|
TẬN
HIẾN CHO MẸ MARIA
Tận
hiến cho Mẹ Maria là một phong trào đạo đức đã có từ lâu trong
Giáo Hội và phát triển mạnh sau khi cuốn sách “Thành thực sùng
kính Đức Mẹ Maria” được ấn hành vào mùa xuân năm 1843. Nhưng thực
sự sách đã được viết vào quãng đầu thế kỷ 18. Tại Việt Nam phong
trào Tận hiến cho Mẹ cũng được rất nhiều người hưởng ứng. Để đi
vào đúng đường theo đạo lý Công giáo chúng ta cần tìm hiểu ý nghĩa
thần học của hai chữ “Tận Hiến” và về cách áp dụng việc tận hiến
đó như thế nào khi chúng ta muốn tận hiến cho Mẹ.
a/ Ý nghĩa “Tận hiến” theo nghĩa chính thức, thì tận hiến gồm
ba yếu tố này:
1. Tách rời vật nào đó ra khỏi những gì phàm tục.
2. Để chỉ dùng vào việc phượng tự.
3. Có một nghi lễ riêng để thánh hiến vật đó tự hậu sẽ trở thành
“Thánh”. Theo nghĩa này thì việc tận hiến hay hiến thánh. “Consecratio”
phải là việc dành riêng để thờ phượng Chúa.
Nhưng theo một nghĩa tương đối, chúng ta cũng có thể thi hành
việc tận hiến cho Đức Mẹ khi muốn tỏ lòng sùng kính Ngài cách
riêng. Đây chỉ là việc áp dụng một nguyên tắc chung này: Những
gì nói được về Chúa và về tạo vật thì không được nói theo cùng
một nghĩa, mà trái lại khi nói về Chúa thì phải nói theo nghĩa
chính thức, còn nói về tạo vật thì nói theo nghĩa tương đối.
Đối với Chúa ta phải có một tác động biệt tôn “Latria” hoặc thờ
lạy. Còn đối với Đức Mẹ thì ta chỉ có thể thi hành việc biệt kính
(Hyperdulia).
b/ Áp dụng nguyên tắc trên:
Ta sẽ thấy việc tận hiến cho Đức Mẹ không thể gây hiểu lầm hay
trái đạo lý Công giáo. Đấy cũng là điều vẫn được thi hành trong
Giáo Hội, ít nhất là từ ba thế kỷ nay, có nhiều văn kiện các Đức
Giáo Hoàng nhất là ĐGH Piô XII đã phổ biến, khuyến khích và phân
tích cũng như vạch rõ những yêu sách phải có của việc tận hiến
cho Đức Mẹ. Việc các ĐGH đã dùng thường quyền mà dạy tín hữu như
thế phải được chúng ta vâng nghe và thực hành.
Việc tận hiến như thế gồm ba yêu sách này:
1. Gây một mối liên lạc mới và tình nguyện giữa ta và Đức Mẹ.
2. Mối liên lạc đó phải được tỏ ra bên ngoài bằng một tác động
đặc biệt nói lên sự ý thức và lòng tình nguyện.
3. Sau hết sẵn sàng chấp nhận một cách trung thành tất cả những
gì mối liên lạc đó đòi hỏi.
Việc ta tận hiến cho Đức Mẹ nói tới các yêu sách trên đây được
thực hiện xét theo hai lãnh vực này:
1. Trước hết chúng ta phải nhận định và tin rằng Đức Mẹ có một
chức vị vô cùng đặc biệt, chức vị là Mẹ Thiên Chúa. Ngài lại là
một vị rất thánh, là gương mẫu sự thánh thiện, đồng thời Ngài
có lòng vô cùng nhân hậu đối với ta, như mẹ đối với con, vì Ngài
chính là mẹ ta. Xét theo những đặc ân Đức Mẹ được, và những tác
động nhân hậu đối với ta như thế, ta phải tận hiến cho Đức Mẹ
là lẽ đương nhiên.
Vì theo lãnh vực này tận hiến cho Đức Mẹ chính là sự nhận biết
chức cao cả của Đức Mẹ, kính trọng Ngài, cảm ơn Ngài, phó thác
ở Ngài và tin tưởng chạy lại xin người cứu giúp. Tận hiến chính
là việc bao gồm tất cả những yếu tố cần thiết để tỏ lòng kính
mến Đức Mẹ một cách tận tình.
2. Lãnh vực thứ hai khiến việc trên trở thành cao quý hơn nữa,
đó là Thánh Ý Chúa đã muốn cho Đức Mẹ hoàn thành nơi ta một sứ
mệnh đặc biệt nghĩa là Chúa muốn cho Đức Mẹ cùng cộng tác với
Chúa Giêsu trong việc thánh hóa chúng ta. Đối với công cuộc cứu
thế Chúa Giêsu đã làm cho Đức Mẹ nên vị Đồng Công đắc lực. Đức
Mẹ luôn hiện diện và hoạt động trong việc cứu thế của Chúa Giêsu
thậm chí ta có thể nói rằng cùng với Chúa Giêsu và trong Chúa
Giêsu, Đức Mẹ là đồng nguyên nhân sự thánh hóa của ta. Và đấy
cũng là điều Công Đồng Vaticano II quả quyết khi nói “Đức Mẹ Maria
với tình yêu người mẹ, đã cộng tác với Chúa Giêsu trong việc tái
sinh và dinh dưỡng tín hữu (L.G 63).
Trong lãnh vực này việc ta tận hiến cho Đức Mẹ có một ý nghĩa
mới. Tận hiến không phải chỉ là một việc tôn kính ta phải có đối
với Đức Mẹ vì thiên chức cao cả và các đức tính tuyệt vời của
Ngài, mà trái lại việc tận hiến cho Chúa Giêsu trong phép Rửa
tội. Đây là sự tận hiến căn bản và đầy ý nghĩa nhất. Nói kiểu
khác, mối liên hệ nối kết ta với Đức Mẹ chính là việc ta được
làm tín hữu, được tái sinh trong ơn thánh, được nhận làm con Chúa,
được trở nên chi thể của Đức Kitô, được nên Đền thờ Chúa Thánh
Thần, và vì thế được làm con Đức Mẹ, vì Đức Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu,
đấng là đầu mà chúng ta có liên quan ngay với Đức Mẹ, xét theo
chương trình cứu độ Chúa xếp đặt từ đời đời.
Xét theo những điều kể trên thì việc tận hiến cho Đức Mẹ là việc
phải làm, không những vì ta muốn trọng kính Đức Mẹ vì các đặc
ân của Ngài, mà chính là vì sứ mệnh đặc biệt của Ngài có trong
chương trình cứu độ. Mối tương quan giữa ta và Đức Mẹ bắt nguồn
từ phép Rửa tội, tại đó, cùng với Chúa Giêsu và trong Chúa Giêsu,
ta đã tận hiến cho Đức Mẹ. Nếu thế, và thực thế, thì việc tận
hiến này, ngoài sự ý thức về sứ mệnh của Đức Mẹ, nó trở thành
một sự gắn bó, sự trung thành thi hành các nhiệm vụ mà phép rửa
tội đòi ta phải có. Một trong những nhiệm vụ trên là việc kết
hợp với Đức Mẹ bằng một tình con thơ hiếu thảo. Quan niệm này
khiến việc tận hiến cho Đức Mẹ không còn là việc tự do muốn làm
hay không muốn cũng được. Trái lại, là một việc phải làm. Vì theo
Đức tin ta biết rằng Chúa đã trao phó cho Đức Mẹ một sứ mệnh cứu
độ chúng ta. Vì thế mọi tín hữu đương nhiên phải nhận ra mối liên
hệ với Mẹ Maria khi họ nhận định cho đúng được những yếu tố làm
cho họ thành tín hữu. Cũng như trong lãnh vực tự nhiên, người
con khi biết dùng trí khôn phải biết nhìn nhận mối tương quan
giữa mẹ và con, tuy trong thực tế có người con không nghĩ tới
mối tương quan đó. Việc này quả là một sự thiếu sót, nhưng không
phải vì thế mà mối tương quan đó không có.
Thánh Louis de Montfort đã hiểu thấu đáo điều này khi ngài viết
sự tận hiến hoàn toàn cho Chúa Giêsu không phải là gì khác mà
chính là sự tận hiến toàn thân một cách hoàn hảo và tận đáy lòng
cho Mẹ Maria. Hay nói cách khác chỉ là một việc ôn lại lời khấn
hứa khi chịu phép rửa tội ( Thành thực sùng kính số 120).
Vì ý nghĩa cao cả đó, ta lại càng có lý do để nói quả quyết rằng
phải tận hiến cho Đức Mẹ. Vì tận hiến là sự lệ thuộc có ý thức
vào Đức Mẹ, xét theo địa vị Chúa đã dành cho Đức Mẹ trong việc
người tín hữu tận hiến cho Chúa ngày họ chịu phép Rửa tội. Đây
là một lý do sâu xa và là một điểm chính trong chương trình tiến
đức của đời sống thiêng liêng, vì tận hiến này đồng hoà với sự
sống thiêng liêng. Đây cũng là bản chất lòng sùng kính trên sẽ
không phải chỉ còn là một việc đạo đức, mà là một đặc tính khiến
cho việc đạo đức có giá trị.
c/ Tận hiến công cộng
Cho đến đây chúng ta đề cập tới việc tận hiến cá nhân cho Đức
Mẹ, xét theo khía cạnh Đức tin về việc ta đã chịu phép Rửa tội.
Vậy việc tận hiến tập thể một gia đình, một xứ đạo, một nước....
cho Đức Mẹ có ý nghĩa gì? Ta phải thưa ngay rằng việc tận hiến
có tính cách xã hội như vậy không liên hệ trực tiếp tới điều khấn
hứa khi chịu phép Rửa tội, mà chỉ liên hệ một cách gián tiếp.
Việc tận hiến chung như vậy là hành động của một xã hội, xét theo
tương quan xã hội đó phải có, nghĩa là xét theo bổn phận xã hội
phải thực hành để mưu ích cho con người trong xã hội. Nếu vậy,
xét theo ơn gọi được làm tín hữu, việc tận hiến một xã hội cho
Đức Mẹ một đàng có liên quan tới bổn phận xã hội của mọi người,
đàng khác lại có liên quan tới bổn phận họ phải thực hiện một
cách nào đó để Nước Chúa mở rộng hầu con người được cứu độ.
Trong tất cả những lãnh vực xã hội trên, Đức Mẹ cũng luôn luôn
hiện diện và hoạt động. Vì thế khi một xã hội tận hiến cho Ngài
thì không những họ tỏ ra lòng trọng kính, biết ơn và tin tưởng
ở Đức Mẹ, mà còn xưng ra lòng tin về việc Đức Mẹ hoạt động hữu
hiệu để cứu đời, đồng thời xin Đức Mẹ nhớ lại bổn phận đó để cộng
tác và giúp đỡ loài người, hầu tiến tới mục đích sau cùng đang
khi hưởng dùng những ân huệ trong một xã hội hiện tại.
Kinh dâng thế giới cho Đức Mẹ nói lên đầy đủ ý nghĩa ta vừa trình
bày: Lạy Mẹ là mẹ chúng con, chúng con nguyện dâng Hội thánh và
loài người cho Trái Tim cực sạch Mẹ, nhờ lòng từ ái, nhờ ơn hộ
vực mà nước Chúa chóng khải hoàn thịnh trị cho muôn dân hòa hảo
cùng nhau, bằng an với Chúa rập một tiếng cao rao Mẹ là “Bà có
phúc” và từ đông chí tây, từ nam chí bắc hợp vầy cùng Mẹ hát lên
ngợi khen Magnificat để cảm tạ Chúa Giêsu là nơi có sự thật sự
sống , và sự bằng an đời đời. Amen.
|