|
CA-MÊ-LÔ
Lễ kính
Đức Mẹ Ca-mê-lô được đưa
vào phụng vụ của Giáo Hội La-tinh năm
1726, và hiện nay thuộc bậc lễ nhớ
tùy ý (ngày 16 tháng 7). Lễ này kính nhớ Đức
Mẹ núi Ca-mê-lô, linh đạo Thánh Mẫu của
dòng Kín Ca-mê-lô và các ơn ích do việc mặc áo
Đức Bà đem lại.
1.
Núi Ca-mê-lô
Ngọn
núi này nằm cách Na-da-rét hơn ba mươi cây
số, nơi giáp giới giữa Sa-ma-ri-a và Ga-li-lê-a.
Núi Ca-mê-lô (từ tiếng Hy Bá Karem el nghĩa là
vườn và nho của Thiên Chúa) là một biểu
hiện ân sủng, phúc lành và vẻ đẹp
vì các loại thảo mộc xanh tốt trên đó
(Is 35:2; Ga 50:19). Đối với Thánh Kinh, trước
hết đây là ngọn núi nơi tái lập giao
ước với những lần Chúa can thiệp
qua tiên tri Ê-li-a (thế kỷ IX trước Công
Nguyên). Sau lần dùng lửa thách đố của
vị tiên tri, người Ít-ra-en đã trở
về với Thiên Chúa duy nhất và tái lập
giao ước với Người (1V 18:20-40).
Chúng
ta coi đám mây nhỏ đem đến trận
mưa ơn phúc hôm ấy như một biểu
trưng của Đức Ma-ri-a, Mẹ Chúa Cứu
Thế. Ngay từ thế kỷ V, Cơ-ri-si-pô
Giê-ru-sa-lem (Chrysippus) đã chào kính Đức Trinh
Nữ: “Xin chào kính Đám Mây Đem Mưa ban thức
uống cho linh hồn các thánh.” Với linh đạo
ẩn tu hồi thế kỷ XII, núi Ca-mê-lô trở
thành một nơi sùng kính Mẹ Ma-ri-a. Một
tác phẩm được viết khoảng năm
1220 cho các tín hữu hành hương có ghi lại:
“Trên núi Ca-mê-lô có một địa điểm
xứng hợp, nơi cư ngụ của các
ẩn sĩ mang tên Các Tu Huynh Ca-mê-lô. Cũng có
một nhà thờ nhỏ kính dâng Đức Trinh
Nữ.”
Theo
định ước thời phong kiến, việc
hiến dâng một thánh đường cho Đức
Ma-ri-a không những nói lên ý nghĩa hiến mình
phục vụ thánh đường mà còn nói lên
việc hiến mình hoàn toàn để Mẹ sử
dụng qua lời tuyên thệ tận hiến
bản thân. Vì thế, các ẩn sĩ núi Ca-mê-lô
đã chọn Đức Mẹ làm bổn mạng
và danh hiệu chính thức cho cộng đoàn họ
là: “Các Tu Sĩ của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a
núi Ca-mê-lô.”
Tước
hiệu này không chỉ nói lên việc Mẹ chở
che các tu sĩ dòng Ca-mê-lô hoặc sự hiến
thân của họ cho Mẹ, mà còn diễn tả
một nét tương đồng trong tinh thần
Phúc Âm giữa Đức Ma-ri-a và các tu sĩ Ca-mê-lô
vì cả hai đều chọn nếp sống
trinh khiết.
Núi
Ca-mê-lô như vậy đã trở thành ngọn
núi của Đức Mẹ, nơi các đan sĩ
noi theo bước chân Mẹ và thề hứa
yêu mến Mẹ. Đến thế kỷ XVII
, đền thánh Đức Mẹ núi Ca-mê-lô được
kiến thiết cạnh tu viện rộng lớn
của các tu sĩ dòng Ca-mê-lô.
2.
Linh Đạo Thánh Mẫu của Dòng Ca-mê-lô
Việc
kính nhớ Đức Mẹ núi Ca-mê-lô mời
gọi chúng ta hãy tái khám phá chiều kích chiêm niệm
trong cuộc sống. Thực sự không gì xa lạ
với các tu sĩ dòng Ca-mê-lô cũng như Đức
Ma-ri-a hơn là vì đời sống hướng
ngoại mà làm mất đi sự kết hợp
tình yêu với Thiên Chúa.
Núi
Ca-mê-lô gợi lại hình ảnh sứ ngôn Ê-li-a,
con người của cầu nguyện kiên bền
với khẩu hiệu: “Chúa các đạo vinh
hằng sống, Đấng tôi phục vụ...
ngày hôm nay” (1V 18:15). Núi Ca-mê-lô còn thúc bách chúng ta
gặp gỡ Thiên Chúa và tái lập giao ước
với Ngài. Đối với thời đại
hôm nay, con người đang gặp nguy cơ
vong thân giữa cơn hỗn loạn điên cuồng
vô nghĩa, không nhu cầu nào sâu xa và khẩn thiết
đối với họ cho bằng nhu cầu
cần được nghiệm hưởng Thiên
Chúa trong cuộc sống.
Những
tác giả thần bí vĩ đại của dòng
Ca-mê-lô có một cảm thức sâu sắc đối
với đời sống thiêng liêng, như “đường
trọn lành” (thánh Tê-rê-sa A-vi-la), “đường
lên núi Ca-mê-lô” (thánh Gio-an Thánh Giá) hay “con đường
nhỏ” (thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su). Theo linh
đạo dòng Kín, Đức Ma-ri-a là hiện
thân của một người mẹ, là một
mẫu gương cho những tâm hồn chiêm
niệm, tức là những Ki-tô hữu thuần
thục ngoan thảo lắng nghe Chúa Cha qua Chúa
Ki-tô trong Chúa Thánh Thần.
Một
văn sĩ đạo đức dòng Ca-mê-lô là
A-nô Bốt-ti-ô (Arnold Bostio, + 1499) kêu gọi: “Đừng
để ngày nào, đừng để đêm
nào, đừng để chuyến đường
nào, đừng để môn học nào, đừng
để cuộc chuyện vãn nào, đừng
để niềm vui nào, đừng để
công việc nào, và đừng để giờ
nghỉ ngơi nào mà ta không bắt chước
thực hiện giống y như thể Mẹ
Ma-ri-a cũng đang thực hiện chính công việc
ấy. Ngay chính cửa ngõ của trí nhớ, hãy
để Mẹ chiếm chỗ nhất... Từng
ngày, bạn sẽ trở nên vĩ đại
hơn, nội tâm hơn, mạnh mẽ hơn,
sáng suốt hơn và trong sạch hơn. Bạn
sẽ trở nên tốt hảo hơn vì Mẹ
là người chỉ dạy bạn những
đường lối của Chúa” (Sự Bảo
Trợ của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a).
Trong
số những văn sĩ Thánh Mẫu dòng Ca-mê-lô,
đặc biệt phải kể đến tác
giả Mi-ca-e thánh Âu-gu-tinh (+1684) với tác phẩm
danh tiếng “Đức Ma-ri-a và Đời Sống
được Đức Ma-ri-a Huấn Luyện.”
Tác phẩm bàn về cuộc sống kết hợp
khăng khít với Đức Ma-ri-a như một
“phương thế tân kỳ” để sống
cho Thiên Chúa. Tác giả không trình bày lối sống
liên lỷ này theo một quan điểm riêng nào,
nhưng trên giáo huấn của Giáo Hội về
vai trò Trung Gian và Mẫu Tính Tinh Thần của
Đức Ma-ri-a.
Với
sự nhìn nhận Đức Ma-ri-a là Mẹ, là
Chị, là Quan Thày cho đoàn sủng dòng Ca-mê-lô,
người ta có thể xác quyết “dòng Ca-mê-lô
là một dòng hoàn toàn của Mẹ.”
Lý
do chính yếu phía sau việc “kính nhớ Đức
Mẹ núi Ca-mê-lô” là lòng tri ân vì những ơn Mẹ
đã ban cho dòng Ca-mê-lô. Trong đó phải kể
đến thành công năm 1374 tại Căm-rít
(Cambridge) xin được Tòa Thánh phê chuẩn
việc hợp pháp hóa tước hiệu Đức
Mẹ núi Ca-mê-lô để ban riêng cho dòng Ca-mê-lô.
Một
ơn đặc biệt khác Đức Trinh Nữ
đã ban cho các tu sĩ dòng Ca-mê-lô chiếu sáng
giữa lòng Giáo Hội là sự kiện được
trình bày trong tác phẩm Viridarium của Gio-an Gơ-rô-si
(John Grossi) viết khoảng năm1400 như sau:
thánh Si-mon Sơ-tốc (Simon Stock) nài xin Đức
Trinh Nữ vinh quang, Mẹ Thiên Chúa, Quan Thày của
hội dòng ban một ơn riêng cho những
tu sĩ mang danh hiệu Đức Trinh Nữ
vinh quang. Và một ngày kia Mẹ Thiên Chúa đã
hiện đến giữa các thiên thần cầm
một áo vải và phán: “Đây là đặc ân
Mẹ ban cho con và con cái dòng Ca-mê-lô. Bất cứ
ai qua đời khi đang mặc áo này sẽ
được cứu rỗi.”
Bằng
hình thức của một câu chuyện lịch
sử, chúng ta quay về niềm xác tín của
dòng Ca-mê-lô: bất cứ ai bền đỗ với
hội dòng, tượng trưng bằng bộ
áo Đức Bà, sẽ được sự sống
muôn đời. Hiển nhiên, đó không phải
là vấn đề ơn ích chỉ hệ ở
việc mặc áo Đức Bà. Sự sống
muôn đời tùy thuộc vào việc thực
thi lý tưởng dòng Ca-mê-lô, đó là việc chiêm
niệm, lắng nghe Lời Chúa và sốt sắng
phục vụ anh chị em, một lý tưởng
làm ta dễ dàng cảm nhận được
sự hiện diện của Đức
Trinh Nữ đang chở che ấp ủ ta.
Các
ki-tô hữu có lý khi trân trọng những giá trị
của việc tôn sùng áo Đức Bà và tin tưởng
vào quyền thế chuyển cầu của Mẹ
Thiên Chúa trong vấn đề phần rỗi
hệ trọng. Tuy nhiên, chúng ta phải liên kết
niềm tin tưởng ấy với việc
noi gương các nhân đức của Mẹ
trong Phúc Âm, và tránh mọi cám dỗ sính tìm dấu
lạ.
Đơ
Phi-ô-rê
|