b) là người
bạn quảng đại đặc biệt trong công cuộc cứu độ. Như thế là Công
đồng muốn nhắc lại việc Đức Mẹ cộng tác với Chúa Giêsu, không
những trong thiên chức làm mẹ riêng đấng Cứu Thế, mà còn cả trong
công cuộc cứu độ của Chúa Cứu Thế kéo dài cho tới khi chết trên
thập giá. (c) Đức Mẹ còn là một tớ nữ khiêm nhường. Công đồng
nhấn mạnh đến tước hiệu này vì chính Đức Mẹ đã tự gọi mình như
thế (Lc 1, 38) để chỉ tất cả những sự hoạt động mà Người cộng
tác với Thiên Chúa để giúp đỡ nhân loại.
3- Công đồng còn trình bày công tác cụ thể của Đức Mẹ đối với
công cuộc cứu đời, xét theo sự thánh thiện, các nhân đức, và công
phúc cá nhân của Đức Mẹ. Có năm trường hợp cộng tác đặc biệt của
Đức Mẹ đối với Giáo Hội.
1. Khi Người chịu thai Đức Kitô
2. Khi sinh nở
3. Khi nuôi dưỡng
4. Khi dâng con trong đền thánh
5. Khi đau đớn dâng Con trên thập giá
Sau đó Công đồng quả quyết về giá trị cứu độ phổ quát của những
tác động vừa kể. Vì trong những trường hợp trên, không những Đức
Mẹ cộng tác với Chúa Giêsu, mà đồng thời Người còn thực thi những
nhân đức đặc biệt: lòng vâng phục, lòng tin, lòng trông cậy và
đức mến nồng nàn để khôi phục lại đời sống siêu nhiên cho các
linh hồn.
4- Sau cùng Công đồng kết luận bằng một câu rất quan hệ “Vì thế,
Người quả là Mẹ ta trong lãnh vực ơn thánh”.
Tất cả những sự cộng tác của Đức Mẹ với Chúa Giêsu trong cộng
cuộc cứu thế đều có tính cách Giáo Hội, bởi vì Giáo Hội là hiệu
quả đầu tiên của ơn cứu độ. Và vì Đức Mẹ ảnh hưởng vào chính đời
sống ơn thánh, cho nên Người ảnh hưởng vào chính tủy cốt thiêng
liêng của Giáo Hội.
Chúng ta sẽ lần lượt trình bày theo quan niệm Thánh Kinh và thần
học về ảnh hưởng của Đức Mẹ trong Giáo Hội xét theo ba hoàn cảnh
chính Công đồng vừa kể:
1.Cưu
mang sinh thành dưỡng dục
2.Khi dâng Con lên Chúa Cha trong đền thánh
3. Đau khổ khi đứng dưới chân thánh giá. Và tuỳ dịp chúng ta sẽ
nói ít điều về ảnh hưởng của Đức Mẹ đối với Giáo Hội trong biến
cố nước hóa rượu tại Cana, và ngày lễ Hiện xuống, mặc dù Công
đồng không nói tới khi bàn về ảnh hưởng của Đức Mẹ trong Giáo
Hội. Nhưng trước đây khi nói về tương quan giữa Chúa Giêsu và
Đức Mẹ. Công đồng đã đề cập đến hai hoàn cảnh này.
-Cưu mang, sinh thành dưỡng dục
Đức Giáo Hoàng Piô XII trong thông điệp về “ Nhiệm thể Chúa Cứu
Thế” 29-6-1943 trong phần mở đầu quả quyết rằng: “Từ khi con trong
lòng Mẹ Maria, Chúa Cứu Thế đã có tước hiệu là “Đầu”của Giáo Hội.
Vì Người gồm gói tất cả nhân loại trong chính mình Người. Vì Chúa
Cha đã chọn chúng ta trong Đức Kitô, cả ngay trước khi tạo thành
vũ trụ, để cho chúng ta biết mầu nhiệm Thiên ý mà Người đã tiền
định, và khi tới thời viên mãn thì Người sẽ thực hiện. Thánh ý
của Chúa Cha là hợp nhất mọi sự lại dưới một dấu duy nhất là Đức
Kitô”.
1-Trong lòng Đức Mẹ, Ngôi Lời mặc lấy bản tính nhân loại. Bản
tính đó kết hợp mật thiết với chính Ngôi Lời để trở thành nên
một Ngôi với Ngôi Hai Thiên Chúa. Nhưng bản tính nhân loại đó
lại có liên đới đến toàn thể nhân loại. Vì chúng ta có cùng một
bản tính như nhau. Vì thế mọi phần tử trong nhân loại tuy khác
nhau về ngôi vị, nhưng đã thành nên một, vì mối tương quan của
chính nhân tính này ràng buộc lại. Các phần tử đó đương nhiên
là phải thuộc về Đức Kitô là Đầu. Và vì thế khi Đức Mẹ ban nhân
tính cho Đức Kitô, nhân tính có tương quan tới mọi người chúng
ta, thì Đức Mẹ đã cộng tác để làm cho Đức Kitô trở thành Đầu của
cả nhân loại.
Việc Ngôi Lời nhập thể trong lòng Đức Mẹ là đích điểm của cộng
đoàn Cựu ước, và là khởi điểm của Giáo Hội Tân ước, một dân Chúa
xét theo ơn thánh, một dân được chứa chất và gồm gói trong chính
Đầu là Đức Kitô. Vì thế thánh Phaolô đã thốt lên: “Anh em là một
trong Đức Kitô. Và nếu anh em thuộc về Đức Kitô thì anh em cũng
là dòng dõi Abraham , là những người có quyền thừa tự theo lời
hứa” (Ga 3, 29).
Chân lý nền tảng về việc chúng ta được đồng hoá với Đức Kitô minh
xác rằng thiên chức làm Mẹ của Đức Maria đối với Đầu mầu nhiệm,
là Đức Kitô, cũng chính là nguyên lý nền tảng về việc Đức Mẹ là
Mẹ thiêng liêng của các thành phần thuộc Chúa Giêsu tức là Giáo
Hội. Các thánh Giáo Phụ khi gọi ngày sinh nhật của Đức Kitô thì
cũng gọi ngày đó chính là sinh nhật của Giáo Hội. Và khi xưng
ra Đức Mẹ là Mẹ Chúa Cứu Thế thì đồng thời cũng quả quyết Đức
Mẹ Maria là Mẹ thiêng liêng của Giáo Hội, một xã hội bắt đầu có
từ trong lòng Đức Trinh nữ Maria. Đức Giáo Hoàng Piô X, trong
thông điệp Ad Illum Diem 2-2-1904 tóm lược đạo lý của các Giáo
phụ như sau: “Trong lòng cực sạch của Mẹ Maria, Đức Kitô đã nhận
lấy cho mình một xác và đồng hóa với chính mình Người những chi
thể thiêng liêng, là những kẻ sẽ tin vào Người. Vì thế khi Đức
Mẹ mang thai Đức Kitô, thì chúng ta có thể nói Người cũng mang
thai tất cả những ai mà đời sống của họ được chứa đựng trong chính
đời sống của Đức Kitô. Vì như thánh Phaolô quả quyết, chúng ta
là thành phần của thân thể Đức Kitô, là thành phần của chính thân
xác Người, và cũng là thành phần của chính xương tủy Người (Eph
5, 30) vì thế chúng ta cũng được cưu mang và sinh ra từ trong
lòng Đức Mẹ. Và cũng vì thế Đức Maria là Mẹ của tất cả chúng ta”.
Khi truyền tin cho Đức Mẹ, Thiên sứ Gabriel đã trình bày cho Người
biết rằng: Đấng Cứu Thế sẽ là Vua, và Chúa Cha sẽ ban cho Người
một nước. Thiên sứ nói: “Người sẽ nên cao cả và sẽ được gọi là
Đấng Tối Cao, Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu của vua Đavít
là cha Người, Người sẽ cai trị trong nhà Giacóp cho đến đời đời,
và nước Người sẽ không có ngày tàn lụi”. (Luc 1, 32-33). Nước
của Đấng Cứu Thế đây chính là Giáo Hội. Khi đồng ý chịu thai Đấng
Cứu Thế tức là Đức Mẹ đồng ý ban cho Giáo Hội Đấng sáng lập và
là Đầu Giáo Hội.
Cho rằng trong giờ phút truyền tin Đức Mẹ không ý thức được rõ
ràng việc sẽ xảy ra, nhưng trong thực tế, Thiên Chúa muốn sự hiện
hữu của Đầu và của Đấng Sáng Lập Giáo Hội tùy thuộc vào Đức Mẹ.
Vì thế trong chương trình của Thiên Chúa, chính Đức Mẹ cũng có
trọng trách đối với Giáo Hội, một trọng trách nối liền với việc
Người đồng ý để làm Mẹ Đấng Cứu Thế.
2.
Hơn nữa khi Giáo Hội đã thành hình, Đức Mẹ vẫn còn ảnh hưởng tới
Giáo Hội với nhiệm vụ một người Mẹ, không những với thiên chức
là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ đấng cứu thế, mà còn với Thiên chức là một
tân Evà, một bà Mẹ của loài người. Trong lúc chấp nhận lời thiên
sứ, Đức Mẹ bắt đầu thi hành sứ mệnh đó đối với Giáo Hội.
Công cuộc nhập thể của Ngôi Lời còn được diễn tả như một cuộc
hiệp hôn giữa Con Thiên Chúa và nhân loại. Cuộc hiệp hôn đó được
tiên báo qua các Tiên tri trong Cựu ước, và bắt đầu thực hiện
trong lòng Đức Mẹ khi Chúa Cha ban cho Chúa Con nhân tính. Cuộc
hiệp hôn đó còn được thể nhận nhờ chính bửu huyết Chúa Cứu Thế
đổ ra trên thập giá,và còn kéo dài cho tới vô cùng trên thiên
quốc, nơi mà Giáo Hội sẽ được vào để hưởng vinh quang sau những
ngày gian nan dưới thế.
Giai đoạn đầu tiên của cuộc hiệp hôn bắt đầu thực hiện từ phút
truyền tin. Ngôi Lời đồng ý phối hợp với nhân tính qua lời môi
giới của thiên sứ. Nhưng Thiên Chúa, đấng có sáng kiến về Giao
ước này với dân Người, cũng muốn nhân loại, nhất là Giáo Hội,
kẻ được thừa hưởng những hiệu quả thiêng liêng của ơn cứu độ phải
tỏ ra sự đồng ý. Việc này được thực hiện nhờ Đức Mẹ Maria, đấng
đại diện có đầy đủ điều kiện cho nhân loại và cho Giáo Hội. Vì
thế lời thưa xin vâng của Đức Mẹ đã có một tính cách rất quan
trọng đối với Giáo Hội. Vì tất cả sự hiệp hôn mầu nhiệm của ơn
cứu độ sẽ được lớn mạnh trong Giáo Hội, là nhiệm thể Đức Kitô,
phải tùy thuộc vào lời thưa đó.
3. Hơn nữa trong lúc truyền tin, và trước khi trở thành Mẹ Giáo
Hội, qua thiên chức làm Mẹ Đức Kitô là Đầu Giáo Hội, Đức Mẹ Maria
với lời thưa “Xin vâng” đã chỉ định cho Ngôi Lời một Phu nhân
tức là Giáo Hội, một thành phần khác với chính Đức Kitô là Đầu.
Cũng trong lòng Đức Mẹ, Chúa Giêsu phối hiệp với bản tính nhân
loại, và vì thế phối hiệp với Giáo Hội như với một Tân Evà, kẻ
được thành nên bởi chính xương sườn Adong Mới, để Giáo Hội trở
nên một người cộng tác giống hệt Đức Kitô, để thông ban ra cho
nhân loại những hiệu quả của ơn cứu độ.
C. Dillenschneider viết về điểm này như sau: “Lời thưa Xin Vâng
có tính cách Giáo Hội này phải được hiểu là nhân danh mọi người
mà Đức Mẹ đã vâng lệnh Chúa Cha để chịu thai Chúa Con, và Đức
Mẹ đồng ý để Chúa Con trở thành Đấng Cứu chuộc chúng ta. Và vì
thế trong mầu nhiệm nhập thể, Đức Kitô và Giáo Hội hiện diện nơi
Mẹ Maria, đã vâng lệnh Chúa Cha thực hiện việc hiệp hôn theo đúng
như chương trình của Thiên Chúa”. Tuy thế sự đồng ý của Đức Mẹ
và của Chúa Giêsu không làm cho sự đồng ý của mọi người chúng
ta trở thành vô ích, vì Thiên Chúa muốn chính chúng ta cũng phải
cộng tác trong công cuộc cứu độ cá nhân.
Theo cách trình bày sơ lược trên đây, chúng ta thấy ảnh hưởng
của Đức Mẹ trong Giáo Hội thực là sâu xa và mật thiết. Chúng ta
không thể tách Giáo Hội ra khỏi đầu là Đức Kitô. Chúng ta cũng
không thể và không có quyền tách rời Đức Mẹ ra khỏi Giáo Hội,
vì mối tương quan mật thiết giữa Đức Mẹ và Chúa Giêsu cũng như
giữa Đức Mẹ và Giáo Hội mật kết với nhau khăng khít. Bỏ một là
mất cả ba.
|