|
TƯƠNG
QUAN GIỮA ĐỨC MẸ & CHÚA THÁNH THẦN
Chúa
Thánh Thần phải là chủ lực thiết yếu cả nơi Đức Mẹ Maria. Điều
này dễ hiểu. Vì Chúa Thánh Thần là tình yêu vô cùng tận, là tình
yêu của chính ngôi Cha và ngôi Con. Sứ mệnh thánh hoá của Ngài
vô cùng quan trọng. Việc thánh hoá nhân tính nơi Chúa Giêsu, việc
thánh hóa lạ lùng con người Đức Mẹ, việc thánh hóa Giáo Hội và
các tín hữu là việc thuộc riêng về Chúa Thánh Thần. Với quyền
năng vô biên, Ngài hoạt động cả trong lãnh vực hữu hình của Giáo
Hội để dẫn người ngoài vào Giáo Hội và dọn đường cho Giáo Hội
thăng tiến. (LG.c. I.II).
Việc thánh hoá này đã tiến tới một đỉnh cao chót nơi các thánh
vì các ngài quả là công trình kiệt tác của Chúa Thánh Thần. Đức
Mẹ và nhất là Đức Mẹ lại càng là kiệt tác của Chúa Thánh Thần
hơn nữa. Giáo Hội tuyên xưng và dạy ta biết điều này là Đức Mẹ
Maria chính là Đền thờ của Chúa Thánh Thần. Trong khiêm nhường
và cộng tác, Đức Mẹ là người đầu tiên đã biết ẩn mình trong chính
Đấng thánh hóa toàn năng, đấng mà Đức Mẹ hằng xướng vãn Magnificat
để ngợi khen và muốn ta cùng với Ngài ca ngợi Chúa.
Ta nên lưu ý điều này là giáo lý về Chúa Thánh Thần được phát
triển hơi muộn nơi Giáo Hội bên Tây. Tuy thế, trong Giáo Hội thường
có thói quen ám chỉ cho Đức Mẹ những tác động thuộc riêng về Chúa
Thánh Thần, dĩ nhiên là nói theo cách tương đối, và tuỳ thuộc
vào Chúa Thánh Thần. Vì không bao giờ Giáo Hội chối những điều
thuộc về Chúa Thánh Thần, khi gán những điều đó cho Đức Mẹ. Nhưng
có một thực trạng đáng buồn là Chúa Thánh Thần vẫn chưa được tín
hữu nhận biết đầy đủ. Ngài vẫn còn là Đấng bị che kín.
Giờ đây để hiểu phần nào về Chúa Thánh Thần ta có thể dùng những
cách Giáo Hội thường áp dụng vào Đức Mẹ để áp dụng vào Chúa Thánh
Thần, như là xem quả để biết cây,và nhờ đó ta thấy mối tương quan
đặc biệt giữa Chúa Thánh Thần và Đức Mẹ.
1. Trước hết ta thường nói: Ad Jesum per Mariam: Nhờ Đức Mẹ để
tới Chúa Giêsu. Điều này đúng xét theo phương diện Đức Mẹ đã ban
cho ta chính Chúa Giêsu, Đấng là sự sống và là Đấng ban sự sống.
Nhưng trước hết và trăm phần đúng khi ta nói: Nhờ Chúa Thánh Thần
để tới Chúa Giêsu. Như Chúa Giêsu đã phán: “Chúa Thánh Thần sẽ
tiếp tục và hoàn tất công việc của Ta”. (Gn 14, 26). Thánh Phaolô
còn quả quyết thêm: Không ai có thể kêu “Lạy Chúa Giêsu” nếu không
nhờ có ơn Chúa Thánh Thần (1Cor 12, 3).
2. Ta thường nói : Đức Mẹ tác thành Chúa Giêsu nơi chúng ta, như
Đức Mẹ đã tác thành chính Chúa Giêsu, vì Đức Mẹ quả là Mẹ Chúa.
Cách nói này áp dụng vào Chúa Thánh Thần còn nổi bật. Vì theo
lời Chúa Giêsu, chúng ta được tái sinh nhờ nước và Thánh Thần
(Gn 3, 5). Vì Chúa Thánh Thần mới chính là Đấng có bổn phận tác
thành Chúa Giêsu. Vì nhờ phép Chúa Thánh Thần mà Đức Mẹ chịu thai
Đấng Cứu Thế.
3. Câu ta thường nói: “Đức Mẹ soi sáng và chỉ bảo đàng lành”,
cũng phải được áp dụng vào Chúa Thánh Thần cách riêng. Vì theo
lời Phúc âm thánh Gioan 14, 26: “Chúa Thánh Thần sẽ dạy bảo và
nhắc cho các con nhớ lại mọi điều Cha đã nói cho các con”.
4. Khi nói: Đức Mẹ là dây liên lạc nối kết ta lại với Chúa Giêsu,
thì câu này cũng quả là đúng, vì Đức Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu và đã
ban Chúa Giêsu cho ta. Nhưng Chúa Thánh Thần lại chính là thần
trí của Đức Kitô. Chúa Cha và Chúa Con ban Thần Trí đó cho ta
để ta được thông hiệp với Cha và với Con (I Gn 1, 3). Chúa Thánh
Thần mới chính là mối dây liên lạc giữa ta và Chúa.
5. Đức Mẹ là nguồn mạch sự sống thiêng liêng vì Người là Mẹ Đức
Kitô là sự sống của ta. Nhưng nếu áp dụng vào Chúa Thánh Thần
câu đó còn đúng gấp bội. Vì Chúa Thánh Thần mới chính là nguyên
nhân mọi sinh hoạt của Giáo Hội. Vì “không nhờ quyền năng của
Ngài con người chỉ là hư không”.
6. Nếu nói: Đức Mẹ là Đấng Đồng Công, vì đã ban Chúa Cứu Thế cho
ta và đã mật thiết kết hợp với Chúa Cứu Thế trong cuộc khổ nạn
và cứu đời, như lời Công Đồng quả quyết trong Lumen Gentium số
56 thì ta phải nói gì về Chúa Thánh Thần? Việc Đức Mẹ chịu thai
Chúa Con cũng là nhờ phép Chúa Thánh Thần. Rồi trong suốt cuộc
đời, Chúa Cứu Thế luôn hành động dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh
Thần, như chính Ngài đã phán: Thần linh của Chúa xuống trên tôi,
Ngài xức dầu cho tôi, và sai tôi đi giảng cho người nghèo, chữa
lành những ai đã tận tình thống hối (Lc. 4, 18).
7. Công đồng cũng nói: Đức Mẹ là Đấng môi giới (LG. 82). Vì Chúa
Giêsu muốn cho Đức Mẹ, và cả chúng ta, được thông công việc bầu
cử và chức vụ linh mục của Ngài. Nhưng chính sự môi giới duy nhất
của Chúa Giêsu cũng là do ơn Chúa Thánh Thần, theo như lời thánh
Phêrô: “Thiên Chúa đã xức dầu cho Ngài bằng Thánh Thần và quyền
năng. Ngài đã đi để thi ân giáng phúc và chữa lành mọi kẻ bị ma
quỷ áp bức thống trị, vì Thiên Chúa ở cùng Ngài” (Act. 10, 36).
Còn sự chúng ta được thông công trong việc bầu cử cũng là ơn Chúa
Thánh Thần. Vì Thánh Thần giúp đỡ tình cảnh yếu hèn của ta. Chính
Ngài chuyển cầu cho ta bằng những tiếng van lơn khôn tả. ( Rm.
8, 26).
8. Sau hết, Công đồng cũng xưng Đức Mẹ là đấng Biện hộ, xét theo
phương diện là hiện nay ở trên trời Người hằng tha thiết cầu xin
cho ta được mọi ơn cần cho sự sống đời đời (LG. 62). Nhưng ta
không được quên rằng chính Chúa Thánh Thần mới là Đấng Biện hộ
của ta. Ngài là Đấng tiếp tục và hoàn tất công việc của Đức Kitô
như chính Chúa Giêsu đã phán: Thầy xin Chúa Cha và Ngài sẽ ban
một Đấng Yên ủi, Biện hộ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi
( Gn 14, 15).
Khi trình bày như trên, ta không có ý chối những đặc ân Chúa ban
cho Đức Mẹ. Nhưng ta muốn nhấn mạnh rằng Chúa Thánh Thần mới là
động lực chính. Những đặc ân Đức Mẹ được cũng là do Chúa Thánh
Thần ban. Các việc Đức Mẹ làm đối với ta thì Chúa Thánh Thần còn
làm hữu hiệu gấp bội. Nhưng luôn có sự tương quan giữa Chúa Thánh
Thần và Đức Mẹ.
Để tả sự tương quan đó trước hết Công đồng đề cao tương quan giữa
mầu nhiệm Truyền tin và ngày lễ Hiện xuống, để nói lên hai hoàn
cảnh đặc biệt Chúa Thánh Thần hoạt động nơi Đức Mẹ: “Chúng ta
thấy các tông đồ trước ngày lễ Hiện xuống đã một lòng kiên nhẫn
cầu nguyện cùng với Đức Mẹ, mấy phụ nữ khác và mấy người anh em
của Chúa, và chính Đức Mẹ đã cầu xin ơn Chúa Thánh Thần mà Ngài
đã được từ ngày Truyền tin” ( LG. 59).
Trong sắc lệnh về việc Truyền giáo, chúng ta thấy Giáo Hội nhấn
mạnh đến tương quan giữa Đức Mẹ và Chúa Thánh Thần trong việc
Ngôi Lời nhập thể và trong việc hoạt động truyền giáo của Giáo
Hội: Đức Kitô, nhân danh Chúa Cha ban Chúa Thánh Thần xuống để
Giáo Hội thi hành sứ mệnh cứu độ ngay từ trong nội tâm. Rồi từ
ngày lễ Hiện xuống, các tông đồ thực sự hoạt động cũng như xưa
kia nhờ ơn Chúa Thánh Thần Đức Kitô đã được thụ thai trong lòng
Đức Mẹ, và với sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần Đức Kitô dấn thân
giảng đạo (n. 4).
Đối chiếu hai chương đầu của Phúc âm thánh Luca với hai chương
đầu sách Tông đồ công vụ, chúng ta thấy có một sự tương giống
đặc biệt giữa Chúa Giêsu và Giáo Hội. Nguồn gốc nhân tính nơi
Chúa Giêsu, và nguồn gốc của Giáo Hội bắt đầu từ việc Chúa Thánh
Thần hiện xuống nơi Đức Mẹ và nơi cộng đồng tín hữu. Ơn Chúa Thánh
Thần chính là động lực thúc đẩy Đức Mẹ và Giáo Hội hoạt động để
thông Chúa cho người khác. Khi Đức Mẹ đi thăm bà Elisabeth, thì
bà được đầy ơn Thánh Thần (Lc 1, 41). Khi các vị Tông đồ cầu nguyện
và đặt tay trên giáo dân thì họ cũng được đầy ơn Chúa Thánh Thần
(Act. 4, 31; 9, 17;13, 9).
Để kết luận về mối tương quan giữa Đức Mẹ và Chúa Thánh Thần ta
có thể nói:
1/ Đức Mẹ Maria là Đền thờ của Chúa Thánh Thần. Điều này Công
đồng quả quyết trong Hiến chế Lumen Gentium số 53. Xét về phương
diện là người, Chúa Giêsu là Đền thờ Chúa Thánh Thần. Các tín
hữu cũng được hiến thánh vì sự hiện diện của Chúa Thánh Thần.
Nhưng nơi Đức Mẹ, Chúa Thánh Thần hiện diện một cách đặc biệt
hơn nơi tín hữu vô cùng. Đặc biệt trong ba trường hợp này:
a. Ngay từ giờ phút đầu thai trong lòng mẹ, Đức Maria đã trở thành
Đền thờ Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần hằng ngự đó để chuẩn
bị cho Đức Mẹ thi hành một sứ mệnh mới.
b. Trong giờ phút Truyền tin, Chúa Thánh Thần bao phủ Đức Mẹ như
bao phủ hòm bia Tân ước để Đức Mẹ chịu thai Chúa Con.
c. Trong ngày lễ Hiện xuống Đức Mẹ cầu nguyện và Chúa Thánh Thần
hiện xuống trên Ngài cũng như trên Giáo Hội.
2/ Ta có thể nói Đức Mẹ là “dấu lạ” của Chúa Thánh Thần, nghĩa
là Đức Mẹ là một sự trình bày nhãn tiền về Chúa Thánh Thần và
các công việc của Ngài. Đặc biệt là trong việc Đức Mẹ chịu thai
Chúa Con mà vẫn còn trinh khiết, nhờ ơn Chúa Thánh Thần. Quả như
lời Tiên tri Isaia : Chúa sẽ cho người thấy một dấu lạ là một
trinh nữ sẽ chịu thai, sinh con có danh hiệu là Emmanuel : Chúa
ở cùng chúng ta (Is. 7, 14; Mt. 1, 23). Trong sách Khải huyền
thánh Gioan cũng tả Đức Mẹ là một “dấu lạ” (Apoc. 12, 1).
Vì thế Mẹ Đức Kitô, Mẹ Maria quả là một hình ảnh hiển nhiên về
Chúa Giêsu, vì có tương quan thể lý và thiêng liêng, vì cùng chung
máu huyết và ơn sủng. Nhưng đồng thời Đức Mẹ cũng là “dấu lạ”
của Chúa Thánh Thần. Vì việc Ngôi Lời nhập thể là việc hữu hình
của Chúa Thánh Thần, và đồng thời cũng có sự cộng tác thực sự
của Đức Mẹ. Đức Mẹ còn là “dấu lạ” trong phương diện Đức Mẹ thực
là thánh thiện và cộng tác đắc lực trong việc cứu thế. Và vì kết
hợp chặt chẽ với Chúa Giêsu, Đức Mẹ cũng liên quan chặt chẽ với
Chúa Thánh Thần.
Tuy thế ta phải nói ngay là chính Chúa Giêsu mới là “dấu lạ” của
Chúa Thánh Thần. Nhưng một cách tương đối Đức Mẹ cũng được thông
công tước hiệu đặc biệt là “dấu lạ” của Thánh Thần, vì được thông
công đặc biệt với Chúa Giêsu và vì sự thánh thiện và hoạt động
trong công việc cứu thế nơi Đức Mẹ.
Ôi Mẹ Maria, cũng như tại nhà Tiệc Ly, Mẹ đã cầu nguyện và cầu
nguyện đắc lực để các Tông đồ được nhận lấy Chúa Thánh Thần, thì
ngày nay, cũng xin cầu giúp chúng con để được đầy ơn Chúa, chúng
con không làm được gì. Lạy Mẹ, con trông cậy ở Mẹ. Con phó thác
hoàn toàn nơi Mẹ mọi sự thuộc về con đời này và đời sau.
|