31. THẢM CẢNH VƯỜN CÂY DẦU
Lúc
vào đêm, Chúa Giêsu ra khỏi nhà Tiệc Ly, Mẹ Maria cũng ra khỏi
căn phòng ẩn dật của Mẹ. Thoạt vừa gặp nhau, Trái
Tim của Chúa và của Mẹ đã bị một lưỡi gươm đau khổ xuyên
qua rất thống thiết, không ai có thể dò được một vết thương
nào sâu thẳm như vậy. Người Mẹ thảm sầu nhất ấy sấp mình
xuống trước mặt Người Con hoàn thiện nhất, thờ lạy Con là
Thiên Chúa của mình. Và Chúa Giêsu nhìn Mẹ với một vẻ uy
nghi thần linh và với một tình yêu thơ thảo vừa nói: "Mẹ
ạ, Con sẽ ở với Mẹ trong đau khổ; chúng ta hãy làm trọn thánh
ý Cha và việc cứu rỗi loài người". Mẹ Maria liền dâng mình làm lễ hi sinh với một tâm hồn quảng đại vững vàng
khôn tả, và xin Chúa Giêsu chúc phúc cho mình, Chúa làm phép
lành cho Mẹ và muốn rằng, từ nơi ẩn dật của Mẹ, Mẹ nhìn thấy
tất cả những gì sẽ xảy ra, cũng như tất cả những gì Chúa
sẽ làm, để Mẹ bắt chước Chúa và Đồng Công với Chúa trong
hết mọi sự kiện, tuỳ theo chỗ liên hệ đến Mẹ. Ông chủ nhà
có mặt lúc đó đã xin để Mẹ sử dụng tuỳ ý Mẹ cả ngôi nhà của
mình, cả hết những gì có trong nhà, suốt thời gian Mẹ ở lại
Giêrusalem.
Chúa
Giêsu ra đi lên núi Cây Dầu, chỉ có mười một Tông đồ cùng
đi với Chúa. Còn Giuđa đã ra đi ngay khi ăn miếng bánh
Chúa
trao trong nhà Tiệc Ly. Ông ta đi báo tin cho các thượng
tế biết cơ hội tốt đẹp Chúa lên núi đó, để họ bắt Thầy mình.
Luxiphe
hoài nghi Chúa là Đấng Cứu Thế, nên hiện ra với Giuđa dưới
hình một bạn thân của y, một người bạn có tâm địa cực ác
mà y đã tiết lộ ý định nộp Thầy cho, để cản ngăn y đừng thực
hiện
ý định ấy. Nhưng vô ích, một lần nữa, tên phản Thầy vẫn ngoan
cố với đầu óc của mình. Mẹ Maria than khóc Giuđa hư mất,
rất nhiều thảm thương đến nỗi Mẹ sẵn sàng chịu chết cho y,
nếu
cần phải chết. Mẹ dâng nhiều hành vi yêu mến và ca tụng Chúa
Giêsu để đền tạ tội ác của y. Mẹ cũng cầu nguyện cả cho những
người lúc đó sửa soạn tìm giết Chúa là Chiên chí thánh.
Trong
vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu một lần nữa bắt đầu dâng mình cho
Cha Ngài để làm thoả mãn phép công bằng của Cha,
và cứu
chuộc loài người. Ngài cho phép những khổ hình trong
cuộc Tử Nạn được tự do hành hạ cảm tính trong Nhân Tính Ngài,
và đình
chỉ niềm an ủi mà Nhân Tính Ngài có thể tiếp nhận được
từ phần vô cảm, để được hoàn toàn bị bỏ rơi mà chịu tất
cả các
đau
khổ tới độ sâu sắc nhất. Vì thế, Ngài nói với ba môn
đệ
là: "Linh
Hồn Thầy buồn sầu đến chết được". Sấp mặt xuống sát đất, ba lần Chúa kêu lên với Cha lời nguyện này: "Lạy Cha, nếu có thể được, xin Cha cất chén này xa khỏi Con". Nỗi buồn sầu mênh mông ấy, sự ghê rợn sâu xa ấy, Ngài phải chịu không vì sợ
những đau khổ trong cuộc Tử Nạn, nhưng vì thấy rằng, dầu
Ngài phải chịu đau khổ như vậy, cũng có một số đông đảo
những kẻ
bị trầm luân phải đau khổ còn hơn nữa vì đã khinh chê đau
khổ Ngài chịu. Đó mới là chén đắng kinh khủng mà Ngài xin
Cha Ngài
cất xa khỏi, nhưng vẫn hoàn toàn tuân hợp thánh ý Cha.
Nhưng kẻ ngoan cố trong tội lỗi, mặc dầu được bấy nhiêu
ân sủng,
mà vẫn phải phạt đời đời, nên Chúa Cứu Thế, bởi không thể
nào cản ngăn được án phạt chí công đó, đã bị ngã vào một
cơn hấp
hối toát máu ghê hồn. Nhân danh Thiên Chúa, Đức Tổng Thần
Micae đến mang cho Ngài một an ủi. An ủi này là trình bày
cho Ngài
thấy rằng, mặc dầu cuộc Tử Nạn Ngài chịu hoá nên vô ích
cho nhiều kẻ vô phúc, nhưng cũng có hiệu nghiệm cho một
số rất
đông người được tuyển chọn, mà Người đứng đầu là Mẹ chí
ái của Ngài.
Từ
nhà Tiệc Ly, Mẹ Maria nhìn thấy hết sức rõ ràng tất cả những
sự kiện xảy ra tại vườn Cây Dầu. Mẹ bắt chước
Con Mẹ
với tất
cả khả năng của Mẹ. Chính trong lúc Chúa Giêsu đi ra
cùng với ba Tông đồ là Phêrô, Gioan và Giacôbê, Mẹ
cũng rút
lui vào
một phòng khác cùng với ba phụ nữ đạo hạnh cùng có
tên là Maria, trong số đó có Maria Mađalêna mà Mẹ đã đặt
làm đầu
tất cả.
Còn những phụ nữ đức hạnh khác Mẹ để lại bên ngoài,
và khuyến khích họ bền tâm canh thức cầu nguyện, để khỏi
bị cám dỗ.
Khi Mẹ ở một mình với ba nữ môn đệ rất thân tín ấy,
Mẹ cầu xin
Thiên Chúa ngưng ban hết mọi an ủi có thể cản trở không
cho Mẹ cảm nghiệm được tất cả những đau khổ kinh rợn
nhất trong
thân xác và linh hồn Mẹ, cùng với Chúa Giêsu và theo
gương Chúa Giêsu. Mẹ cũng xin cho được chịu trong thân
xác Mẹ
hết những đau đớn của những vết thương Chúa Giêsu sắp
chịu trong
cuộc Tử Nạn. Thiên Chúa Ba Ngôi chấp nhận và chuẩn
y hai lời xin đó. Vì thế, với một mức độ nào đó, Mẹ Maria
cảm
thấy tất
cả những cực hình Chúa Giêsu chịu. Những đau đớn ấy
sâu sắc dữ dằn khủng khiếp, nếu Chúa không ban ơn trợ
giúp cách lạ, Mẹ đã chết đi nhiều lần. Nhưng dưới một
khía cạnh
khác, những đau khổ ấy lại đảm bảo sự sống của Mẹ:
với tình yêu rất nồng nàn của Mẹ, không gì có thể làm
Mẹ phải
đau khổ
đến chết được, hơn là nhìn thấy Con Mẹ phải đau khổ
và phải chết, mà không được cùng chịu với Chúa những
đau khổ
y như
Chúa chịu.
Sau
hành vi rất anh hùng ấy, Mẹ nói với ba nữ môn đệ mà Mẹ đã
chọn để tham dự với Mẹ vào cuộc Tử Nạn của
Chúa: "Linh
hồn Mẹ rất buồn sầu vì Con của Mẹ, Chúa của Mẹ, phải đau khổ
và phải chết, mà Mẹ không được cùng với Người chịu cùng những
đau khổ Người đã chịu. Các con ơi, các con hãy cầu nguyện để
khỏi thua chước cám dỗ". Rồi Mẹ lui xa riêng ra một ít, hợp tâm với lời cầu nguyện của Chúa Giêsu. Mẹ
trở lại với ba nữ môn đệ ba lần, vì ma quỷ điên cuồng xông
đánh họ. Mẹ cũng phải hấp hối giống như Chúa Giêsu. Như
Chúa, Mẹ khóc vì các Tông đồ buồn sầu và mê ngủ, cũng như
vì những
tội nhân bị đoạ phạt và cứng lòng. Mồ hôi pha máu từ toàn
thân Mẹ toát ra. Thiên Chúa sai Đức Tổng Thần Gabrie đến
an ủi Mẹ,
cũng như sai Đức Tổng Thần Micae đến an ủi Chúa Giêsu:
Mẹ chịu phiền não y như Chúa Giêsu, nên cũng được an ủi
y như Chúa
Giêsu. Luôn luôn lo đến Con Mẹ, Mẹ uỷ một số thiên thần
hầu cận đem khăn đến lau mặt phủ đầy máu của Chúa. Vì yếu
mến Mẹ,
Chúa Giêsu ưng nhận tình ân cần yêu đương ấy của Mẹ.
Mẹ
khủng khiếp biết bao, khi thấy một đoàn lính, gia nhân, cả
Do Thái cả dân ngoại, dưới quyền chỉ
huy của
một cai
đội, có Giuđa hướng dẫn tiến vào vườn Cây Dầu!
Thấy trước những
sỉ nhục bọn người đó sẽ làm cho Chúa Giêsu, Đấng
Sáng tạo họ, Mẹ mời các thiên thần và các nữ môn
đệ của
Mẹ đền tạ
sự vô
đạo của chúng, bằng cách cả trong lòng cả bề ngoài
làm những việc tin, yêu, thờ lạy Thần Tính và Nhân
Tính Chúa.
Các nữ
môn đệ bắt chước Mẹ bái gối rất nhiều lần với tâm
tình: tin, mến, thờ lạy. Các thiên thần đáp hát
những ca
khúc Mẹ hát
lên ca tụng tôn vinh Hữu Thể nhân loại và Thần
Linh của Chúa Giêsu,
Hi lễ cực thánh. Bằng việc đó, Mẹ đã làm nguôi
phép công bình Thiên Chúa, và ngăn cản Ngài khỏi giáng
phạt bọn
cừu địch hèn
hạ đó lập tức. Đặc biệt Mẹ cầu bầu cho tên Giuđa
phản bội, khi y đem miệng ô uế của y mà hôn mặt
Chúa Giêsu
làm quy
ước để kẻ thù bắt đúng Chúa cho khỏi lầm. Theo
lời cầu xin của
Mẹ hết sức thống thiết, Chúa nhân từ soi vào tâm
hồn người Tông đồ khốn nạn đó một ánh sáng rất
linh động,
tỏ cho y
thấy không những tội ác của y tối tăm đáng phạt
thế nào, mà còn thấy cả là y chắc chắn và hân hoan
được tha thứ,
nếu y
hối hận. Nhưng than ôi! hạt giống chí thánh ấy
không sinh một hiệu quả nào trong tâm hồn cứng
rắn hơn kim cương,
và tàn bạo
hơn hổ báo của tên phản phúc đó.
Trong
bọn người đến bắt Chúa tại vườn Cây Dầu, có cả Luxiphe và
đông đảo thần dữ trà trộn vào.
Chúng
xúi
giục Giuđa
và bọn quân dữ đem tất cả bạo lực của chúng mà
hành hạ Chúa
Giêsu.
Lúc bọn này trả lời Chúa là chúng đi tìm bắt
Giêsu Naxarét, Chúa chỉ trả lời gọn ghẽ rằng: "Ta
đây". Lời ngắn gọn chứa đựng biết bao ý nghĩa đó quật ngã chúng tất cả: cả người,
cả ngựa, cả bọn chó chúng đem theo để đánh hơi,
và cả đám đông ma quỷ thúc bách chúng nữa. Chúa
cảm thương nhìn chúng
nằm
xo giụi ngổn ngang trước mặt mình, như hình ảnh
một đoàn người bị đoạ phạt. Về phía Mẹ Maria,
cùng với các thiên
thần, Mẹ
ca tụng quyền năng bất khả kháng của Chúa; nhưng,
bao giờ cũng đầy trắc ẩn, Mẹ cầu xin Chúa cho
phép những kẻ khốn
nạn ấy
đứng dậy. Và chính Chúa cũng đã quyết định chỉ
cho chúng đứng dậy khi có lời Mẹ cầu xin. Chúng
bị nằm lịm hoảng
hồn như vậy
chừng nửa khắc đồng hồ.
Phép
lạ trên lại kèm theo một phép lạ đầy ý nghĩa khác nữa. Lúc
thánh Phêrô rút gươm chém đứt tai
của tên
Manchu là tên
đi tiền phong, Chúa Giêsu vừa chữa lành tai
bị đứt đó vừa nói với vị Đại Diện tương lai của
Ngài: "Thôi,
hãy xỏ ngay gươm vào vỏ. Giáo hội mà con sẽ làm Thủ Lãnh không
phải thành lập và bảo vệ bằng khí giới giết người, nhưng bằng
khí giới vô hại là cầu nguyện và nhân đức".
Hai
phép lạ ấy đáng lẽ phải làm cảm động bọn quân dữ ô hợp đó,
và quy hồi bọn chúng, nhưng
chúng
vẫn trơ
ra, không hề
bớt căm phẫn chút nào. Được Chúa cho phép
bắt Ngài, chúng nhảy bổ vào Ngài như những con
thú dữ. Tên
Giuđa đã căn
nhặn trước
chúng là phải coi chừng: y nói Chúa Giêsu
là một thầy phù thuỷ cao tay, nên có thể thoát
khỏi chúng
dễ như
trở bàn
tay, vì
thế chúng trói Chúa lại bằng một xiềng sắt
rất dài, chằng chịt nhiều vòng quanh lưng
quanh cổ
Chúa, và
bỏ thõng
hai đầu xiềng.
Chúng lại còng tay Chúa lại bằng những chiếc
còng sắt, buộc giật cánh tay lại sau lưng.
Để chắc hơn,
chúng
lấy hai dây
thừng ghì chặt hai cánh tay vào mình, thắt
lại bằng những nút rất chặt, hai đầu dây
chừa lại,
để có thể
lôi kéo
cả đàng trước
lẫn đàng sau.
Mẹ
Maria sầu thảm báo cho ba nữ môn đệ biết tội phạm thánh tàn
bạo đó. Họ khóc lóc não
nề, nhất
là Maria
Mađalêna tình cảm thương bộc lộ hăng nồng
nhất. Mẹ Đồng Công Cứu
Chuộc
của chúng ta đã nài xin, nên Mẹ cũng được
cảm nghiệm trong
Thân
Xác Mẹ những đau khổ do xiềng trói dây
ghì, y như chính thân Mẹ bị xiềng trói. Lúc bọn
quân
dữ lôi
kéo Chúa,
Mẹ lại còn
phải cực khổ hơn nữa. Bọn chúng lôi Chúa
ra khỏi vườn Cây Dầu giữa những tiếng reo
hò gào
thét
ghê rợn. Chúng
vừa
phun vào
Chúa Giêsu là Con Chiên rất hiền từ những
lời phạm thượng độc địa ghê tởm nhất, vừa
hành
hạ Chúa không
nương tay.
Kẻ cầm
mối dây phía ngực, kéo giụi Chúa về trước,
đứa níu mối dây phía lưng, kéo giật Chúa
về sau;
tên bắt
Chúa phải
đi mau
hơn, đứa giục Chúa phải đi chậm lại; làm
Chúa khi bị giật lùi bật
lại, khi bị xô giúi về phía trước, khi
bị ngã ngả nghiêng, lúc Chúa ngã gục đầu xuống
đất,
hai tay
bị nín cứng
vao thân mình, không lấy gì mà đỡ được,
nên mặt vừa bị thương
giập
máu, vừa lem luốc vấy nhơ. Bọn quân dữ
bất nhân vô cảm ấy lại
nhào lên Chúa, giơ giầy lên đạp mặt, vừa
đánh vừa rủa sả, coi Chúa như một tên ác nhân đê mạt nhất.
Chính
quỷ Luxiphe đã nung cho bọn quân dữ cháy lên mối cuồng giận
vô đạo đó. Sự
bình
tĩnh,
đức hiền
từ, thái
độ bình thản
và oai nghi của Chúa Giêsu giữa những
tàn đãi bạo ngược ấy làm cho y sợ hãi hơn bao
giờ hết.
Y bực
tức với
thắc mắc:
có lẽ Chúa là Đấng Cứu Thế mà y không
thể thắng nổi đây chăng. Cho nên, y quyết định
ức bách
Chúa một
cách hung
hãn nhất,
để, nếu Chúa chỉ là một con người, Ngài
sẽ mất nhẫn nại. Nhưng
vẫn theo dõi thảm kịch đó từ căn phòng
ẩn dật, thấy rõ ý định hoả ngục của y,
Mẹ Maria
cấm
không cho
y lại gần
Chúa.
Ngay
lúc đó, y mất hết mọi nghị lực: tuy nhiên,
y được phép xúi giục bọn người Do Thái
là đồ đệ
y căm
giận Ngài,
muốn giết
Ngài cho hả dạ.
Hăng
hái thúc đẩy cừu thù của Chúa, Luxiphe cũng hăm hở chẳng
kém để xông đánh những
bạn chí thiết
của Ngài
là các Tông
đồ. Trong lúc bọn quân dữ lôi Chúa
đi, y đến làm xáo trộn niềm
tin của các ông, làm tê liệt lòng can
đảm của các ông, xúi giục các ông bỏ
trốn,
mặc dầu
các ông
vừa mới cương
quyết
thề thà chết còn hơn trốn bỏ Thầy.
Tâm hồn các Tông đồ bấy giờ
thật náo động. Các ông tự trách vì
đã hèn nhát, vì thất tín, vì vong ân. Các
ông
lại cảm thấy
là cần
phải can
đảm trở
lại bên Thầy, trở về an ủi Thân Mẫu
của Thầy. Nhưng đồng thời,
Luxiphe lại làm cho các ông nửa ngờ
nửa sợ. Đến nỗi các ông nghĩ chẳng còn gì
là đảm
bảo, chẳng
còn đâu
chắc
chắn nữa.
Tuy nhiên, thánh Phêrô và thánh Gioan
đã kháng cự những cám dỗ ấy mạnh hơn
hết các
Tông đồ
khác. Hai
ông liền
đi theo
Chúa, nhưng vẫn đề phòng. Mẹ Maria
lúc ấy rất lo lắng đến các ông.
Và các ông, nhất là thánh Gioan, cũng
rất khát mong trở về thăm Mẹ, hoạ may
làm vơi
dịu được
một chút
nỗi đau
thương
của Mẹ chút nào chăng.
Mẹ
thấy rất rõ từng tình ý, từng hành vi của các Tông đồ; không
những không
buồn
giận gì
sự yếu
đuối của
các ông,
Mẹ còn cầu
nguyện cho các ông với một lòng cảm
thương dịu dàng nhất. Mẹ thầm nói: "Ôi
những con chiên vô tội, tại sao các con lại bỏ mặc Đấng Chủ
Chăn rất đáng mến của các con? Và Con Mẹ ơi, Con là Tình Yêu
rất dịu ngọt của Mẹ, là Chúa rất nhẫn nhục, xin Con thương
đến đoàn chiên nhỏ đang bị con rắn già hung độc làm tan tác". Nhờ có Mẹ, mà các Tông đồ được Chúa tha thứ lỗi lầm các ông đã phạm, lỗi lầm
mà về sau các ông đã tu sửa một cách vinh quang. Trong
lúc đó, cả Giáo hội đều tập trung nơi Trái Tim Mẹ như trong
một
hòm bia bất hủ. Mẹ luôn luôn dâng lên Thần Tính và Nhân
Tính của Con chí thánh Mẹ những hành vi đức tin, đức cậy,
đức mến
và đức phờ phượng rất tuyệt vời cao cả. Mẹ quỳ gối và phủ
phục rất nhiều lần để thờ lạy Chúa, hát lên nhiều ca khúc
diệu kỳ
để tôn vinh Chúa. Toàn thể quan năng Mẹ lúc ấy như một
nhạc khí hoà vang dưới bàn tay quyền năng Đấng Tối Cao,
mà những
lời than van đau khổ của Mẹ không làm lỗi nhịp một hoà
điệu nào.
LỜI MẸ HUẤN DỤ
Hỡi
con, nếu con không trung thành suy niệm về cuộc Tử Nạn của
Chúa
Giêsu Tử
Giá, con
tự tuyên
án xử
phạt con
đó.
Chúa đã phán: "Cha
là đường". Như vậy, ta lại không phải đi con đường cứu độ này, trải qua những nhục nhã,
những đau thương và sự chết
của Chúa Cứu Chuộc sao? Những
người
muốn cùng cai trị với Chúa,
mà không muốn chịu đau
khổ với
Chúa, họ kiêu căng lừa dối
biết bao! Kẻ không muốn bắt
chước Cha
mình, không phải là con thật:
kẻ không thực hiện
những
bài học Thầy mình dậy, không
phải là môn đệ thật. Mẹ không
nhận vào
số người sùng kính Mẹ những
ai không cảm thương
và không thông phần với những
đau khổ của Con Mẹ và của Mẹ.
Tình
ân cần ái tuất của Chúa và
của Mẹ bắt buộc Chúa và Mẹ
phải gửi
cho họ những đau khổ, để khi
chấp nhận chịu đau khổ,
ít là một cách nhẫn nại, họ
tiến về nơi an toàn đời đời
mà họ
khát mong. Phải đi qua đường
thánh giá, người ta mới tới
được tình
yêu, mới được thương mến và
chiếm hữu Thiên Chúa.
Ngoài
sự lên trời ngự bên hữu Cha,
Chúa Giêsu chẳng thấy cái gì
ngọt ngào
hơn là chịu đau khổ và chịu
chết cho Cha và
cho loài người.
Chính
vì đã quên mất giáo huấn này mà các Tông đồ ngã thua
chước cám
dỗ Con
Mẹ đã
báo trước
cho họ.
Sự sa
ngã của Giuđa
xảy ra trước sự sa ngã của
họ còn đáng khóc hơn nữa.
Vì thế mà nó
bị phạt
nặng nề hơn
nhiều quỷ
dữ khác,
vì nó đã lạm
dụng những ân sủng không
ban cho những tên quỷ trước kia.
Những
kitô hữu nào không lợi dụng
ơn Cứu Chuộc cũng sẽ bị phạt
nặng
hơn như
vậy.
Chỉ
duy những công nghiệp của Con Mẹ lập, những công
nghiệp
mà Mẹ
không ngớt dâng
lên Cha Ngài,
cũng có
thể làm nguôi
cơn thịnh nộ công chính
của Cha, ngăn
cản Cha không tiêu diệt
thế giới tội lỗi, và không đánh
phạt ngay những đứa con
bất xứng của
Giáo hội,
những đứa
con đã không
chịu
nhận ra
bổn phận
mình, không chu toàn bổn
phận mình, những đứa con
đã biết
những đau
khổ Chúa Cứu
Chuộc và
Mẹ phải
chịu, mà vẫn vô cảm,
vẫn
tàn ác với Chúa và Mẹ và với chính
họ.