30. DỰ LỄ LẬP THÁNH THỂ
Ngày
Thứ Năm Thánh, trước khi mặt trời mọc, Chúa Giêsu gọi Mẹ Maria
lại. Mẹ đến sấp mình dưới chân Chúa theo lệ quen
mà nói: "Con
là Thầy dậy của Mẹ, xin Con cứ nói, tôi tớ của Con đang lắng
nghe Con đây". Chúa nâng Mẹ dậy, và thân thưa Mẹ với một giọng dịu dàng thiên quốc rằng: :"Mẹ ạ, đây là giờ Con phải thi hành việc Cứu Chuộc thế gian. Mẹ đã tình nguyện
thưa lời Xin Vâng lúc Con Nhập Thể, Con muốn Mẹ cũng thưa
lời Xin Vâng ấy lúc này khi Con chịu Tử Nạn. Xin Mẹ bằng
lòng cho Con đi chịu đau khổ và chịu chết cho loài người,
và xin Mẹ Đồng Công với lễ hi sinh này để cứu rỗi họ".
Nghe
những lời đó, Mẹ Maria cảm thấy tâm hồn dễ cảm của Mẹ vỡ ra
dưới áp lực đau khổ mãnh liệt hơn hết Mẹ chưa từng chịu.
Rất sầu thảm, nhưng cũng rất tận tình, Mẹ lại sấp mình xuống
trước mặt Chúa Giêsu, hôn chân Ngài mà nói: "Con
là Chúa và là Thiên Chúa tối cao, Mẹ là tôi tớ của Con, mặc
dầu lòng lành khôn tả của Con đã đoái thương nâng Mẹ lên làm
Mẹ của Con, Mẹ xin tuân hợp thánh ý Cha hằng hữu và thánh ý
Con. Lễ hi sinh lớn nhất Mẹ có thể dâng là không được cùng
chết với Con, và không được thay con để ngăn cản Con khỏi chết,
ít là cho Mẹ được tham dự mọi đau khổ Con chịu, để Mẹ Đồng
Công Cứu Chuộc loài người. Con là kho tàng duy nhất của Mẹ,
xin Con hãy đoái nhận lời xin với tình mẹ của Mẹ kèm với hi
sinh đớn đau của Mẹ, và cho Mẹ được thưa một lời xin khác nữa".
Chúa
Giêsu bằng lòng, và Mẹ tiếp tục xin: "Con
chí ái của Mẹ, thật Mẹ chẳng xứng đáng với điều Mẹ ước mong,
song Con là nơi nương náu của lòng Mẹ cậy trông. Nếu đẹp ý
con, Mẹ nài xin Con cho Mẹ được tham dự vào nhiệm tích mà Con
quyết định sáng lập. Mẹ biết rõ ràng chẳng một thụ tạo nào
có thể lập công để được một ân huệ tuyệt cao như vậy, nhưng
Mẹ có thể dâng cho Con những công nghiệp của riêng Con. Tuy
nhiên, nếu Mẹ có quyền nào để làm được việc gì có giá, vì Con
đã mặc Nhân Tính thánh trong lòng Mẹ, Mẹ chỉ xin dùng quyền
ấy để thuộc hẳn về Con, nhờ cuộc chiếm hữu Con một lần nữa
trong nhiệm tích rất thánh Con sắp lập, một cuộc chiếm hữu
cho Mẹ được vui mừng cùng sống với Con. Từ khi con cho Mẹ biết
Con muốn ở lại trong Giáo hội dưới hình bánh hình rượu thánh
hiến, Mẹ đã áp dụng mọi việc Mẹ làm, mọi điều Mẹ khát vọng
để được hiệp thông với Con trong nhiệm tích ấy. Vậy, Con là
Chúa của Mẹ, xin đến cư ngụ nơi lòng Mẹ, nơi Con đã cư ngụ
trước kia, để Mẹ Con ta hợp nhất khăng khít mãi ở đó trong
một tình yêu tha thiết mới".
Mẹ
Maria nói những lời ấy với tất cả mối nhiệt tâm và tất cả tình
âu yếm Mẹ có thể. Chúa Giêsu cũng trả lời một cách thiết
tình nhất, quả quyết là Mẹ sẽ thoả nguyện khi Ngài lập nhiệm
tích tôn thờ ấy. Ngay từ đó, Mẹ đã dọn mình để hiệp lễ với
một lòng tri ân khiêm nhượng và một tình yêu tôn kính rất sâu
xa.
Tiếp
đó, Chúa Giêsu ra lệnh cho các thiên thần phải mặc hình người
túc trực hầu Mẹ và an ủi Mẹ khi Mẹ đau khổ. Rồi Chúa
lại thưa với Mẹ: "Mẹ
sẽ theo Con một quãng xa xa lên Giêrusalem cùng các phụ nữ
đạo đức đồng hành, Mẹ sẽ nâng đỡ đức tin của họ trong lúc Con
chịu Tử Nạn". Sau đó, Chúa chúc lành cho Mẹ và chào từ biệt. Niềm đau đớn xé nát Trái Tim
hai Mẹ Con lúc ấy vượt trên tất cả những đau đớn mà loài người
có thể tưởng nghĩ. Liền đấy, Chúa Giêsu tạ từ Mẹ, và rời khỏi
Bêtania, vào lúc trước giờ trưa một chút, có các Tông đồ đi
theo. Đi được mấy bước Chúa ngước mắt lên trời, kêu lên: "Lạy Cha hằng hữu, vì vâng thánh ý Cha và vì yêu mến Cha, Con sắp sửa chịu đau
khổ và chịu chết cho loài người là hình ảnh Cha, để họ được
nối lại tình thân nghĩa với Cha, và hết mọi thụ tạo đều tôn
vinh danh thánh Cha".
Mẹ
Đồng Trinh Maria lúc đó cũng đã lên đường, liền hợp tâm tình
với lời cầu xin ấy. Trên đường đi, lúc Mẹ đàm đạo với
các thiên thần, họ cùng với Mẹ ca tụng nhiệm tích cao cả Chúa
sắp lập, lúc Mẹ nói với những phụ nữ cùng đi, để củng cố đức
tin của họ trong những náo động của cuộc Chúa Tử Nạn. Bà nào
cũng lợi dụng những lời Mẹ nói, nhất là thánh nữ Maria Mađalêna,
một phụ nữ có tính tình cương nghị và tâm hồn bừng cháy toàn
lửa mến yêu Thiên Chúa.
Về
phía Chúa, như một con thiên nga trên trời, Ngài trào rất nhiều
hứng thú vào những câu truyện trao đổi với các Tông đồ.
Ngài soi sáng họ cách dịu dàng. Lúc đến gần Giêrusalem, Ngài
uỷ thác cho thánh Phêrô và Thánh Gioan đi trước để chuẩn bị
tiệc Chiên Vượt Qua theo lề luật dậy. Theo dấu hiệu Ngài chỉ
trước, hai ông đã chu toàn sứ mệnh trong nhà một nhân vật rất
giầu sang và rất tận tâm với Chúa Giêsu. Ông hoan hỉ dâng cho
hai Tông đồ một ngôi nhà có phòng rộng lớn, trang hoàng lộng
lẫy sẵn sàng, rất hợp cho việc tôn lập nhiệm tích Thánh Thể
và những mầu nhiệm trọng đại sắp diễn ra.
Chúa
Giêsu tới nơi được một lúc Mẹ Maria cũng đến. Mẹ liền sấp mình
xuống dưới chân Chúa, cầu phép lành và xin Chúa cho
biết mình phải làm gì. Theo lời Chúa, Mẹ và đoàn phụ nữ theo
Mẹ rời sang một phòng bên cạnh, nơi đây, Mẹ tham dự được tất
cả những việc xảy ra trong đêm kỷ niệm ấy. Được nâng lên trong
một cuộc chiêm niệm rất cao, Mẹ nhìn thấy những mầu nhiệm lạ
lùng đó rõ ràng như ở trước mắt. Mẹ hiệp thông vào hết tất
cả những mầu nhiệm ấy với tư cách là Đấng Đồng Công với Con
Mẹ, Người Con có những nhân đức, những hành vi, những lời cầu
nguyện lúc nào cũng vang động trong Trái Tim Mẹ như một vang
âm trên trời. Mẹ cũng hát lên thêm nhiều ca khúc chúc tụng
mới để hợp lòng với Con Mẹ.
Chúa
Giêsu vào căn phòng đã dành sẵn cho Chúa. Ngài nói với các
tông đồ rằng: bữa ăn tối hôm nay sẽ chấm dứt những nghi
lễ tượng trưng trong Luật Cũ, vì hôm nay thực tại được thể
hiện. Trong thâm tâm, Ngài cảm tạ Cha hằng hữu về thực tại
đó, rồi vào dự bữa tiệc chiên Vượt Qua cuối cùng đời Ngài.
Cuối tiệc, Ngài chỗi dậy, thầm đọc lời nguyện này: "Lạy
Cha hằng hữu, Con sắp tự hạ xuống tới tro bụi để lưu cho Giáo
hội của Con một tấm gương khiêm nhượng. Nhằm mục đích đó, Con
sẽ rửa chân cho các môn đệ Con, kể cả Giuđa, con người đê tiện
hơn hết mọi người vì ác tâm của y. Con sẽ phủ phục trước mặt
nó, tha thứ cho nó và nhận nó làm bạn thân của Con, để cả trời
đất ít ra cũng biết rằng vòng tay khoan dung của Con vẫn sẵn
mở để đón nó".
Ngài
cởi áo choàng ra, áo mà Mẹ Maria may cho Ngài mặc bên ngoài
áo không có đường chỉ. Ngài lấy một chiếc khăn vải thắt
lưng, lấy nước đổ vào chậu, và rửa chân các các Tông đồ như
Phúc Âm đã thuật lại. Lời ngài nói với Phêrô: "Bây
giờ con chưa hiểu được việc Thầy làm đâu, sau con mới hiểu", có nghĩa là: "Con hãy bắt trí năng con khuất phục trí năng Thầy, mà vâng lời, vì hễ không vâng
lời là không có khiêm nhượng thật, mà chỉ có kiêu căng". Thánh Phêrô chưa hiểu lời đó. Ông rối rít với sự khiêm nhượng sơ hở của ông
mà nói: "Không, thưa Thầy, sẽ không bao giờ Thầy rửa chân cho con đâu". Chúa Giêsu phải nghiêm nghị dùng đến lý mạnh: "Nếu con không để Thầy rửa cho, con sẽ không được dự gì với Thầy nữa!" Đừng dự gì với Thầy có nghĩa là không được dự vào nhiệm tích Thánh Thể và ơn
Cứu Chuộc. Với lời đe doạ đó, Chúa đã thiết lập nền tảng vững
chắc cho đức tuân phục. Khi nào không thấy rõ ràng bề trên
lầm, vẫn phải nhắm mắt tuân phục, chứ không được tìm lý sự
để không tuân. Được soi sáng rõ, thánh Phêrô vừa sợ vừa yêu
mến một cách thánh thiện nhiệt thành, ông trả lời: "Vâng, xin Thầy cứ rửa không những chân con, mà cả tay với đầu con nữa". Ngỏ lời với tất cả các tông đồ, Chúa nói: "Các con đã sạch, nhưng không phải tất cả đã sạch đâu. Ai đã tắm rồi chỉ cần rửa
chân nữa là xong (Nghĩa là sạch những khuyết điểm nhẹ, những
bất toàn, là những cái trở ngại cho việc lĩnh nhận đầy đủ các
hiệu quả thần linh của việc hiệp lễ Thánh Thể).
Chính
Giuđa là kẻ bị Chúa ám chỉ khi nói ra câu trừ ra ở trên. Chúa
rất thương xót, không những xử với hắn y như với các tông
đồ khác, mà còn tỏ ra những bằng chứng yêu thương đặc biệt.
Ngài đến với hắn với một thái độ đáng mến, vỗ về, quỳ xuống
chân hắn, rửa chân hắn, hôn lên và áp lên ngực một cách rất
âu yếm. Đồng thời, Ngài dội vào linh hồn hắn những ơn soi sáng
và ân sủng thích thuận để quy hồi hắn. Nhưng tên khốn nạn đó
ruồng rẫy tất cả, vì lẽ hắn đã giao ước với đảng Biệt phái
để nộp Thầy mình cho họ, và vì ma quỷ đã chỗm chệ lên ngôi
trong tâm hồn nham hiểm của hắn rồi. Từ vực thẳm của lương
tâm hắn, nổi lên một trận bão táp mạnh mẽ đầy hổ thẹn, cay
đắng và căm hờn, hắn không dám nhìn lên mặt Chúa Giêsu nữa.
Sau
khi đã làm xong những nghi thức chuẩn bị, Chúa Giêsu lại mặc
áo choàng vào và lại ngồi vào bàn. Trong lúc thánh Gioan
dựa đầu lên ngực Chúa, Chúa đã dậy ông những điều tuyệt cao
về Ngôi Vị rất thánh của Chúa và về Mẹ Maria thánh đức của
Chúa. Chính lúc đó, Chúa đã trối Mẹ làm Mẹ ông. Ở trên Thánh
Giá, Chúa chỉ công khai tuyên bố một việc đã quyết định riêng
trước rồi. Cho nên Ngài mới nói: "Mẹ
của con đây này!" Tất cả các Tông đồ lúc ấy cũng đều lĩnh nhận được những ánh sáng mới về các
mầu nhiệm trọng đại, những ánh sáng ấy chuẩn bị các ông kỹ
càng hơn để rước lĩnh Thánh Thể. Để lập nhiệm tích này, Chúa
Giêsu đã cho dọn một chiếc bàn tương tự như những chiểc bàn
ngày nay ta dùng. Ông chủ nhà trải lên một tấm khăn rất quý,
đặt thêm một chén lớn có hình nụ hoa. Đĩa và chén đắt giá ấy
làm bằng một thứ đá quý giống như ngọc bích. Về sau, các Tông
đồ vẫn dùng để cử hành Thánh Lễ.
Khi
tất cả đã sẵn sàng, Chúa Giêsu nói với các Tông đồ một bài
dài đầy những ý thâm trầm kỳ diệu. Lời Ngài nói thấm vào
tận đáy tâm hồn các ông, như những mũi tên bừng lửa tình yêu,
gây nên một trận cháy êm dịu. Ngài mạc khải cho các ông những
mầu nhiệm tối cao về Thần Tính Ngài, về Nhân Tính Ngài, về
ơn Cứu Chuộc, cũng như về sự cao trọng, về chức vị tuyệt vời
và đặc ân của Mẹ Maria.
Sau
khi Chúa nói xong huấn từ rất cảm kích đó, các thiên thần đưa
hai ông Hênóch và ông Elia đến, để hai vị tổ phụ của luật
tự nhiên và luật thành văn ấy được tham dự vào nhiệm tích Thánh
Thể. Sau cùng, cả Ngôi Cha và Ngôi Thánh Thần xuất hiện với
toàn thể triều đình thiên quốc. Hết các Tông đồ đều cảm thấy
sự xuất hiện này, nhưng chỉ có một vài vị nhìn thấy, đặc biệt
là thánh Gioan, là một người bao giờ cũng có đặc ân có cái
nhìn của phượng hoàng về những mầu nhiệm thần linh. Bộ Luật
ân sủng và Giáo hội Tân Ước đã được thành lập trong vẻ lộng
lẫy cực kỳ huy hoàng ấy.
Lúc
đó, Chúa Giêsu thầm nguyện trong tâm hồn một lời nguyện cầu
cùng Cha hằng hữu xin cho loài người được cứu rỗi, và xin
Cha chấp thuận cho Ngài lập các nhiệm tích, để ban cho mọi
người những nhu cầu thiêng liêng. Chỉ một mình Mẹ Maria là
được biết lời nguyện này; Mẹ hợp lòng với lời nguyện ấy với
tư cách là Mẹ, là Đấng Đồng Công của Chúa Cứu Thế. Tên quỷ
Luxiphe vác mặt đến đó, với manh tâm là đem thói hiểm độc của
hắn chống lại với những ân sủng sắp sửa được ban xuống đầy
tràn. Nhưng Đức Nữ Vương vũ trụ chiếu quyền Chúa Giêsu ban
cho mình, ra lệnh cho con rồng dữ đó và chư hầu của nó phải
nhào xuống hang hố hoả ngục lập tức. Chúng cứ phải ở đó cho
đến lúc chúng được phép ra để dự khán cuộc Tử Nạn của Chúa.
Các thiên thần đến chúc mừng chiến thắng ấy của Mẹ.
Lúc
đó, Chúa Giêsu xướng một ca vịnh khác tôn vinh Cha Ngài, và
cảm tạ Cha Ngài vì đã ưng nhận lời Ngài cầu xin cho loài
người. Rồi Ngài cầm bánh đặt trong đĩa lên, ngước mắt nhìn
trời, nhìn Cha hằng hữu và Thánh Linh, với một phong thái uy
nghi đến nỗi các Tông đồ, các thiên thần và cả Mẹ Maria đều
ngợp một niềm kính sợ mới. Sau cùng, Chúa đọc lời hiến thánh
hai hình bánh rượu.
Chúa
vừa đọc xong, Cha hằng hữu đáp lời: "Đây
là Con chí ái Ta, Ta thoả nguyện nơi Người, và Ta sẽ thoả nguyện
nơi Người cho đến tận thế. Người sẽ ở lại với loài người suốt
thời gian lưu đầy của họ nơi trần gian". Chúa Thánh Linh cũng xác nhận lời hứa ấy. Và Nhân Tính rất thánh của Chúa Giêsu
cúi sâu trước Thần Tính hiện diện trong nhiệm tích. Mẹ Maria
khiêm nhượng sấp mình xuống, các thiên thần hầu cận Mẹ, cũng
như tất cả những người khác: Hênoch, Elia, các Tông đồ, đều
thờ lạy Thánh Thể, chỉ trừ có tên Giuđa là kẻ không tin. Chúa
Giêsu lại dâng cao Mình cùng Máu đã hiến thánh của Ngài lên
để mọi người tham dự Thánh Lễ đầu tiên ấy thờ lạy một lần nữa.
Các
ông Hênóch, Elia và thánh Gioan lúc đó được một ánh sáng mới
mẻ soi cho, nhưng kém hơn Mẹ Maria. Hơn hết cả mầu nhiệm,
Mẹ hiểu thấu những cao trọng và mĩ lệ của nhiệm tích Thánh
Thể, cũng như những phép lạ mà quyền năng, và sự khôn ngoan
về tình yêu của Thiên Chúa chất đầy lên trong đó. Mẹ cũng lại
thấy cả sự tệ bạc khó hiểu của loài người qua các thế kỷ sẽ
xử với mầu nhiệm rất đáng tri ân này. Mẹ liền tự nhận trách
nhiệm tu sửa lại hết sức có thể sự vô tình cứng cỏi ấy, bằng
những việc tạ ơn liên tục suốt đời Mẹ. Mẹ rất đau khổ vì sự
tệ bạc ấy, đến nỗi thường rơi lệ máu.
Sau
khi dâng cao Thánh Thể, Chúa Giêsu bẻ lấy một phần, rồi tự
mình rước lấy với tư cách là Linh Mục tối cao và đầu tiên,
rồi với tư cách là Con Người, Ngài nhìn nhận mình ở dưới Thần
Tính mà Ngài lĩnh nhận, Ngài hạ mình trước Thần Tính ấy. Lúc
đó, Linh Hồn vinh hiển của Ngài giãi sáng ra nơi Thân Xác Ngài
một lúc như trên núi Tabôrê. Nhưng chỉ có một mình Mẹ Maria
là nhận thấy như thế hoàn toàn thôi.
Trong
khi hiệp lễ, Chúa Giêsu đọc một bài ca tán tụng Cha hằng hữu,
dâng mình cứu rỗi loài người. Rồi Ngài bẻ một phần bánh
thánh hiến, trao cho Đức Tổng Thần Gabrie, để Tổng Thần đem
đến cho Mẹ Maria. Mẹ đợi chờ, hai mắt đẫm lệ, khi Đức Tổng
Thần đến với một đạo binh đông đảo thiên thần khác. Mẹ chịu
lấy Thánh Thể từ tay Đức Tổng Thần. Mẹ là người thứ nhất hiệp
lễ sau Chúa Giêsu. Mô phỏng Chúa Giêsu, Mẹ hạ mình rất thiêm
nhượng tạ ơn Chúa. Thánh Thể được đặt vào Trái Tim Mẹ, như
vào trong Nhà Tạm xứng đáng nhất của Thiên Chúa, và cứ còn
nguyên vẹn mãi ở đó cho tới khi Mẹ hiệp lễ lần sau.
Sau
khi Đức Nữ Vương các thánh đã lãnh nhận Thánh Thể rồi, Chúa
Giêsu lại trao bánh thánh hiến cho các Tông đồ, truyền
cho các ông chia nhau mà ăn. Bằng lệnh truyền đó, Ngài đã lập
chức linh mục. Các Tông đồ bắt đầu thi hành chức vụ ấy trong
khi tự mình rước lễ với một niềm tôn kính cao vời và chảy nước
mắt nhiệt tâm.
Chỉ
có một mình Giuđa thảm thương là không những không tin, không
yêu mến, mà còn oán giận và điên đảo, y vẫn cứ là tên
bội phản bỉ ổi nhất. Khi y nghe Chúa Giêsu ra lệnh cho các
Tông đồ hiệp lễ, y có mamh tâm giữ bánh Thánh Thể lại, nếu
có thể, và đem đến nộp cho các vị thượng tế, làm bằng chứng
cho họ lên án Thầy mình vì đã quả quyết bánh đó là chính mình
Ngài. Nếu không thể xúc phạm được như thế, y nhất quyết tìm
cách khác để mưu hại đến phép Thánh Thể.
Được
một thị kiến rõ ràng, Mẹ Maria quan sát tất cả sự việc xảy
ra. Mẹ thấy rõ ý đồ gớm ghiếc của Giuđa. Bừng cháy nhiệt
tâm tôn kính Thiên Chúa, tôn kính Con Chí Thánh mình, trong
nhiệm tích Thánh Thể, và thấy rõ ý Ngài muốn Mẹ dùng quyền
làm Mẹ, làm Nữ Vương trong hoàn cảnh này, Mẹ truyền cho các
thiên thần lấy lại bánh và rượu khỏi Giuđa và đặt vào phần
còn lại trên bàn. Các thiên thần vâng lệnh Mẹ. Khi con người
khốn nạn nhất loài người đó cả gan hiệp lễ, các thiên thần
lấy hình bánh hình rượu từ miệng hắn ra, thanh tẩy sự tiếp
xúc phạm thánh ấy, rồi đặt chung với các phần khác. Việc ấy
thực hiện trong vô hình, nên không ai nhìn thấy ngoài Chúa
Giêsu và Mẹ Maria. Thật là cho đến giây phút cuối cùng, Chúa
Giêsu còn muốn bảo vệ thanh danh cho kẻ tử thù của Ngài! Các
Tông đồ hiệp lễ cùng với Giuđa, lần lượt theo thứ tự trước
sau, ăn Mình và uống Máu thánh tại chỗ nghiêng mình.
Sau
đó, theo lệnh Chúa, thánh Phêrô đã đem Thánh Thể cho ông Hênóch
và Elia để hai ông được sức mạnh sống cho đến tận thế,
đợi chờ phúc hưởng kiến đời sau. Hai vị được đặc ân đó rồi,
các thiên thần đưa các ông về nơi cư ngụ bí mật của các ông.
Cuối
cùng, khi mọi người đã hiệp lễ xong, Chúa Giêsu lại tạ ơn Cha
Ngài một lần nữa. Ngài nói cho các môn đệ nghe một huấn
từ rất cảm động khác, và chấm dứt mầu nhiệm tiệc chiên theo
luật và nghi thức lập Thánh Thể, để bắt đầu thể hiện những
mầu nhiệm Tử Nạn Cứu Chuộc.
LỜI
MẸ HUẤN DỤ
Hỡi
con, người công giáo sẽ hạnh phúc biết bao nếu, họ vượt khỏi
những lưu luyến trần gian, những đam mê áp chế, mà lợi
dụng những ân huệ vô giá trong Thánh Thể! Nhờ Thánh Thể, họ
có Đấng Cứu Chuộc chí thánh ở giữa họ: họ có thể thăm viếng
và rước lĩnh. Đã được Chúa rồi, họ không còn khát khao gì,
không còn phải sợ hãi gì trong cuộc lưu đầy của họ ở đời này
nữa. Chúa đã lập nhiệm tích khôn tả này làm phương dược chữa
lành bệnh tật họ, nâng đỡ họ khi yếu đuối, làm kho tàng cho
họ khi khốn cùng, an ủi họ khi đau khổ, cho họ chiến thắng
khi bị cám dỗ, và nên sự sống, nguồn vui và ơn cứu rỗi họ.
Thánh Thể là nguồn mạch muôn ơn của tín hữu, mà họ không chạy
đến với Thánh Thể khi ngặt nghèo, đó là họ phạm một lỗi lầm
lớn nhất.
Thế
nên, ma quỷ ra sức làm họ lìa xa Thánh Thể. Mặc dầu chúng bị
cực khổ trước Thánh Thể, chúng cũng cứ vào các Nhà Thờ để
xúi giục người ta bất kính với Thánh Thể và phạm những tội
khác nữa, vì chúng hiểu sự sỉ nhục người ta làm cho Chúa uy
nghi ở đó là sỉ nhục rất nặng nề.
Nhưng
những người đã được nuôi dưỡng bằng Bánh Thánh này một cách
vừa sốt sắng vừa thanh sạch, giữ mình mãi như thế từ lần
hiệp lễ này đến lần hiệp lễ nọ, có năng lực chống lại ma quỷ
mạnh mẽ biết bao! Ở trên trời, họ sẽ nên rực rỡ sáng như mặt
trời, vì vinh quang Nhân Tính của Con Chí Thánh Mẹ sẽ giãi
chiếu trên họ cách đặc biệt; còn những kẻ không siêng năng
rước chịu Thánh Thể không được như thế. Ngoài ra, thân xác
vinh quang của họ còn mang trên ngực những biểu chương rạng
ngời nói lên rằng trái tim họ đã từng là nhà tạm xứng đáng
chứa Thánh Thể. Đó là một niềm vui phụ trội cho họ, là đề tài
ca tụng Thiên Chúa của các thiên thần, và là đề tài thán phục
của các thánh. Họ còn được hưởng một phần thưởng phụ trội khác
nữa là nhận thức rõ hơn được cách Chúa Giêsu ngự trong Thánh
Thể và những phép lạ Ngài làm để ở lại đó. Chỉ một nhận thức
này thôi cũng làm họ ngây ngất, đủ làm hạnh phúc đời đời cho
họ. Còn về vinh quang thiết yếu của họ, ngang với và thường
khi còn vượt trên vinh quang thiết yếu của rất nhiều vị
tử đạo không được ích lợi nhờ hiệp lễ nữa.
Nhưng
cần phải chuẩn bị hợp lẽ để hiệp lễ biết bao! Mặc dầu Mẹ đầy
ngập những ân sủng và đặc ân, mặc dầu Mẹ đã luôn luôn
lao nhọc và chịu đau khổ để phụng sự Thiên Chúa, Mẹ vẫn tin
rằng chỉ một lần rước chịu Con chí thánh Mẹ ngự trong Thánh
Thể thôi cùng đã là một phần thưởng cao trọng lắm rồi. Con
hãy coi những việc con làm rất vô nghĩa, công nghiệp con
lập rất tầm thường, các đau khổ con chịu rất nhẹ nhàng, và
lòng
tri ân của con rất thiếu sót đối với một ân huệ cao cả như
vậy. Nếu con không thể trả ơn Con Mẹ cho đúng với ân huệ
vô giá ấy, ít là con hãy luôn luôn dọn mình, luôn luôn sẵn
sàng
chịu rất nhiều lần những cuộc tử đạo, để được hưởng một ân
huệ rất trọng đại này, bằng cách hoá ra không trong sự bất
xứng của con.