|
MẸ
SỰ CẬY TRÔNG
Để
kết thúc một chương dài về Đức Mẹ, Công đồng Vaticano II nhấn
mạnh một lần nữa về việc Đức Mẹ không phải chỉ là một nhân vật
lịch sử quá khứ, nhưng là một nhân vật luôn hiện tại, và là một
dấu đầy hy vọng và yên ủi cho dân Chúa đang hành hương tới quê
trời.
Công đồng nói trong số 68 Hiến Chế Ánh sáng Muôn dân (Lumen Gentium):
“Mẹ Chúa Giêsu hiện nay được vinh hiển trên trời cả hồn lẫn xác,
chính là hình ảnh Giáo Hội, kẻ sẽ được nên kiện toàn trong thời
tương lai. Vì thế Đức Mẹ chiếu sáng cho dân Chúa còn đang hành
hương dưới trần như là một dấu lạ chứa đầy hy vọng và yên ủi cho
tới ngày Chúa lại đến” (cf. 2Pet 3, 10).
Những lời Công đồng đó có lẽ được rút ra từ câu sách Khải huyền
12, 10: “Một dấu lạ hiện ra trên trời, là một Phụ nữ mặc áo mặc
trời, còn mặt trăng thì ở dưới chân, trên đầu đội 12 ngôi sao”.
Tuy thế Công đồng không nhấn mạnh đến ý nghĩa Thánh kinh của câu
này. Điều Công đồng có ý dạy là:
1. Việc Đức Mẹ được vinh hiển trên trời cả hồn lẫn xác là hình
ảnh hậu lai và là hoa trái đầu mùa của việc Giáo Hội sẽ được hưởng
trong giai đoạn hiển thắng, khi mà tất cả mọi phần tử của Giáo
Hội sẽ được thông công sự vinh hiển cả hồn lẫn xác của người mẹ,
và đồng thời là nữ vương của Giáo Hội.
2. Vì thế khi Đức Mẹ được hưởng vinh hiển trên trời, thì vẫn chiếu
xuống trên các phần tử của Giáo Hội dưới thế như là một dấu lạ
đầy hy vọng và yên ủi. Vì Người là tiếng gọi liên lỉ để Giáo Hội
đi tới hạnh phúc và vinh hiển đời đời, tại quê Thiên quốc. Tiếng
gọi đó liên tục và dồn dập cho tới ngày Chúa lại đến, nghĩa là
cho đến khi Giáo Hội lưu đầy được chuyển sang giai đoạn hiển thắng,
và đã hoàn tất sứ mạng Chúa đã trao phó.
Chiếu theo điều Công đồng vừa kể, ta thấy rằng khi Đức Mẹ bầu
cử cho ta thì đồng thời Ngài cũng là bảo chứng của việc ta hy
vọng sẽ được thực hiện. Vì thế Ngài chính là sự yên ủi cho con
cái, vì không những chúng thấy nơi Đức Mẹ vinh hiển một dấu chỉ
của việc họ sẽ được vinh hiển, mà còn được hưởng những ơn Đức
Mẹ ban. Vì ở trên trời với tình người mẹ, Đức Mẹ chăm sóc các
anh em của Chúa Giêsu hãy còn lưu lạc dưới trần, còn gặp nhiều
nguy hiểm cho tới khi họ về tới quê vĩnh phúc (n. 62).
Khi tìm hiểu văn kiện Công đồng, chúng ta liên tưởng ngay đến
một hình ảnh đẹp nhất trong Thánh kinh mà phụng vụ áp dụng cho
Đức Mẹ. Đó là hình ảnh tả trong sách Khải huyền 12, 1s: “Một dấu
lạ ở trên trời, một Phụ nữ mặc mặt trời, mặt trăng ở dưới chân....”
xét theo phương diện chú giải Kinh thánh câu này áp dụng vào Giáo
Hội. Nhưng chúng ta thấy rằng câu này áp dụng vào Đức Mẹ cũng
thực là tuyệt diệu. Vì tại nơi Đức Mẹ được hiển vinh sáng ngời,
chúng ta thấy rõ một biểu tượng về việc loài người được Chúa thương
đến nỗi chọn làm Bạn trăm năm. Trong việc Ngôi Lời Nhập Thể, thì
không những Chúa đã nâng bản tính loài người chúng ta lên ngang
hàng với bản tính Thiên Chúa nơi Đức Kitô, nhưng còn trang điểm
cho nhân tính đó cả ở nơi Đức Mẹ bằng những hạt ngọc chói ngời
về ơn thánh. Sau khi công việc cứu chuộc hoàn thành, thì Đức Maria
là hoa quả đầu mùa của những kẻ được cứu chuộc. Vì Đức Mẹ được
cứu chuộc hoàn toàn, được biến đổi hoàn toàn. Vì thế Ngài trở
thành hình ảnh của những kẻ sẽ được Chúa cho vinh hiển, việc mà
Thánh Kinh gọi là một mầu nhiệm ánh sáng , như lời Phúc âm thánh
Mathêô 13, 43: “Bấy giờ kẻ lành sẽ được sáng chói như mặt trời
trong nước Cha họ”.
Việc Đức Mẹ trở nên sáng láng như mặt trời công chính là điềm
báo trước về Giêrusalem, quê hương ta trên trời, khi được vinh
hiển Chúa bao phủ thì trở nên sáng láng như các hạt ngọc quý.
Xét về mọi phương diện thì Đức Mẹ quả là một dấu chỉ chứa đầy
hy vọng, như Công đồng quả quyết. Niềm hy vọng này có lẽ bị che
khuất phần nào bởi Đức Tin và Đức Mến, nhưng thực sự là một nhân
đức cần thiết cho hiện tình lưu đầy của ta. Đức Cậy là một tác
động diễn tả trực tiếp về hiện tình hành hương của ta. Vì ta còn
sống trong giai đoạn lịch sử, giai đoạn này còn đầy nguy hiểm,
không có chi vững chắc và còn lắm khó khăn. Hiện thời ta chưa
chiếm hữu được gì, lại còn có thể mất những cái hiện có. Vì thế
ta phải chuẩn bị tương lai bằng cả một sức cố gắng liên tục.
Việc cứu chuộc nói chung đã hoàn tất. Nhưng đối với từng cá nhân
việc đó mới hoàn tất có một phần. Chúng ta đã bước qua tối tăm
để đến với nguồn sáng. Nhưng chúng ta chưa chiếm hữu hẳn được
sự sáng đó, mà có được cũng còn qua bóng tối của đức tin, lại
còn có thể mất nữa. Chúa Cứu Thế đã thắng mọi tội nơi ta, và đã
chôn vùi con người cũ của ta. Nhưng Ngài cũng ủy thác cho ta việc
bảo vệ những gì đã được và làm cho con người mới triển nở. Việc
này không thể thực hiện nếu không chiến đấu và cố gắng liên tục.
Nếu ta chưa đầu hàng với các tội lỗi, thì ta luôn còn phải chiến
đấu trong khi khát khao kiện toàn ơn Cứu độ của mình, và sốt sắng
hoạt động để xây dựng tương lai. Đây là thái độ “Sống trong hy
vọng” của người tín hữu. Thánh Phaolô cũng nói “Nếu lòng hy vọng
của ta không vượt qua giới hạn đời này thì ta quả là những người
bất hạnh nhất trên đời” (1Cor 15, 19).Nhưng lòng hy vọng đó đòi
có những đặc điểm này:
1/ Trước hết phải là một lòng hy vọng toàn diện, nghĩa là không
nên hạn chế vào trong lãnh vực thiêng liêng, mà còn phải hy vọng
cả trong lãnh vực vật chất. Chúa Giêsu và Đức Mẹ ở trên trời không
phải chỉ có linh hồn, mà trái lại được hoàn toàn vinh hiển về
mọi mặt của một người. Vì thế lòng hy vọng của ta cũng phải nhằm
tới đối tượng đầy đủ, hoàn toàn, là được sống với Chúa cả hồn
lẫn xác tại Giêrusalem trên trời.
2/ Lòng hy vọng đó không phải chỉ là một điều suy niệm mà còn
phải là một lòng hy vọng có tính cách sáng tạo. Nghĩa là nó phải
làm triển nở các tài năng cá nhân cũng như tập thể. Đối tượng
của hy vọng cũng chính là công việc ta làm, và mức độ ta được
cũng chính là hậu quả của các hoạt động khi còn thời gian.
3/ Vì thế đặc điểm thứ ba gồm cả hai đặc điểm trên là: Một niềm
hy vọng luôn trẻ trung. Nghĩa là người tín hữu có cả một tương
lai, và họ đã thúc đẩy lòng mình trung thành theo đuổi, thậm chí
tận hiến cả cuộc đời, nhưng trong trường hợp các linh mục và tu
sĩ, để chiếm cứ tương lai đó. Tương lai này lạ lùng khiến họ hăng
say đến nỗi chỉ ước ao cho mình, cũng như cho anh em, được nguồn
hạnh phúc duy nhất đó. Vì thế lòng hy vọng này không thể đi đôi
với sự già lão hay cằn cỗi của tâm hồn. Trái lại nó phải luôn
“Trẻ trung”.
Điều này rất can hệ không những trong hoàn cảnh cá nhân, mà cả
đối với đoàn thể, xã hội. Công đồng xin các kẻ đã tận hiến cho
nước trời hãy là chứng tá về một nước hậu lai đó. Nghĩa là phải
chiếu ra nơi người khác ánh sáng hy vọng mà ta nhận được nơi Đức
Mẹ Maria.
Vì là dấu lạ chỉ sự hy vọng chắc chắn, Đức Maria quả là một dấu
chắc chắn như bất cứ một dấu nào phát xuất từ Đức Kitô. Và với
lời cầu đắc lực, Đức Mẹ có thể giúp ta chiếm hữu đuợc điều hy
vọng đó. Vì thế hàng ngày ta hãy dâng lên Đức Mẹ lời cầu tha thiết:
“Lạy Mẹ là sự sống, sự dịu ngọt va hy vọng của chúng con, xin
Mẹ làm cho chúng con luôn sống trong hy vọng để đạt tới hạnh phúc
đời đời”. Lạy Nữ vương, Mẹ nhân lành làm cho chúng tôi được sống
được vui, được cậy, lạy Mẹ, xin ghé mắt thương xem chúng tôi,
đến sau khỏi đầy xin cho chúng tôi được thấy Đức Chúa Giêsu con
lòng Mẹ gồm phúc lạ. Ôi khoan thay,nhân thay dịu thay Mẹ Maria.
|