|
|
ĐỨC
MẸ TẠI ĐỀN THÁNH VÀ CANA
Vì
được chỉ định để kết hợp và cộng tác mật thiết với Con trong công
cuộc cứu độ, nên ngày thứ tám sau khi Con chào đời, Đức Mẹ vâng
lệnh Chúa, đem con đi chịu cắt bì, và đặt tên cho con là Giêsu,
nghĩa là “Đấng Cứu Thế”.
Sau 40 ngày, Đức Mẹ lại cộng tác lần nữa trong việc cứu đời, khi
dâng Con trong Đền Thánh. Người con đó chính là vị Thượng Tế,
Đấng đã dâng mình cho Chúa Cha khi giáng trần và sẽ dâng phó trọn
vẹn như của lễ toàn thiêu trên thập giá. Tại đây cũng như tại
đó, Đức Mẹ luôn đứng gần để hiến tế Con.
Tại Đền Thánh, Đức Mẹ dự các nghi lễ với trọn niềm vâng phục,
tin tưởng hy vọng và yêu mến nồng nàn, như Công đồng quả quyết
(L.G.n. 61). Rồi cùng thánh Giuse, Đức Mẹ dâng con trong Đền Thờ,
một người con duy nhất, một người con sẽ trở nên Anh Cả của muôn
dân, là những kẻ nhờ ơn thánh sẽ được nên giống như Người. trong
ngày đó Chúa Cứu Thế vào đền thánh Giêrusalem lần đầu tiên, nhưng
vào một cách âm thầm, tuy ngài là Chúa của đền thờ đó. Vì thế
cần phải có Chúa Thánh Thần soi sáng thì Ông Simêon và bà Anna
mới nhận ra Người là chính Đấng Cứu Thế. Tại đền Thánh, Chúa Giêsu
làm cho Chúa Cha vui mừng vì thấy một của lễ đặc biệt chưa hề
thấy tại đây. Của lễ đó chính là Con Một Người. Đây là một của
lễ hoàn hảo, khả dĩ thay thế được bất cứ hy lễ nào khác của Cựu
ước.
Nhưng ta đừng quên rằng của lễ đó được dâng tiến lên Chúa Cha
qua tay Đức Mẹ. Vì đầy ơn Chúa Thánh Thần Đức Mẹ hiểu giá trị
của việc dâng Chúa Con, và Người cũng cảm thấy những xúc động
của chính Chúa Con đang hồi hộp đập mạnh trong tim. Trong giờ
phút Truyền tin, Đức Mẹ đại diện nhân loại đồng ý cộng tác, như
một người Mẹ trong công cuộc cứu thế, thì giờ đây tại Đền Thánh,
Đức Mẹ cũng nhân danh toàn thể nhân loại dâng hiến Chúa Giêsu
để đem lại ơn cứu độ cho loài người.
Chúa Giêsu muốn có Đức Mẹ cộng tác trong cuộc dâng hiến này. Quả
thế ông Già Simêon, được Chúa Thánh Thần soi sáng, đã quả quyết
về Chúa Giêsu và Đức Mẹ rằng: “Người Con này sẽ là đích cho nhiều
cuộc chống đối, và tâm hồn Bà sẽ phải gươm sắc thâu qua” (Luc
3, 34-35). Đây chính là lời tiên tri xa xa và kín đáo về cuộc
khổ hình trên Núi Sọ. Nghe thế, Đức Mẹ “Giữ kỹ các điều đó trong
lòng” (Lc 2, 51), nghĩa là không bao giờ Người có thể quên, và
cũng luôn luôn sẵn sàng chấp nhận những đau khổ sẽ xảy tới.
Vì thế mà Công đồng quả quyết: khi dâng con lên Chúa Cha, trong
đền thánh, Đức Mẹ cộng tác trong việc cứu độ một cách đặc biệt,
cộng tác với lòng vâng phục, tin tưởng, hy vọng và yêu mến nồng
nàn, để phục hồi sự sống siêu nhiên cho các linh hồn, và đồng
thời mang lại sự hiện hữu cho Giáo Hội, vì Giáo Hội là xã hội
của những người tin vào Đức Kitô, những kẻ được sống đời sống
siêu nhiên, ban ra từ Chúa Cứu Thế, qua sự cộng tác của Đức Mẹ.
Tại Cana, (Gn 2, 1-11) sự cộng tác và can thiệp đắc lực của Đức
Mẹ lại càng được diễn tả rõ ràng. Nhờ Đức Mẹ mới có phép lạ. Nhờ
phép lạ mà các Tông đồ tin vào Chúa Giêsu. Đây chính là việc Đức
Mẹ cộng tác hữu hiệu và tích cực nơi cộng đồng tín hữu tiên khởi,
một cộng đồng liên kết với Chúa Giêsu qua đức tin, và rồi ra Chúa
Giêsu sẽ làm cho cộng đoàn đó trở thành Giáo hội hoàn toàn. Đó
không phải là một việc cộng tác và can thiệp hữu hiệu của Đức
Mẹ với Giáo Hội vừa thành lập hay sao?
Trang Thánh Kinh đầy ý nghĩa này đã khiến các Giáo Phụ, và các
nhà Thần học thời Trung cổ nói lên hăng hái ý nghĩ thần bí của
Giáo Hội. Theo thánh Thoma, thì lễ cưới tại Cana tượng trưng cho
việc kết hợp giữa Đức Kitô và Giáo Hội. (In Gn. II lect. 1). Vì
theo sách Khải huyền 19, 7 và 21, 2 Giáo Hội được mô tả là Phu
nhân hay vị Hôn thê của Chúa Cứu Thế. Việc kết hợp có tính cách
hôn phối này được tượng trưng tại Cana và được thực hiện đầy đủ
tại Calvario, nơi mà Mẹ Maria cũng có cùng một nhiệm vụ và hành
động hữu hiệu.
Nếu thánh Gioan khi viết Phúc âm đã có ý để mọi người tin vào
Chúa Cứu Thế, thì hơn bất cứ một Thánh Sử nào khác, Đức Mẹ đã
làm cho các tín hữu tiên khởi tin rằng Đức Kitô là Thiên Chúa.
Chúng ta cần chú ý đến câu 11 chương 2 của Phúc âm thánh Gioan
khi tả về phép lạ nước hóa rượu tại Cana. Thánh Gioan viết: “Tại
Cana xứ Galilea Chúa Giêsu làm phép lạ đầu tiên để tỏ ra sự vinh
hiển Ngài và các tông đồ đã tin vào Ngài”.
Động từ “Tin” được nói tới 9 lần trong thánh Marcô, 5 lần trong
thánh Matheo, 5 lần trong thánh Luca, nhưng 37 lần trong Phúc
âm thánh Gioan. Ngay trong chương nhất câu 7, thánh Gioan Tiền
Hô đến để làm chứng về sự sáng để mọi người nhờ đó mà tin vào
Người. Rồi trong chương kết, thánh Gioan nhắc lại cùng một luận
điệu: “Trước mặt các môn đệ, Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ
khác, không thể kể hết ra trong sách này. Các điều đã viết ra
đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là chính Đấng Kitô, Con Thiên
Chúa, và bởi tin, anh em sẽ được sống nhờ danh Ngài” (Gn 20, 30-31).
Chính nhờ sự can thiệp của Đức Mẹ mà phép lạ đầu tiên được thực
hiện và nhờ phép lạ đó đức tin của các Tông đồ bắt đầu sống động.
Theo Chúa Giêsu thì giờ làm phép lạ chưa đến. Nhưng chính Đức
Mẹ chỉ định để giờ phút khai mạc cuộc sống công khai của Chúa
bắt đầu. Cuộc sống công khai bắt đầu từ các phép lạ. Những phép
lạ đó tiềm ẩn trong Đức Kitô. Và 18 năm về trước, tại đền thánh,
lúc Chúa 12 tuổi, xem ra Chúa chưa muốn thực hiện khi thưa lại
với Mẹ: “Tại sao tìm con, Ba Má không biết rằng Con phải ở lại
trong nhà Cha con” (Luc 2, 49). Nhưng lần này vì vâng lời Đức
Mẹ, tuy thực sự chưa đến giờ, Chúa Giêsu bắt đầu đời sống công
khai bằng một phép lạ.
Quyền lực của Đức Mẹ nơi Chúa Giêsu thực không thể được mô tả
một cách hùng hồn hơn. Cũng không thể vấn nạn rằng Đức Mẹ chỉ
có ý can thiệp để giúp đôi tân hôn trong những thiếu thốn vật
chất, chứ không phải để ban lòng tin cho các Tông đồ. Điểm này
trái hẳn với quan niệm của Phúc âm thánh Gioan. Theo quan niệm
của Gioan, một quan niệm được linh hứng thì Đức Mẹ Maria can thiệp
hữu hiệu nơi Chúa Con để Người làm phép lạ đầu tiên, và nhờ phép
lạ đó các môn đệ tin vào Chúa Giêsu. Và như thế, các ngài là những
thành phần tiên khởi của Giáo Hội đã được tháp liền vào với Đức
Kitô, là Đầu Giáo Hội.
|
|