|
|
MARIA
NỮ VƯƠNG GIỚI TRẺ
Vì
đầy đau khổ hồn xác, thế giới hiện nay đang cố tìm một đường lối
mới, và mơ ước một ngày mai tươi đẹp hơn. Mẹ Maria phải là sức
sống ,niềm an vui, nguồn hy vọng của thế giới hiện nay.
1. Thế giới nơi chúng ta đang sống và hoạt động đã hoàn thành
được những thám hiểm kỳ diệu. Người ta lên cung trăng. Tại đó
người ta dùng xe Jeep để vận chuyển, rồi lấy mang về địa cầu một
khối đá xanh, mà thời gian tính của nó có thể là đã từng 4 tỉ
năm, hay hơn nữa. Khoa học càng ngày càng mở rộng, phát triển
và khám phá ra được nhiều điều lạ về con người. Và có lẽ rồi đây
con người sẽ điều hành và kiện toàn cả hành tinh.
Tất cả những việc đó là lớn lao, là lạ lùng. Nhưng dẫu thế, loài
người còn cảm thấy bất ổn hơn bao giờ. Khoa học cho họ thấy những
ranh giới vô định, nhưng không trả lời được về những câu hỏi cần
thiết và định mệnh này: đâu là ý nghĩa sau cùng của những thám
hiểm lạ lùng đó? Đâu là mục đích của cuộc đời? Tuy người ta dùng
khoa học để làm cho giờ chết xem ra đến chậm hơn một chút, nhưng
cái gì sẽ xảy ra sau giờ chết? Đời sống có ý nghĩa gì? Khoa học
không trả lời được.
Vì thế người ta cần phải hiểu rõ lý do căn bản về đời sống và
giải đáp những câu hỏi định mệnh trên, hơn là chỉ biết tìm cho
ra những cách sống mới, cũng như những tiến bộ khoa học về đời
sống. Nhưng ai sẽ giúp ta trong việc này.
Mẹ Maria. Đức Mẹ sẽ giúp chúng ta giải đáp những câu hỏi định
mệnh trên , vì Ngài đã ban cho thế giới đau khổ này một Người
Con duy nhất, Người Con có sự sống đời đời, vì Ngài mới là đàng,
là sự thật, và là sự sống của mọi thời. (Gn 14, 6).
Câu truyện ba Vua lên đường nơi sa mạc, và đêm tối, họ nhìn sao
để định hướng và nhờ đó đã tới Belem, thấy được Hài Nhi và Mẹ
Ngài, rồi quỳ xuống thờ lạy (Mt 2, 2) chính là biểu hiện của việc
loài người phải kiên nhẫn và luôn luôn tìm kiếm. Muốn khám phá
ra Đấng Cứu Thế cần phải tìm thấy Đức Mẹ. Vì việc Ngôi Lời nhập
thể chỉ thực hiện khi có sự đồng ý và cộng tác của Mẹ Thiên Chúa.
Thế
giới ngày nay, hơn bao giờ, lại cần phải tìm cho thấy Đấng Cứu
Thế và Đức Mẹ. Vì tuy có đầy dẫy ý tưởng và triết lý, nhưng những
tư tưởng và triết lý đó không giải đáp được những câu hỏi định
mệnh và căn bản của đời sống con người hiện nay. Có nhiều tín
hữu của nhiều giáo phái khác đã cố làm cho đạo Công giáo trở thành
một lý thuyết trừu tượng và vì thế không cần phải nói đến Đức
Mẹ, vì điều trừu tượng không phải có Mẹ. Nhưng Đức Mẹ không đem
đến cho chúng ta một lý thuyết trừu tượng, một cái nhìn của trí
khôn, mà trái lại ngài dạy chúng ta một niềm tin sống động, và
cụ thể, nơi Đấng Cứu Thế, và nơi mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Hai.
Đấng Cứu thế cũng không phải là một vị trừu tượng mà là một người
Con thực sự của Chúa Cha, đồng thời cũng là một người Con thương
mến hết mình của Mẹ Maria. Đấng Cứu Thế kia cũng chính là Đấng
đã phán và còn phán: Những ai khát, khát chân lý, hãy đến với
Ta và Ta sẽ ban cho nước hằng sống (Gn 7, 37).
2. Thế giới hiện nay cũng có rất nhiều hy vọng và lo lắng, như
Công đồng Vaticano II nói trong hiến chế Gaudium et Spes (số 1).
Thế giới đau khổ vì gặp nhiều điều bất hạnh, vì thế cần phải tìm
cho được một nguồn tình yêu, tình huynh đệ, một nguồn an vui để
nhân đạo hoá thế giới. Nguồn hy vọng đó phải là Mẹ Maria, vì Ngài
là nguồn sức sống, niềm an vui, nguồn hy vọng của chúng ta, như
chúng ta ca tụng trong kinh Lạy Nữ vương. Mẹ Maria làm cho nguồn
sống an vui đó luân chuyển và sưởi ấm tâm hồn như nước của sông
suối chảy ra làm điều hòa đại dương.
Maria
là một cầu vồng hứa hẹn, là bóng mát nơi sa mạc, và là nơi ẩn
náu sẵn sàng đón nhận và làm cho những người chia rẽ trở nên thân
mật. Cũng như trong gia đình, bước đầu tiên để hàn gắn mối chia
rẽ chính là việc nhớ đến kỷ niệm của người mẹ, hoặc vì người mẹ
năn nỉ thúc giục. Đối với tín hữu cũng vậy, nhân danh Đức Mẹ và
vì Đức Mẹ soi sáng, họ khám phá ra rằng mối tình huynh đệ hợp
nhất là biệt điểm của tín hữu, và nhờ đó họ phá tan được gương
mù gây ra bởi những người cùng tin một Cha trên trời.
Giáo Hội và thế giới đau khổ vì có nhiều cuộc huynh đệ tương tàn,
vì thế hằng ước ao được thấy một nền hoà bình, một tình huynh
đệ trong tâm hồn mỗi người, Đức Mẹ là người trước hết phải đau
khổ vì ta và bởi ta. Bên cuộc tử nạn đau thương của Chúa, chúng
ta thấy kể Đức Mẹ đứng bên thập giá sầu bi. Đấy chính là việc
Đức Mẹ cộng tác trong công cuộc hy sinh của Đấng Cứu Thế. Thay
mặt tất cả chúng ta, Đức Mẹ đứng dưới chân thánh giá để chia sẻ
và thể nhận cùng lễ hiến dâng trên núi Sọ. Ngài hoàn tất trong
lòng những gì phải hoàn tất trong sự hiến tế của Chúa Giêsu. Đây
là một yêu sách nặng nề hơn cả yêu sách Chúa đòi Abraham phải
có khi dâng con.
Đau khổ của Đức Mẹ không phải là những đau khổ thêm vào các đau
khổ của Chúa, mà chính là đã phát xuất từ những đau khổ đó. Nói
kiểu khác, những đau khổ của Đức Mẹ la tiếng vang của những đau
khổ của Chúa Con nơi lòng Mẹ. Cả hai đã có sự trao đổi, thông
cảm như một vật đã được đồng hoá. Đức Mẹ nhận lấy các đau khổ
và chủ tâm của Con như của riêng Đức Mẹ. Chúa Giêsu cũng nhận
lấy các tác động Đức Mẹ cộng tác với Ngài, như những tác động
riêng của Chúa, để kiện toàn việc hiến tế. Vì có sự hợp nhất như
vậy, nên Chúa có thể nói với Đức Mẹ như linh mục nói với giáo
dân trong thánh lễ: “Của lễ của tôi và của anh chị em” của lễ
của Con và của Mẹ.
Đức Mẹ sẽ giúp chúng ta thánh hóa các đau khổ, khiến chúng ta
trở thành những dụng cụ việc cứu độ, nếu chúng ta biết, cùng với
Đức Mẹ và như Đức Mẹ đã thực hiện, nhận lấy các đau khổ đó trong
niềm tin khiêm tốn. Đức Mẹ đã cảm nghiệm tất cả những bí ẩn nhất
của đau khổ. Phúc âm kể lại việc Đức Mẹ không hiểu tại sao Chúa
Giêsu lúc lên 12 tuổi ở lại Đền Thánh mà không cho cha mẹ biết.
Đức Mẹ không hiểu, nhưng trong đêm tối của thử thách, Đức Mẹ vẫn
vững tin (Lc 2, 48-50).
Hiện nay thế giới sống trong đêm tối và Giáo Hội cũng nhận lấy
những thiếu sót đáng kể. Tất cả đang sống trong hoàn cảnh ngày
Thứ Sáu tuần thánh. Dĩ nhiên những thử thách này thanh tẩy chúng
ta, nhưng chưa cho ta thấy hừng đông của ngày Phục sinh. Trong
hoàn cảnh khủng hoảng này, Đức Mẹ Maria, là Mẹ Giáo Hội, ở gần
ta, ngài ở giữa chúng ta và cùng chúng ta. Ngài giúp chúng ta
đứng vững trong niềm tin, đứng vững dưới chân Thập giá và vững
tin việc Chúa sống lại. Chúa phán: “ Chúng con đừng sợ, Thầy đã
thắng thế gian” (Gn 16, 13). Việc thắng đầu tiên là làm cho Đức
Mẹ vững tin, khi xưng ra trong thánh lễ: “Xin Chúa đừng đoán xét
công trạng chúng con nhưng xin nhìn đến đức tin của Hội Thánh
Chúa” thì chúng ta chạy lại với Đức tin của toàn thể Giáo Hội,
vì Giáo Hội đã, đang và sẽ còn luôn là một “Đức Nữ trung tín”
cũng như Đức Mẹ vẫn luôn là “ Đức Nữ trung tín thật thà”.
Lòng mơ ước một ngày mai tươi đẹp như thế vẫn chưa hết. Sau mỗi
lần chiến tranh chúng ta thường nói có lẽ đây là lần sau cùng
tốt đẹp sắp được thực hiện. Tâm hồn nhân loại luôn sống bằng hy
vọng như thế, nhất là khi phải đau khổ tê tái. Đức Mẹ Maria cũng
chính là sức sống, nguồn trông cậy của chúng ta trong những hoàn
cảnh đau khổ nhất. Công Đồng Vaticano II quả quyết Đức Mẹ là niềm
hy vọng của Dân Chúa trong nơi hành hương, Đức Mẹ đã ban cho chúng
ta Chúa Giêsu, là chính sự hy vọng của mọi người. Đức Mẹ còn tiếp
tục ban Chúa cho ta, hằng dẫn ta đến với Chúa Giêsu. Đức Mẹ cũng
là hình ảnh của Giáo Hội, ngài cho ta thấy tương lai, và cho thấy
ngay từ bây giờ những gì nước Chúa sẽ thực hiện.
Thế giới cũng đang chờ chúng ta giúp đỡ để trở thành đẹp đẽ và
có một mặt tươi tỉnh hơn. Đức Mẹ chính là nguồn hy vọng đó. Ngài
giúp Giáo Hội để đem lại cho thế giới những gì cần thiết nhất,
hay nói theo kiểu Bergson: “Đức Mẹ giúp ta để đem lại cho thế
giới phần phụ cấp của linh hồn” Giáo Hội sống trong thế gian,
liên lạc trao đổi với thế gian, và ban cho thế gian phần phụ cấp
của linh hồn, nghĩa là ban cho thế gian Lời hằng sống của Đức
Kitô. Lời hằng sống này phân phát ra khắp nơi, sống và hoạt động
khắp nơi. Nghĩa là không những lời Chúa đã được loan truyền đây
đó, nhưng còn hoạt động, sinh ra các hiệu quả Thánh Linh tức là
tình yêu, sự vui mừng, bình an, lòng quảng đại, nhân hậu, tốt
lành, tín trực, hiền từ, tiết độ (Gal 5, 22-23).
Người tín hữu sống Lời Chúa không phải trốn khỏi thế gian, mà
trái lại phải sống trong thế gian, làm việc trong thế gian và
để thực hiện điều thế gian cần thiết nhất, tức là sống theo chân
lý, công bình và bác ái, và tự do.
Đức Mẹ quả là cầu vồng bình an của thế giới xáo trộn này. Sự bình
an bị đe dọa, che giấu, nhưng thế gian lại cần phải tìm ra, phải
xây dựng, bắt đầu ngay từ các gia đình. Đức Mẹ đã thực hành trước
và chuẩn bị đem lại hòa bình cho ta. Người là niềm hy vọng đối
với những ai đã được chịu phép Rửa tội. Nơi họ, Chúa đã sinh ra,
nhưng còn phải lớn lên cho đến tuổi trưởng thành nữa. Đức Mẹ sẽ
làm cho Chúa lớn lên trong họ. Đối với những người chưa tìm thấy
Chúa, hoặc còn do dự không dám dứt khoát bỏ nơi đang ở để đem
vàng hương, và một dược đến cống hiến cho Chúa Giêsu, thì Đức
Mẹ cũng là niềm hy vọng của họ. Đức Mẹ kêu gọi và giục giã ta
cộng tác với Ngài để mưu ích cho người đồng thời với ta. Ngài
muốn nhờ môi miệng ta, nhờ tay chân ta, để phục vụ Con Ngài, để
mang Chúa Giêsu tới cho mọi người. Họ hấp hối vì chưa tìm thấy
Chúa Giêsu. Đức Mẹ khát khao được trở thành Đức Mẹ của ngày Hiển
linh, nghĩa là ngày Chúa tỏ mình ra cho thế giới nhờ vào sự cộng
tác trung thành vì hoạt động của ta.
Đức Mẹ Maria thực là cần thiết cho thế giới hiện nay. Ngài lo
lắng cho thế giới như người mẹ lo lắng cho gia đình. Gia đình
không có mẹ là gia đình vô phúc. Trái lại một gia đình mà trong
đó con cái biết quây quần bên mẹ, vâng lời mẹ, gia đình đó hạnh
phúc biết bao. Thế giới muốn hạnh phúc phải biết sống bên Mẹ.
Bao lâu thế giới chưa tin yêu Mẹ, họ còn phải quằn quại trong
đau thương.
|
|