28. THEO CHÚA GIẢNG TIN MỪNG
Sau
khi làm phép rửa cho Mẹ, Chúa Giêsu, có các môn đệ theo, đã
đi giảng Tin Mừng cho các làng lân cận. Trong khi đó Mẹ
Maria đi Cana để dự đám cưới của một người bà con đời thứ
bốn về bên thánh nữ Anna. Dưới ơn Chúa Thánh Linh soi sáng,
Mẹ khuyên họ đi mời cả Chúa Giêsu. Được tin, Chúa bằng lòng
đến dự để lập nhiệm tích Hôn phối, và làm phép lạ công khai
đầu tiên theo lời cầu xin của Mẹ chí ái mình. Hôm đó là ngày
thứ ba trong tuần lễ của người Do Thái, và cũng là ngày trước
đây Chúa đã được ba Đạo sĩ đến thờ lạy, và được Thánh Gioan
Tiền Sứ rửa cho dưới sông Giođan.
Chúa
Giêsu và Mẹ Maria vui vẻ chuyện trò cách khôn ngoan lạ lùng
với khách đồng bàn. Hai Mẹ Con ăn uống chút ít những
món
ăn họ dọn ra, vì không muốn lên án cuộc sống thông thường của
nhân loại, song hoàn hảo hoá nó bằng tấm gương tiết đạm độc
nhất vô nhị của mình. Nhưng vào lúc cuối tiệc, rượu bị thiếu
vì Chúa Quan Phòng định như thế. Đầy bác ái, Mẹ Maria đến thưa
cho Chúa biết. Vì có lời Mẹ xin trước, nên Chúa Giêsu đã tỏ
ra thờ ơ với lời Mẹ nói, và thưa lại một cách cứng cỏi: "Thưa
Bà, việc gì đến Bà và Tôi! Giờ Tôi chưa đến!" Chúa cũng nói như thế để tỏ cho các môn đệ biết rằng Mẹ không có bản tính Thiên
Chúa là bản tính duy nhất làm được phép lạ. Đồng thời, Chúa
cũng soi cho tâm trí môn đệ một ánh sáng mới về ơn Ngôi Hiệp
giữa bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại nơi Chúa. Mẹ
Maria nhìn trong Linh Hồn Chúa, biết là lời mình xin đã được
chấp nhận rồi, nên mới nói với gia nhân: "Ngài bảo gì các anh cứ làm theo!" Và nước lã đã trở nên rượu ngon hảo hạng như Phúc Âm thuật lại.
Phép
lạ này làm cho các môn đệ thêm vững lòng và còn tăng thêm
số môn đệ nữa. Sau đó, Chúa Giêsu làm rất nhiều phép lạ khác,
những phép lạ mà Thánh Gioan quả quyết là cả thế giới cũng
không thể chứa nổi những sách thuật lại tường tận mọi chi
tiết. Chúa muốn dành để trên trời mới tỏ ra để tăng niềm
vui cho
thần thánh.
Mẹ
Maria cũng thường được cộng tác vào việc làm các phép lạ ấy,
vì từ khi dự đám cưới ở Cana, Mẹ chỉ rời xa Chúa Giêsu
trong một vài trường hợp hoạ hiếm thôi. Cũng như Chúa, Mẹ chỉ
đi bộ, nên rất mệt nhọc; có khi rất đau khổ, cần phải có ơn
trợ lực lạ lùng giúp, Mẹ mới chịu nổi. Nhưng thỉnh thoảng,
Thiên Chúa cũng làm cho thân xác Mẹ nên rất nhẹ nhàng, có thể
chuyển dịch dễ dàng như là có cánh.
Toàn
thể Luật Phúc Âm đã được khắc ghi trong tâm hồn Mẹ rồi, nhưng
Mẹ cũng vẫn chăm nghe lời Chúa Giêsu giảng dậy, như Mẹ
chưa biết gì. Luôn luôn Mẹ quỳ gối để nghe, Mẹ hợp nhất với
lời Chúa cầu nguyện cho thính giả; cháy lên một ước muốn
cho họ nên thánh; vui mừng vì họ đã trung thành; và chan
hoà nước
mắt, có khi lẫn máu, khi họ khinh chê Thiên Chúa và ân sủng
Ngài ban.
Với
tư cách là Đấng Đồng Công với Đấng Cứu Chuộc, Mẹ cũng làm
vô số phép lạ, phần nhiều là những phép lạ lẫy lừng,
như cho
kẻ chết sống lại. - Phúc Âm không thuật lại phép lạ nào
Mẹ làm vì đức tin vào Chúa Giêsu phải được thiết định trước
khi tỏ ra những vẻ cao quang của Mẹ; mặt khác, vì Mẹ đã
xin
các
thánh ký đừng nói đến những phép lạ ấy.
Cũng
chính vì lý do đó mà không bao giờ Mẹ lên tiếng nơi công
chúng, song chỉ nói riêng tư. Mặc dầu chỉ giữ địa
vị kín đáo
đó, cầu nguyện sốt sắng và nhẫn nại hiền từ như vậy,
nhưng Mẹ cũng làm cho người ta trở lại hơn các vị giảng Phúc
Âm sau này.
Không bao giờ tự mãn vì những ân sủng phi thường Mẹ được,
Mẹ lại tìm ra nơi đó một lý do để khiêm nhượng thẳm sâu
hơn trong
sự nhìn nhận mình là hư vô. Sẽ không bao giờ có một thụ
tạo nào so sánh được với Mẹ về đức khiêm nhượng, nhờ
đức khiêm
nhượng đó Mẹ đã chiến thắng toàn thể thế gian, chiến
thắng cả Thiên Chúa, Thiên Chúa Cha và Thiên Chúa Thánh
Linh,
để Ngài đừng tỏ ra những đặc ân Ngài đã tặng cho Mẹ;
và chiến
thắng Thiên Chúa Con, để Ngài xử với Mẹ một cách thông
thường, hầu không ai chú ý đến Mẹ khi còn tại thế. Vinh
quang của
những phép lạ chưa từng nghe mà Mẹ làm, cần phải giãi
chiếu lại trên
Mẹ, và những người tin theo Chúa bấy giờ hầu như tất
cả đều ta tụng Mẹ vì Mẹ có một Người Con là Chúa Giêsu.
Nhưng
thay
vì hân hoan bởi được tôn kính như vậy, Mẹ lại chìm sâu
mãi xuống sự tự khinh chê mình, và cầu xin Chúa Giêsu
đừng để
người ta tôn kính Mẹ. Mẹ đã tha thiết xin Chúa như vậy,
khi trong
đám dân chúng đang hứng khởi, người ta đến báo tin cho
Chúa biết là Mẹ và thân nhân Ngài muốn gặp Ngài, và khi một
phụ nữ quá thích thú đã kêu lên: "Phúc cho lòng đã cưu mang Thầy".
Trước
mắt Mẹ, đức khiêm nhượng này rất cần thiết. Không những Mẹ
không đành lòng chỉ một mình Mẹ thực thi hoàn
hảo thôi,
Mẹ còn khuyên các tông đồ phải thực hiện nữa, vì các
ông là những người sẽ phải làm rất nhiều phép lạ. Nên
các ông
không
được quy công ấy cho mình, nhưng phải quy về một mình
Thiên Chúa là Đấng đã dùng các ông làm dụng cụ, vì
cũng như người
ta không tôn kính các bút vẽ nên bức hoạ hay tặng chiến
thắng cho chiếc gươm, song phải tôn tặng người hoạ
sĩ hay anh quân
nhân đã sử dụng bút và gươm ấy.
Trong
khi chờ đợi sai các môn đệ đi giảng Tin Mừng để cứu độ các
linh hồn, Chúa Giêsu Ktiô là Thầy họ
vẫn tiếp
tục
rao giảng
Phúc Âm, làm các phép lạ và dùng các môn đệ làm phép
rửa cho người ta. Mẹ Maria thường được chứng kiến
những cuộc
tái sinh
thiêng liêng ấy. Mẹ cảm tạ Thiên Chúa như là chính
Mẹ được lãnh thụ các ơn phép rửa. Nhờ cách thực hiện
việc
cảm tạ
rất dễ bắt chước ấy, mà Mẹ tăng thêm rất nhiều công
nghiệp.
Những
việc lạ lùng siêu nhiên đó làm cho Luxiphe náo loạn. Sau
cuộc bại trận ở rừng vắng, y vẫn chưa
được
phép ra
khỏi hoả ngục. Đến nay, Chúa Quan Phòng cho phép
y lại được trở
lên trần gian. Y nhóm một phiên họp trong ngục
lửa, trình bày tất cả những e ngại của y về việc Ngôi
Lời đã Nhập
Thể làm
Người. Cùng với thần hạ của y, y quyết định sẽ
bách hại cho kỳ được Chúa Giêsu và Thánh Gioan Tiền Sứ
là những
vị mà
y hoang mang, không biết ai là Đấng Cứu Thế.
Y
xúi giục đảng Biệt Phái sai người đến lập mưu hỏi Thánh Gioan
xem ông có phải là đấng Kitô không.
Ngài
đã khôn
khéo trả lời
như Phúc Âm thuật lại. Luxiphe nghi ngờ và căm
tức nhất vì câu trả lời ông tự xưng là "tiếng
kêu" trên rừng. Y nghĩ "tiếng kêu" có lẽ là "lời", là Ngôi Lời, mà ông Gioan muốn giấu không muốn nói rõ đây chăng. Y càng căm
giận ông hơn. Để báo thù, y xúi bẩy mụ Hêrôđia. Mụ này là con
gái của Aristô, con trai của Vua Hêrôđê Cả. Ông vua vô đạo
này đem gả mụ cho Hêrôđê Philipphê là con một vợ khác của ông
và là chú của mụ. Salômê là kết quả của cuộc hôn nhân này.
Về sau, vì lăng loàn và tham vọng, mụ đã bỏ chồng đi lấy một
người khác là Hêrôđê Antipa, cũng là con một vợ khác của Vua
Hêrôđê Cả. Như vậy, Hêrôđia vừa là cháu vừa là chị dâu của
Hêrôđê Antipa, bây giờ lại là vợ ông nữa. Sự loạn luân tráo
trâng này bị người Dothái chê cười, và Thánh Gioan Tiền Sứ
kịch liệt đả kích. Vì thế mà mụ Hêrôđia này thâm thù thánh
nhân.
Nuôi
một mối cừu thù không đội trời chung với ông. Mụ đàn bà không
có trái tim này đã lạm dụng
dục
vọng của
Hêrôđê
đối với
mụ, xui ông vua này bắt ông Gioan tống ngục.
Sau đó lập mưu cho tình nhân chém đầu con người
cam
đảm đã
dám đả
kích thói
ăn ở vô luân vô đạo của mụ, như Phúc Âm đã
thuật lại.
Qua
Linh Hồn Chúa Giêsu, Mẹ thấy ông Gioan dưới chân Chúa Giêsu,
Mẹ khóc lóc nài xin Chúa
đến
giúp đỡ
ông trong ngục.
Thực ra,
từ khi thánh Gioan bị giam, Mẹ và Chúa vẫn
hằng ban nhiều ơn an ủi ông, hoặc sai thiên
thần vào
giúp
đỡ, có lúc
còn mang
cả thực phẩm cho ông dùng nữa. Nhưng bấy
giờ là giờ phút cuối cùng của đời ông, Mẹ muốn
chính Chúa
đích
thân vào
uỷ lạo ông
trong giờ chết. Chúa Giêsu rất vui nhận lời
Mẹ xin. Liền đó, một cách vô hình, cả hai
Mẹ Con
cùng được
đem vào
ngục ông
Gioan đang bị giam. Chúa và Mẹ thấy ông đầy
những vết thương, vì mụ Hêrôđia đã truyền
cho sáu tên
gia nhân
thân tín phải
đánh ông tàn nhẫn, để ông chết đi cho rồi.
Bọn này vừa bị quỷ xúi giục, vừa muốn tâng
công với
mụ chủ,
đã ba
lần đập
đánh
ông không nương tay, vừa đánh vừa sỉ mạ ông
và giáo lý ông đã dậy. Nhưng vẫn không giết
chết
được ông.
Thánh
Tẩy Giả rất bỡ ngỡ và vui mừng khi thấy Chúa Giêsu và Mẹ
Maria đến thăm ông
trong hào
quang
rực rỡ. Chúa
và Mẹ vừa
xuất hiện, xiềng xích trói buộc ông liền
đứt ra, các vết thương trên mình ông đều
lành lặn.
Ông
sấp mình
xuống dưới
chân Chúa
và Mẹ xin ban phép lành. Chúa Giêsu nói
với ông: "Gioan
môn đệ chí ái của Thầy, tại sao con lại đi trước Thầy, với
biết bao đòn vọt tra khảo thế này? Chính vì thế, mà Cha Thầy
trọng thưởng nhiệt tâm của con. Con hãy giơ cổ cho gươm chém.
Con đã được hạnh phúc chịu đau khổ và chịu chết vì danh Thầy.
Thầy chờ để dâng cái chết của con lên Cha Thầy".
Tràn
ngập khoái vui, thánh Gioan cảm động nghẹn lời. Khi nói được
lên tiếng, ông
bày tỏ lòng
tri ân Chúa
Giêsu vì
đã đoái
thương ngự đến thăm mình. Ông xin Chúa
ban ơn để ông được chịu khổ hình lâu
hơn nữa
cho vinh
danh
Chúa.
Ông cũng
thiết tha
yêu mến cảm tạ Mẹ Maria . Ông còn đang
nói ba tên đầy tớ và một tên đao phủ
vào ngục
thi hành
lệnh
dã man
của Hêrôđê.
Bọn
chúng không nhìn thấy Chúa và Mẹ. Ông
Gioan giơ cổ ra. Tên đao phủ chém đầu ông. Trong
lúc ba
tên đầy
tớ cãi
nhau tranh
lấy phần mang đầu ông lên cho chủ, Chúa
Giêsu đón lấy thân thể ông, và Mẹ Maria
tiếp lấy
đầu ông.
Cả hai
cùng dâng
lên cho Cha hằng hữu lễ vật đáng ca tụng
ấy. Sau đó, một tên
đầy tớ mới cầm lấy đầu ông không biết
tự chỗ nào, để đem trao cho
chủ. Lúc ấy, Chúa Giêsu sai các thiên
thần đưa linh hồn ông vào u ngục. Ông mang cho
ngục tổ
một nguồn
vui phi
thường.
Còn Chúa Giêsu và Mẹ Maria trở về nơi
cũ ngay, cách êm thắm như lúc đến.
Vừa
tiếp tục đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu vừa không ngừng
soi cho tất cả
các môn đệ Ngài
một lòng
tôn sùng
đặc biệt đối
với Mẹ Maria cho cân xứng với những
phận vụ họ được chỉ định. Những cuộc tiếp
xúc với Mẹ
cũng
tăng thêm
lòng
họ tôn kính
và mến yêu đối với Mẹ. Khi nghi nan
hoặc bị cám dỗ, họ đều đơn thành chạy đến
với Mẹ. Mẹ
yêu
thương hết
mọi
người, nói
với mọi người, cầu nguyện cho mọi người,
và dậy dỗ mọi người theo như Mẹ biết
được tâm
hồn họ
bao nhiêu,
dậy
dỗ cẩn thận
bấy nhiêu. Không bao giờ họ từ biệt
Mẹ mà không cảm thấy một niềm vui và một
an ủi
vượt quá
sức ước mong
của họ.
Họ cảm
thấy ngây ngất vì ở nơi Mẹ đức hiền
dịu rất thanh thản, rất khiêm nhượng, liên
kết với
biết bao
uy nghi và
cao trọng.
Nhưng họ không biết bầy giải lòng tri
ân và thán phục ấy cách nào.
Trong
những cuộc tiếp xúc với những người đi theo Chúa, Mẹ rất
cẩn trọng
và khôn
ngoan đặc
biệt.
Như một bà
Mẹ hiền
thục nhất, Mẹ cung cấp nhu cầu nuôi
sống họ, và, khi Mẹ không thể
tự liệu được những nhu cầu họ cần
dùng, Mẹ xin các thiên thần hầu cận mang
đến cho họ.
Mẹ cũng
đặc biệt
săn sóc
đến những
phụ nữ hằng tâm đi theo Chúa, và
Chúa đã đoái nhận cho họ tận tình giúp đỡ
Chúa.
Mẹ dẫn họ
đi nghe
Chúa giảng,
và lấy
đó
làm đề tài truyện trò với họ. Tuy
nhiên, Mẹ cũng không bỏ quên nhiệt tâm của
Mẹ đối với
các phụ
nữ khác, và
Mẹ đã dẫn
một
số rất lớn vào đường cứu rỗi. Thêm
vào ánh sáng của lời Mẹ khuyên dậy,
Mẹ lại
còn làm
gương để
tăng nghị
lực
cho họ,
nhất là những gương sáng về đức ái:
Mẹ trợ giúp những người nghèo
khó, an ủi người sầu khổ, thăm viếng
người bệnh tật mà Mẹ tự tay băng
bó viết thương
cho. Trong
cả đám
phụ nữ
ấy, Mẹ
yêu
thương Maria Mađalêna nhất, vì tình
thương của Chúa đã giải tỏ sáng ngời
trên bà.
Mẹ tỏ cho
bà thấy những
mầu
nhiệm rất
cao. Luôn luôn tăng thêm cho bà tình
yêu mến Chúa Cứu Chuộc,
và chấp nhận cho bà rút lui vào một
nơi cô tịch để sám hối. Sau này,
bà đã được chính Mẹ giúp ý kiến và
ban phép lành cho,
trước khi rút vào cô tịch trong rừng
vắng. Tại đây Mẹ còn đến thăm bà
một lần nữa và các thiên thần của
Mẹ năng đến tăng
sức mạnh cho bà trong cảnh hoang
liêu vắng lặng đến rợn người nơi
bà ẩn dật.
Đặc
biệt là các tông đồ được Mẹ Maria thiết tha yêu kính nhất.
Nhờ những
ân sủng Mẹ
xin cho các
vị, các
vị càng
tăng thêm
nhiềm tôn trọng và mến yêu Mẹ.
Tuy nhiên, Mẹ ưu ái thánh Phêrô và thánh
Gioan nhất:
thánh
Phêrô
vì sẽ
là Đại Diện
của Chúa
Giêsu, còn thánh Gioan sẽ thay
chỗ Chúa bên cạnh Mẹ. Nhưng sự ưu ái
ấy vẫn không
làm
cho các vị
khác ganh
tị. Riêng
thánh Gioan được một ánh sáng linh
hoạt soi cho hơn các tông đồ khác
về những cao trọng của Mẹ và của
Thiên Chúa. Được gọi là môn đệ
dấu yêu của
Chúa Giêsu
cũng như môn
đệ dấu
yêu của
Mẹ, thánh
Gioan đã đem hết khả năng, để khỏi
rời xa Mẹ, tìm cách làm hài lòng
Mẹ nhất,
cư xử
với Mẹ
một cách
tôn kính
tha thiết
nhất, và là người đầu tiên gọi
Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, là Mẹ Chữa tội
loài
người, là Chủ Mẫu
các dân tộc.
Ông cũng
là
người đầu
tiên gọi Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu. Sau
này, các tín hữu thường dùng danh
từ này
để gọi Mẹ,
và cứ
mỗi lần
nghe nói đến
là Mẹ lại
thoả nguyện vô cùng.
Nói
chung, Mẹ quý mến tất cả các tông đồ khác một cách tôn kính
khiêm nhượng,
mỗi
vị vì một
nhân
đức riêng
biệt, và
tất cả đều vì Chúa Giêsu Kitô.
Đối lại, tất cả các vị đều tỏ
lòng
sùng kính Mẹ cách trung tín nhất,
và nhiệt thành nhất.
Chỉ
có một mình tên Giuđa khốn nạn là không như thế. Lỗi đó
đã là đầu
mối gây
ra mọi
điều khả
ố của y.
Y để mình
bị lôi
cuốn theo một mối ác cảm ganh
hờn với các đồng bạn, và bội
bạc phẫn
uất với
Mẹ Maria,
Người
Mẹ đã từng
chỉ bảo
cho y
những lời khuyên nhủ rất thiết
tình. Việc y quay lưng lại
với Người
Mẹ rất yêu đương này đã dẫn
y tới chỗ căm phẫn với Chúa Giêsu.
Y
dám chỉ
trích cả
giáo lý
và cuộc sống
của Chúa.
Y có manh
tâm lợi dụng lòng tốt của Chúa
Giêsu và Mẹ Maria để làm giầu.
Một hôm,
Chúa ngỏ
ý muốn
có người
làm thủ
quỹ giữ
của người
ta bố thí cho mà san sẻ cho
người nghèo. Các tông đồ khác không
ai dám tỏ ý
nhận, vì đã
biết rõ cái
nguy
hiểm của
tiền bạc,
như Chúa Giêsu vẫn giảng dậy
rồi. Chỉ có một mình Giuđa
là người
có tâm địa
đê tiện.
Bị
Satan thổi
thêm cho,
y đã cầu
cạnh với thánh Gioan làm trung
gian nói với Mẹ Maria, để Mẹ
xin Chúa
cho mình
giữ chức
ấy. Nhưng
Mẹ không
nói gì
với Chúa.
Giuđa lại đến vận động với
thánh Phêrô; song vẫn uổng công. Chính
Mẹ đã nói
rõ cho y biết
sự nguy
hiểm mà
y sẽ
rơi vào, nếu y xin chức quản lý ấy. Lòng tham của cải trần
gian làm mờ mắt y, nên y cả gan đến xin chính Chúa Giêsu. Chúa
nói nếu y giữ chức quản lý, là y tự nâng chén thuốc độc mà
uống cạn; nhưng y cứ vật nài và tự nhận là có tài điều khiển
việc quản lý giỏi hơn các tông đồ khác. Chúa cho y thấy nước
và lửa, sống và chết để y tự chọn lấy. Y đã tình nguyện giơ
tay về đường chết. Từ đó, y ra mặt căm tức Mẹ Maria vì Mẹ rộng
tay bố thí, và phẫn nộ với Chúa Giêsu vì Chúa ít nhận của người
ta bố thí cho. Ta từng biết y đã cay đắng công khai lên án
hành vi đạo đức của bà Mađalêna khi bà xức thuốc thơm cho Chúa
Giêsu như thế nào. Rốt cuộc là y mất đức tin, và, sau cuộc
sa ngã ấy, ma quỷ lôi y và chỗ phạm một tội ác gớm ghê, đời
đời lưu xú danh là một tên bị ruồng bỏ vì phản thầy.
LỜI
MẸ HUẤN DỤ
Hỡi
con, con hãy tự vạch lấy một kỷ luật bất khả xâm phạm
là ở đâu
cũng
giữ im
lặng, đoan
chính,
từ tốn,
như Mẹ đã
làm gương
cho con ở đám cưới Cana.
Cách cư xử của Mẹ ở đó cũng dậy
con biết
cách
làm vinh
hiển
Thiên Chúa
như thế
nào. Ai
ai cũng
đều được mời gọi để dấn
thân cho công cuộc trọng
đại này, người dâng kinh
nguyện và ước ao, người dâng cúng
gia tài
cùng sản
nghiệp; người này hoạt
động lao lực, người kia khuyên
dậy giảng
bảo tuỳ
khả năng và
nhiệt tâm
mình. Các
linh mục
là những người
có trách vụ này hơn tất
cả những người khác. Ước mong
ai cũng
biết rằng nếu
họ không được
cái vui
thú nhìn
thấy
thành công,
chắc chắn là họ sẽ lập
được công nghiệp vì đã chu toàn
nghĩa vụ.
Con
cũng hãy học hỏi nơi Mẹ để biết kính cẩn lắng
nghe
không
những tiếng
Chúa
nói thầm trong
tâm
hồn, mà cả
lời các thừa
tác viên của Chúa nói
bên ngoài, Chúa đã dùng môi
miệng họ để
giảng giáo
lý của
Ngài. Con
hãy hết
sức tôn kính
lắng
nghe lời họ nói cũng
như đời sống họ. Con phải coi
họ ai
cũng khôn
ngoan hùng biện cả, vì
họ đều dậy chân lý của
Chúa.
Con chỉ
phải
tìm chân
lý, chứ đừng
tìm
văn chương
diễm lệ
vì chân
lý không phải nhờ gì
đến cái áo văn chương vô ích,
cũng
hiệu nghiệm.
Ngoài
ra, con cũng hãy biết cách noi theo gương
Mẹ và
gương Con
chí thánh
Mẹ mà tỏ
ra hoà nhã
với mọi
người,
nhất là
với những ai nghèo
nàn nhất, đau khổ nhất và
bị khinh
chê nhất.
Sự khôn ngoan loài
người có cái phi lý là chỉ
nệ vào cái
mã bên
ngoài
chứ không
vào
vẻ cao
trọng
của linh
hồn và
vẻ cao
quý của nhân đức. Sự
khôn ngoan của trời
cao tôn
trọng hình
ảnh Thiên
Chúa nơi
mỗi người.
Những
khuyết điểm
tự nhiên
đều ít quan hệ. Che
giấu những khuyết điểm đó
là tật của kiêu
ngạo.
Những bạn thân thật
của Thiên Chúa chỉ sợ có
tội lỗi, và
coi nhẹ những
gì không
làm
nhọ
ố lương
tâm.
Mặt
khác, sự khiêm nhựơng mà Thiên Chúa
Sáng Tạo
gieo vào
linh hồn
như một thứ
hạt giống
thánh thiện,
cũng
đòi phải
như thế,
nhưng rắn già lại
ra sức nhổ đứt đi để thay
thế
vào đó bằng
cỏ lùng:
kiêu
căng
chết chóc.
Có
ít người
đạt được
nhân đức
này tới mức hoàn
thiện. Như bông hồng nở kèm
với gai,
hạt lúa
nảy kèm với
trấu, nọc độc
kiêu ngạo
cũng thấm
nhiễm
vào hết
những việc làm của
con người. Cho nên
Thiên
Chúa hết sức quý
trọng những ai thực sự hoàn
toàn sống khiêm
nhượng, còn quỷ
dữ e sợ không dám
tấn công họ, vì chiến thắng
của
họ
làm khổ chúng hơn
lửa hoả ngục.
Vì
thế, con hãy lợi
dụng hết mọi cơ hội để hạ
mình xuống.
Con
hãy hạ
mình xuống thấp hơn
đất cứ thản nhiên,
đừng
tỏ ra
cảm xúc gì
hơn cục đất,
khi Thiên
Chúa
nhân từ tự tay Ngài
hoặc dùng các thụ
tạo để hạ
thấp con
xuống.
Từ
bùn đất mà ra và bị tội lỗi làm
xấu
dạng,
con người
bị nết
kiêu ngạo
kiềm
chế sẽ trở
nên xấu
hơn ma quỷ,
là loài
có một
bản tính chả gì
cũng rất đẹp đẽ trước
khi sa ngã.
Nết kiêu
ngạo
này, cộng
thêm với
nết dâm
dật, một
con bạn
ô trọc
của nó, đã cai
trị Hêrôđê và đưa ông
ta đến một
cái chết
nhục nhã; còn nạn
nhân anh hùng của
ông ta là Gioan
Thuỷ Tẩy khiêm nhu
và thanh khiết
lại được an ủi chết
trong vòng tay
của Con Mẹ và của Mẹ.
Sau
cùng, con đừng quên rằng tông
đồ Gioan được
Con Mẹ
yêu dấu là
vì ông
đã yêu mến
Mẹ; còn Giuđa,
trái
lại,
phải hư
mất vì đã khinh
chê lòng cảm
thương Mẹ
tỏ cho
nó. Thiên
Chúa gớm
ghét sự khinh
bỉ đối với các thánh,
nhất
là đối
với Mẹ là
Mẹ của Ngài,
và là Mẹ
Bảo Trợ
của mọi
người.
Sự khinh
bỉ
ấy là
dấu hiệu bị trầm
luân đó, con.