|
|
ĐỨC
MARIA LÀ MẸ HAY LÀ BÀ
Tước
hiệu “Mẹ Giáo Hội” đã được các nhà thần học từ thời Trung cổ và
các Đức Giáo Hoàng từ trước đến nay đề cập đến, nhưng lại không
được Công đồng Vaticano II cho vào trong Hiến chế Lumen Gentium.
Lý do vì nhiều Nghị Phụ cho rằng tước hiệu đó đặt Đức Mẹ ở trên
Giáo Hội. Nhưng ngày 21-11-1964, ngày lễ Đức Mẹ dâng mình vào
Đền Thánh, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI kết thúc khóa III của Công
đồng Vaticano II bằng một bài diễn thuyết hùng hồn, và long trọng
tuyên bố ‘Đức Mẹ Maria là Mẹ Giáo Hội’ như sau : “Để làm vinh
danh Đức Mẹ, để khích lệ loài người, Ta tuyên bố: Đức Mẹ Maria
là Mẹ Giáo Hội. Nghĩa là Ngài là Mẹ của toàn thể dân Chúa, con
chiên cũng như chúa chiên, và Ta gọi Ngài là Mẹ rất yêu dấu, và
Ta muốn rằng từ nay trở đi giáo hữu hãy tôn trọng và kêu cầu Đức
Mẹ với tước hiệu rất êm ái đó”.
Các cuộc bàn cãi trong Công đồng đã đưa ra hai lý do có tính cách
đạo lý về chức Mẹ Giáo Hội. Ta xin tường thuật lại đây:
1. Nên nhận định rằng Đức Maria là Mẹ Giáo Hội và Giáo Hội là
con Đức Mẹ, đồng thời Giáo Hội lại là mẹ ta. Nhưng không phải
vì thế mà kết luận thiên chức Mẹ thiêng liêng của Đức Mẹ đối với
ta chỉ là một điều gián tiếp, vì thế Đức Mẹ chỉ nên gọi là “Bà”
hơn là Mẹ. Và đấy cũng là lý do tại sao nhiều vị không muốn tước
hiệu Mẹ Giáo Hội được nói rõ trong Hiến Chế.
Nhưng vấn nạn này được giải quyết dễ dàng nếu ta quan niệm rằng
chúng ta đang bàn về bản chất siêu nhiên của thiên chức làm Mẹ
của Đức Maria và của Giáo Hội. Đối với chức làm cha hay làm mẹ
theo nghĩa thể lý thì quả thực người cha hay người mẹ trở thành
“ông” hay “bà” khi người con của họ đã sinh ra kẻ nối dòng. Vì
thế ông Abraham là Cha của Isaac đương nhiên phải là Ông của Jacop.
Nhưng trong sách Thánh Abraham thường được gọi là cha của Jacop.
Trường hợp này đương nhiên là có hai cách làm cha khác nhau và
biệt lập. Việc Abraham là cha của Isaac là một tước hiệu theo
nghĩa tự nhiên. Còn đối với Jacop thì Abraham là cha theo nghĩa
siêu nhiên. Cũng thế, Thiên Chúa là Cha ta vì Ngài thông ban cho
ta sự sống tự nhiên và siêu nhiên. Nhưng vị linh mục cũng được
hân hạnh gọi là cha tín hữu, vì thông cho ta ơn thánh. Không phải
vì có linh mục mà Thiên Chúa phải được gọi là “Ông”. Bởi vì chức
cha đó không phải là hai cái biệt lập khác nhau, mà trái lại do
cùng một nguồn duy nhất là Thiên Chúa. Thiên Chúa thông ban chức
cha cho các linh mục, vì linh mục là dụng cụ, là thừa tác viên
trong việc thánh hóa các linh hồn.
Về chức làm Mẹ của Đức Maria và Giáo Hội cũng thế. Đây không phải
là hai thiên chức nối tiếp nhau, thậm chí Đức Maria chỉ là Mẹ
Giáo Hội, còn Giáo Hội mới là Mẹ ta. Nhưng là một thiên chức thiêng
liêng. Thiên chức này được ủy thác đầy đủ nơi Đức Maria, và Chúa
cũng thông ra cho Giáo Hội, cho hàng Giáo phẩm để thi hành sứ
mệnh sinh ra các tín hữu, nhờ việc thi hành quyền giáo huấn và
các nghĩa vụ thánh. Khi Giáo Hội thi hành nhiệm vụ làm mẹ thì
Đức Maria cũng luôn có mặt để giúp đỡ Giáo Hội trong việc thi
hành nhiệm vụ này. Đức Maria cũng ảnh hưởng trực tiếp nơi từng
tín hữu, cả khi họ trực tiếp nhận lấy ơn thánh do tay Giáo Hội.
Vì thế ta phải nói: thiên chức làm mẹ của Đức Maria và của Giáo
Hội luôn đi đôi, và hòa hợp với nhau một cách huyền diệu. Cũng
như chức linh mục của Chúa Giêsu và của hàng giáo phẩm, hoặc chức
làm cha của Thiên Chúa và của ba má ta cũng luôn song hành và
hòa hợp khéo léo.
2. Nhưng không phải vì thế mà ta được nói rằng: Nếu Đức Maria
là Mẹ Giáo Hội thì Ngài cũng là mẹ chính Ngài, bởi vì Đức Mẹ cũng
thuộc về Giáo Hội. Không. Đức Maria thực sự thuộc về Giáo Hội
và thành phần của Giáo Hội xét theo phương diện Đức Maria khác
với đầu của Giáo Hội, là Chúa Giêsu. Nhưng Đức Maria lại là mẹ
thiêng liêng đối với các thành phần khác của Giáo Hội, chứ không
đối với chính mình Ngài được. Cũng như trong gia đình người mẹ
thuộc về gia đình và là thành phần của gia đình, vì người mẹ khác
với chồng là người đầu trong gia đình, nhưng đồng thời người mẹ
lại là mẹ của gia đình, không phải là mẹ của chồng, mà là mẹ đối
với các phần tử khác, và không bao giờ lại là mẹ của chính mình.
3. Ngoài hai nhận xét trên của các Nghị phụ, chúng ta cũng nên
tóm lược trình bày mấy quan niệm khác theo Thánh Kinh: ngay từ
trang đầu của lịch sử ơn cứu độ, khi Thiên Chúa hứa Đấng Cứu Thế,
chúng ta đọc thấy những lời lạ lùng này: “Ta sẽ đặt mối thù giữa
mày (con rắn) và người Nữ, giữa dòng dõi mày và dòng dõi người
Nữ. Dòng dõi người Nữ sẽ đạp giập đầu mày, còn mày thì rình cắn
gót chân Người.” (Gen 3, 15). Câu hỏi được đặt ra ngay là: dòng
dõi người nữ là ai. Chỉ Đức Kitô mà thôi hay chỉ cả toàn thể Đức
Kitô, tức là Giáo Hội, nhiệm thể của Ngài?
Câu thưa có lẽ là chương 12 sách Khải huyền, một cuốn sau hết
trong bộ Sách Thánh,và là sách được coi là kết thúc lời Chúa tuyên
bố đầu tiên về ơn cứu độ. Sách Khải huyền tả rằng: Người Nữ đó
sinh một Con Trai, Đấng sẽ lấy trượng sắt mà chăn dắt các dân
hết thảy (12, 5). Theo quan niệm chung, thì câu này rõ ràng chỉ
về đấng Messia, con của Đức Trinh Nữ Maria, Đấng Messia chính
là dòng dõi của người Nữ theo nghĩa thể lý, và đã được Đức Mẹ
Maria sinh ra, xét theo nhân tính. Rồi sách Khải huyền lại kể
thêm: “Con Bà được cất bổng lên nơi Thiên Chúa, lên ngai của Người.
Xảy ra đại chiến giữa Michael và các thiên thần của Ngài với con
Rồng và các kẻ theo nó. Nhưng chúng không có sức cự lại và bị
xô nhào xuống đất cùng với các kẻ theo nó..... Khi con Rồng bị
xô nhào xuống đất thì nó đuổi theo Bà đã sinh người Con Trai.
Nhưng trời ban cho Bà hai cánh đại bàng để bay vào nơi sa mạc...
Con Rồng tức tối với Bà thì đi tuyên chiến với các người khác
thuộc dòng giống bà, tức là những kẻ vâng giữ lệnh truyền của
Chúa, và có nơi mình dấu chỉ của Đức Giêsu.” (12, 13-17).
Những lời huyền diệu này, một đàng chỉ Đức Maria, đàng khác lại
chỉ Giáo Hội. Xét theo nghĩa người phụ nữ trong Khải huyền là
Đức Maria thì Ngài quả là mẹ Đức Kitô,và đồng thời lại là mẹ những
kẻ theo Chúa Giêsu, vì họ là những người khác thuộc dòng giống
Bà (12,17). Theo nghĩa này Đức Mẹ quả thực đã có tước hiệu là
‘Mẹ Giáo Hội’ vì Giáo Hội là một xã hội gồm các thành phần là
Đức Kitô và các tín hữu, tất cả làm nên một nhiệm thể mà Đức Kitô
là Đầu, còn các tín hữu là chi thể. Những chi thể này nhận sự
sống do Đầu thông cho.
4. Trong nhiệm thể này Đức Mẹ có ảnh hưởng đặc biệt. Trước hết
Đức Maria sinh ra chính Đầu Giáo Hội, sinh ra Đấng sáng lập Giáo
Hội là Chúa Giêsu. Riêng việc này chúng ta cũng còn dư lẽ để quyết
Đức Mẹ là mẹ thiêng liêng của cả tập thể tín hữu, tức là Giáo
Hội. Vì Đức Kitô là sự sống của Giáo Hội. Mang thai Đức Kitô tức
là mang thai Giáo Hội.
Tại Cana, những phần tử tiên khởi của Giáo Hội, tức là các Tông
đồ, cũng nhờ Đức Mẹ mà tin vào Chúa Giêsu một cách đặc biệt (Gn
2, 14). Tại chân đồi Calvario Đức Mẹ hợp nhất với cuộc tử nạn
đau khổ của Đức Kitô, và trong tinh thần vâng lời tuyệt đối, Đức
Mẹ cộng tác với Con trong việc cứu độ nhân loại. Trong ngày lễ
Hiện xuống Đức Maria có mặt tại nhà Tiệc ly và Ngài đã cầu nguyện
đắc lực để Chúa Thánh Linh hiện xuống trên các tông đồ và các
tín hữu tiên khởi (Act. 1, 14). Rồi trong thời gian đầu, Đức Mẹ
quả là Mẹ các tín hữu, vì Ngài dậy dỗ, chăm sóc, lo lắng cho Giáo
Hội như chính Chúa Giêsu. Và hiện nay sứ mệnh đó còn tiếp tục
trên thiên đàng vì Đức Mẹ hằng bênh vực, giúp đỡ sứ mạng cứu độ
của Giáo Hội.
5. Việc bênh vực giúp đỡ này cũng được minh chứng qua lịch sử
Giáo Hội. Biết bao lần lịch sử kể lại việc Đức Mẹ can thiệp, trực
tiếp giúp đỡ Giáo Hội lướt thắng qua những giờ phút gian nguy.
Những lúc đen tối nhất của Giáo Hội là lúc Đức Mẹ có mặt, Đức
Mẹ hiện ra, Đức Mẹ chỉ bảo điều phải làm, hoặc khuyên điều phải
tránh. Đó là tình Mẹ thương con. Không phải tình cờ mà có biến
cố Lộ Đức, Fatima, Bình Triệu, Lavang.
6. Nhưng không phải vì thế mà kết luận Đức Mẹ chỉ là mẹ các tín
hữu còn người khác thì Ngài để mặc kệ. Không. Khi ta nói Đức Mẹ
là mẹ Giáo Hội thì có ý nói lên rằng đối với Giáo Hội, hay toàn
thể tín hữu, Đức Mẹ có nhiệm vụ và tình thương đặc biệt, vì Giáo
Hội đang sống trong ơn thánh và trong Chúa Thánh Thần, nên có
tương quan đặc biệt. Nhưng Đức Mẹ cũng lo lắng cho cả những người
ngoài Giáo Hội về mọi phương diện để họ được vào Giáo Hội, và
cố gắng dẫn họ tới sự thành toàn về mọi phương diện. Người mẹ
nào lại không thương những đứa con xa nhà, và không cố tìm để
chúng về hưởng hạnh phúc gia đình? Nhưng những đứa con hiện sống
trong nhà và sống ngoan ngoãn thì bao giờ cũng được nhiều đặc
ân và tình thương hơn. Đó là lẽ đương nhiên.
7. Những quan niệm trên đã được trình bày trong Công đồng Vaticano
II, trong chương 8 Hiến chế Lumen Gentium. Tuy trong văn kiện
không nêu rõ tước hiệu “Mẹ Giáo Hội”, nhưng có những kiểu nói
tương tự, chẳng hạn số 69 nói: Mọi tín hữu hãy dâng lên Mẹ Thiên
Chúa và “Mẹ Nhân Loại” những lời cầu tha thiết, để cũng như xưa
Đức Mẹ hiện diện trong ngày khai sinh của Giáo Hội, thì ngày nay,
khi được vinh hiển hơn mọi bậc thần thánh trên trời. Đức Mẹ cùng
với các Thánh cầu bầu cho ta trước tòa Chúa Con, để tất cả gia
đình nhân loại, những người có danh hiệu là tín hữu, cũng như
những người chưa biết Chúa Cứu Thế, được hợp nhất với nhau trong
hòa bình, và làm thành một Dân Chúa, để làm vinh danh Thiên Chúa
Ba Ngôi và Duy Nhất.
8. Trên đây là tóm lược những lý do tại sao Đức Giáo Hoàng Phaolô
VI khi giải thích và bổ khuyết văn kiện Công đồng Vaticano II,
đã chính thức và dùng quyền tối cao tuyên bố Đức Mẹ là “Mẹ Giáo
Hội”. Điều tuyên bố này rất long trọng, không Công đồng nào sau
này có thể xoá bỏ đi được.
Chúng ta hãy hân hoan dâng lên Mẹ Giáo Hội, và cũng là Mẹ ta,
những nhịp rung động sâu xa nhất của con tim, để cầu nguyện cho
Đức Giáo Hoàng, cho hàng Giáo Phẩm, cho các tín hữu và cho mọi
người. Đồng thời chúng ta cũng phải sống xứng đáng là những chi
thể lành mạnh và hoạt động của Giáo Hội để mưu ích cho thế gian.
|
|