|
|
ĐỨC
MẸ VÀ GIÁO HỘI TẠI CALVARIO
Như
chúng ta đã nói, từ giờ phút Truyền tin, Giáo Hội được tiềm ẩn
thụ thai cùng với Đầu là Đức Kitô trong lòng Đức Mẹ. Nhưng xét
theo phương diện Giáo Hội là thành phần khác với Đầu, thì Giáo
Hội được sinh ra tại đồi Calvario, dưới chân Thánh Giá, nơi Chúa
Giêsu chịu chết để chuộc tội loài người, và để chúng ta được nên
một với Người. Giáo Hội được tháp vào Chúa Giêsu đau khổ và tử
hình cũng là nhờ có Mẹ Maria. Vì tại Calvario, Đức Mẹ làm cho
Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, trở thành đồng bạn với loài người
có tội, bằng cách là chính Đức Mẹ ban cho Chúa Con một thân xác
thuộc dòng giống Adong. Vì thế hơn bất cứ ai trong Giáo Hội, và
hơn cả Giáo Hội, Đức Mẹ đi sát với mầu nhiệm cứu độ của Chúa Con.
Đức Mẹ cũng được hưởng ơn cứu độ hơn bất cứ ai, vì duy có mình
Đức Mẹ thuộc dòng dõi loài người mà lại không vướng mắc tội gì
hết.
Khi chịu đau khổ, Chúa Giêsu, Đấng vô tội, được thụ thai bởi một
người mẹ vô tội, đã chuộc lại Giáo Hội, làm cho Giáo Hội kết hợp
với chính mình Người, và giữ mẹ Người khỏi mọi tì ố của tội nguyên
tổ. Người Mẹ này luôn kết hợp với con ngay từ giây phút truyền
tin. Hơn nữa, Chúa Giêsu là một Adong mới, trong đám cưới tại
Cana, đã nhờ Đức Mẹ mà lôi cuốn được những môn đệ đầu tiên, những
thành phần tiên khởi của Giáo Hội, thì trong lúc chịu thương khó,
khi chinh phục Giáo Hội bằng chính bửu huyết của mình, Chúa Giêsu
cũng muốn Đức Mẹ cộng tác như một Tân Evà, Mẹ các tín hữu. Trên
đây là ý kiến của Đức Giáo Hoàng Piô XII trong thông điệp “Nhiệm
thể Chúa Kitô” phần mở đầu.
Việc Đức Mẹ hợp tác với Chúa Giêsu trong cuộc tử nạn mang lại
một ảnh hưởng đặc biệt và một kho tàng ơn phúc cho Giáo Hội, đúng
như lời Đức Piô XII quả quyết theo quan niệm thuần tuý công giáo:
“Đức Mẹ can đảm và tin tưởng chịu lấy những đau đớn hãi hùng hơn
mọi đau đớn của bất cứ một tín hữu nào. Đức Mẹ quả thực xứng danh
Nữ Vương các Đấng Tử Đạo”. Và như thế Đức Mẹ hoàn tất trong mình
những gì còn thiếu nơi cuộc Tử nạn để mưu ích cho Giáo Hội là
nhiệm thể của Chúa (Col 1, 24).
Ảnh hưởng sâu rộng này của Đức Mẹ trong cuộc tử nạn khác hẳn với
mọi phần tử của nhiệm thể Chúa Cứu Thế, vì không những có liên
quan đến việc bành trướng một Giáo Hội mới được thành lập, vì
mới được hoàn toàn cứu độ trên núi Sọ, nhưng còn ảnh hưởng một
cách trực tiếp tới chính việc thành lập Giáo Hội, vì Giáo Hội
là hiệu quả đầu tiên của cuộc tử nạn Chúa Cứu Thế. Đức Mẹ tích
cực cộng tác trong việc tử nạn này. (Xin coi thông điệp Haurietis
aquas của Đức Piô XII 15-5-1956).
Nên chú ý rằng sự cộng tác đây không phải là sự cộng tác bổ túc,
xét theo phương diện là công nghiệp Chúa Giêsu không đủ để cứu
thế, nhưng là một sự cộng tác tùy thuộc. Nghĩa là các công nghiệp
của Đức Mẹ chỉ có giá trị khi tùy thuộc vào công cứu thế của Chúa
Giêsu. Ơn cứu chuộc do Đức Mẹ nhận được một cách đầy đủ hơn bất
cứ ai khác. Vì thế sự cộng tác của Đức Mẹ có thể được coi như
một sự cộng tác của một dụng cụ, một dụng cụ có tự do và ý chí
muốn cộng tác. Thân xác Chúa Kitô mới chính là dụng cụ đi liền
với Ngôi Lời để cứu chuộc nhân loại, còn Đức Mẹ và cùng Đức Mẹ,
các tín hữu là những dụng cụ tách biệt, Chúa Giêsu muốn dùng để
thực hiện ơn cứu độ trong suốt thời gian còn lại của Giáo Hội.
Tuy rằng một mình công nghiệp Chúa Giêsu hoàn toàn đầy đủ để cứu
chuộc nhân loại, nhưng Chúa cũng có thể muốn cho cuộc tử nạn đó
được hoàn tất với sự cộng tác của Mẹ Maria, là đấng đại diện toàn
thể nhân loại và Giáo Hội, trong khi Chúa phải trả một giá vô
cùng mắc mỏ và đau đớn để cứu chuộc nhân loại. Thậm chí có sự
cộng tác của Đức Mẹ như vậy là vì chúa muốn cho Giáo Hội, mà Đức
Mẹ là đại diện, lãnh nhận ơn cứu độ không phải bằng một thái độ
tích cực. Cũng như khi ta tin mà chịu các bí tích hay làm các
việc đạo đức khác, thì lúc đó không phải ta chỉ lãnh nhận ơn cứu
chuộc một cách thụ động, nhưng đồng thời ta cũng tích cực tham
dự, và đón nhận ơn cứu chuộc ban ra từ cây Thánh Giá, và hiện
nay Chúa trao cho Giáo Hội quản trị. Xét theo quan niệm này thì
Đức Mẹ chính là đấng cộng tác hữu hiệu nhất trong công cuộc cứu
thế.
Tuy nhiên Đức Mẹ cũng được cứu chuộc, và được cứu chuộc ngay cả
trước khi Chúa Giêsu chịu chết trên thập giá. Đó là một đặc ân
để Đức Mẹ cộng tác với Chúa Giêsu trong việc cứu chuộc các linh
hồn. Vì thế trong hiện thân của Đức Mẹ Maria, chính Giáo Hội được
trở thành kẻ được cứu rỗi các linh hồn. Đức Mẹ chính là thành
phần đầu tiên của Giáo Hội. Vì thế Đức Piô XII kết luận: “Theo
thể lý, Đức Mẹ là mẹ của Đầu Giáo Hội, và theo tinh thần thì Đức
Mẹ là mẹ các chi thể khác, xét theo phương diện là Đức Mẹ đã phải
đau khổ, và sau đau khổ, Ngài được hưởng vinh quang” (Thông điệp
nhiệm thể Chúa Kitô).
Bản chất của việc Đức Mẹ đồng công cứu chuộc, như đồng nguyên
nhân tác thành, có thể được xét theo trường hợp: Trước hết khi
chịu thai Chúa Cứu Thế, Đức Mẹ quả là môt nguyên nhân thể lý,
vì thực sự Đức Mẹ ban sự hiện hữu thể lý cho Chúa Giêsu là Đầu
của Giáo Hội. Người còn là nguyên nhân “Cầu viện” như được chứng
tỏ tại đám cưới Cana. Và sau hết Đức Mẹ cũng là đồng nguyên nhân
cứu độ khi Người dâng con trong Đền thánh và đặc biệt là tại chân
đồi Calvario. Và vì thế việc đồng công của Đức Mẹ bao giờ cũng
đầy công phúc khả dĩ nhờ đó ta có thể xin Chúa thương xót về mọi
mặt.
Hơn thế nữa, khi cứu chuộc loài người bằng giá Máu Thánh, Chúa
Giêsu trở thành Vua của nhân loại. Vì trong ngôi vị Chúa Giêsu
hằng có thiên tính, là chính Thiên Chúa, Vua vũ trụ. Vì thế việc
Đức Mẹ cộng tác với Chúa Giêsu trong công cuộc cứu đời còn mang
lại cho Người một tước hiệu mới, tước hiệu “Nữ vương” vì Đức Mẹ
là mẹ của Vua trời đất, mẹ của Vua trong một nước mới là Giáo
Hội.
Trong ngày lễ Hiện Xuống (Act. 1, 14) ngày Giáo Hội được công
khai và hoàn toàn chính thức thành lập, thì Đức Mẹ cũng hiện diện
tại đó, với địa vị một người mẹ. Ngài đã cộng tác, cầu nguyện
và ảnh hưởng lớn lao tới Giáo Hội. Đức Piô XII quảng diễn lời
tường thuật của Thánh Luca trong Tông đồ công vụ như sau: “Với
những lời kinh nguyện tha thiết, Đức Mẹ xin Chúa Thánh Thần ngự
xuống trên Giáo Hội mới chào đời, và Ba Ngôi cho Giáo Hội những
đặc ân và dấu lạ.” (Nhiệm thể phần mở đầu).
Rồi từ đó, cũng theo lời Đức Piô XII “Đối với Giáo Hội, nhiệm
thể Chúa Cứu Thế, được phát xuất từ trái tim bị đòng thâu qua
trên thập giá, Đức Mẹ luôn ân cần săn sóc với tâm tình và lòng
yêu thương của một người mẹ, tâm tình và lòng yêu thương Người
hằng có đối với Chúa Cứu Thế.” Quả thế, không ai dám phủ nhận
là trong suốt đời sống dưới trần, kể từ ngày lễ Hiện xuống cho
tới khi về trời, Đức Mẹ là nguồn soi sáng, yên ủi, khích lệ và
là gương mẫu cho các tông đồ và các tín hữu tiên khởi. Thánh Luca
vắn tắt kể lại bằng một câu thực đầy ý nghĩa về Giáo Hội: “Hết
thảy đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện cùng với các phụ
nữ và Đức Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu và cùng với các anh em Ngài”
(Act. 1, 14). Tất cả những người này là thành phần Giáo Hội. Nhưng
trong các thành phần đó, không ai có thể nghi ngờ được Đức Mẹ
là chính “Trái tim” là nguồn sống và là động lực hữu hình hiệu
nghiệm nhất nơi Giáo Hội sơ khai.
Trên đây là quan niệm, mà không những Giáo Hội Công giáo, trái
lại các anh em Tin lành cũng đồng ý kiến. Để khỏi dài dòng vì
phải kể đến ý kiến của Luther, Calvin, Parker, Asmussen, ta xin
phép chỉ kể đến ý kiến của M. Thurian, hiện nay sống tại nhà dòng
Taizi, như là đại diện cho ý kiến anh em bên Tin lành. Thurian
viết “Lời tiên tri của Simeon một gươm sắc sẽ thâu qua tim bà
đã làm cho Đức Mẹ kết hợp với Chúa Giêsu, không những trong mầu
nhiệm nhập thể, mà còn cả trong mầu nhiệm khổ nạn của Chúa Cứu
Thế... Đức Mẹ hiện diện trong cuộc thương khó, trong giờ phút
hấp hối, trong lúc con sinh thì đau đớn. Tận đáy lòng, Đức Mẹ
cảm thấy đau đớn khôn tả cùng Con, người con duy nhất, người con
nên một với Mẹ, người Con mà Đức Mẹ sinh thành, nuôi nấng săn
sóc và yêu thương. Phúc âm diễn tả đúng tâm lý người mẹ. Nhờ đó
ta có thể cảm nghiệm và tưởng tượng được nguồn đau khổ của Đức
Mẹ mà các Tiên tri báo trước và nay thực hiện khi Đức Mẹ thấy
con yêu dấu quằn quại trong đau thương để kết thúc cuộc đời một
cách vô cùng thê thảm. Dưới chân Thánh giá, Đức Mẹ đứng đó là
để sống một đời sống tương phản đã kể trong Phúc âm, nghĩa là
để chứng kiến việc con người là Thiên Chúa mà phải đau khổ và
phải chết. Đức Mẹ còn cảm thấy trong mình tất cả những đau đớn
(mà theo thánh Phaolô gọi là) còn thiếu trong cuộc khổ nạn của
Chúa Giêsu để mưu ích cho Giáo Hội (Col 1, 24). Điều thánh Gioan
tả ‘Đức Mẹ đứng đó’ khiến ta phải nhận ra một sức mạnh lạ lùng
của lòng tin mà cuộc khổ hình của Chúa Giêsu mang lại cho Đức
Mẹ và cho bất cứ ai sẽ thông công những đau khổ và cái chết của
Chúa. Trong Đức Mẹ, chúng ta thấy chiếu lên nỗi đau thương của
Chúa, một nỗi đau thương vô cùng. Như thế chúng ta hiểu được Đức
Mẹ phải đau khổ tới mức nào.Vì cương trực và trung thành khi đứng
dưới chân Thánh giá, Đức Mẹ liên kết với mọi cuộc tử đạo và đau
khổ của chính Giáo Hội, và đồng thời Đức Mẹ trở nên một chứng
nhân về các hiệu quả lạ lùng của cuộc tử nạn là lòng tin, kiên
nhẫn, và bình an. Kết hợp với đau khổ của Con, Đức Mẹ trở nên
một với con bị treo trên thập giá... dưới chân Thập giá, Đức Mẹ
đau đớn vô cùng, nhưng lại không làm gì được để bớt một đau khổ
cho Con, một người con vẫn sống trong lòng Mẹ, và nhờ mẹ để tỏ
mình ra cho thế gian... Quả thực, một gươm sắc sẽ thâu qua trái
tim Mẹ” (xin coi Marie, Mère du Seigneur, Figure de l’Eglise,
Taizé 1962 p. 145...).
|
|