|
DANH HIỆU MA-RI-A
1- Chín Nhân Vật Có Tên Ma-ri-a Trong Thánh Kinh
Danh
hiệu Ma-ri-a trong bản Cựu Ước tiếng Do Thái là Myriam; tiếng
A-ram là Maryam; trong bản dịch Tân Ước tiếng Hy Lạp là Maria.
Ngoài Đức Ma-ri-a Mẹ Chúa Giê-su, còn tám vị khác trong Thánh
Kinh cũng mang tên này.
1) Bà em của Môi-sen, thường được gọi là Miriam, người hát bài
ca ngợi Thiên Chúa sau khi vượt qua Biển Đỏ trong sách Xuất Hành
(15: 20-21), về sau bà bị Chúa phạt vì chống đối Môi-sen (Ds 12).
2) Một phụ nữ dòng dõi Giu-đa (1Sb 4:17). (Mặc dầu bản văn có
thể đang nói về một nam nhân dòng dõi của Ét-ra).
3) Ma-ri-a Ma-đa-lê-na, người đàn bà được Chúa trừ bảy quỉ (Lc
8:2).
4) Ma-ri-a, chị em của La-da-rô và Mát-ta, người đã chăm chú lắng
nghe lời Chúa (Lc 10:38-42).
5) Ma-ri-a, mẹ của Gia-cô-bê và Gio-an, người đã chứng kiến Chúa
chịu đóng đinh trên Thánh Giá và đã nhìn thấy ngôi mộ trống rỗng
(Mc 15: 40-47).
6) Ma-ri-a, vợ của Cơ-lê-ô-pát (Ga 19:25). Một số người vẫn lầm
bà này với Ma-ri-a, mẹ của Gia-cô-bê và Gio-an.
7) Ma-ri-a, mẹ của Gio-an Mát-cô. Thánh Phê-rô đã đến ngụ trong
nhà bà này sau khi được giải thoát khỏi tù ngục ở Giê-ru-sa-lem
(TĐCV 12:12).
8) Một ki-tô hữu tại Rô-ma, người được thánh Phao-lô chào và ca
ngợi trong thơ gửi các tín hữu thành Rô-ma: “Tôi xin gửi lời chào
Ma-ri-a, người đã có công lao nhiều với anh em” (Rm 16:6).
2. Ý Nghĩa của Danh Hiệu Ma-ri-a
Qua nhiều năm, người ta đã gán cho danh hiệu này khoảng bảy mươi
ý nghĩa khác nhau, chủ yếu dựa trên tâm tình đạo đức hơn là theo
ngữ văn. Trong số đó có hai ý nghĩa xem ra được nhiều người Công
Giáo chấp nhận nhất. Ý nghĩa thứ nhất phát xuất từ giải thích
của thánh Giê-rô-ni-mô dựa trên danh từ Hy Bá “yam” nghĩa là biển,
từ đó sinh ra từ “stilla maris” có nghĩa là “giọt nước biển,”
tượng trưng cho Chúa. Một nhà sao chép Thánh Kinh đã viết sai
cụm từ ấy thành “stella maris” có nghĩa là “sao biển.” Ý nghĩa
sau này đã trở thành một tước hiệu Thánh Mẫu được yêu chuộng và
được đưa vào văn chương Thánh Mẫu qua ngợi khúc Ave Maris Stella.
Ý
nghĩa thứ hai cũng do công của thánh Giê-rô-ni-mô. Thánh nhân
đề nghị ý nghĩa này dựa trên danh từ “mar” trong tiếng A-ram có
nghĩa là “Chúa” mặc dù đúng ra hình chữ chính xác của từ này phải
là “marta.” Giải thích này được chấp nhận rộng rãi và trở thành
một tước hiệu quen thuộc của Đức Mẹ trong các ngôn ngữ hiện đại
với ý nghĩa “quý bà,” tiếng Ý là Madonna, tiếng pháp là Notre
Dame, tiếng Anh là Our Lady.
Theo khoa ngữ văn hiện đại với những phương pháp khá chính xác,
người ta có thể tìm ra ba ý nghĩa của danh xưng Ma-ri-a (dĩ nhiên
vẫn chưa thể xác quyết chắc chắn được). Ýá nghĩ thứ nhất liên
hệ đến từ “mara” trong tiếng Ai Cập, có nghĩa là “no thỏa, mập,
béo tốt,” phù hợp với tiêu chuẩn thẩm mỹ về người phụ nữ Đông
Phương. Ý nghĩa thứ hai liên hệ đến từ “mari”cũng trong tiếng
Ai Cập có nghĩa là “được yêu mến.” Ý nghĩa thứ ba liên hệ đến
ngôn ngữ của dân cư miền Pa-lét-tin là người Ca-na-an vốn gần
gũi với tiếng Hy Bá.
Nhờ
các cuộc khám phá của nghành khảo cổ tại U-ga-rít (Ras Shamra)
ở Xi-ri-a vào năm 1929 người ta hiểu biết thêm về ngôn ngữ này.
Những khám phá này làm sáng tỏ ý nghĩa của ngôn ngữ U-ga-rít đó
được nói và viết trong những miền ấy. Trong những ngôn bản được
khai quật, người ta thấy danh xưng “mrym” có liên quan nhất. Danh
xưng này phái sinh tính động từ “rwm” có nghĩa là “cao” hay “cao
trọng,” tức là “được khen ngợi’’ hay “uy nghi.’’ Vì Đức Mẹ là
Đấng “Đáng ngợi khen,’’ Đấng rất thánh. Ýá nghĩa sau cùng này
dường như phù hợp với thánh danh Ma-ri-a nhất.
3.
Lễ Kính Thánh Danh Đức Mẹ
Lễ
kính thánh danh Ma-ri-a trong phụng vụ phát xuất từ Tây Ban Nha
và được Tòa Thánh chuẩn nhận năm 1513. Đức In-nô-cen-tê XI đã
phổ biến lễ ấy khắp Giáo Hội năm 1683 để tạ ơn Mẹ, kỷ niệm biến
cố vua Ba Lan Gio-an Sô-bi-ê-ki (John Soboeski) đánh bại quân
Thổ Nhĩ Kỳ vây hãm thành Viên-na và đe dọa Tây phương. Lễ này
được mừng vào ngày 12 tháng 9, chính ngày kỷ niệm chiến thắng
và chỉ sau lễ Sinh Nhật Đức Ma-ri-a bốn ngày.
Lễ này vẫn được duy trì trong lịch Công Giáo như một lễ nhỏ về
Đức Mẹ mãi đến khi sách lễ Rô-ma được sửa lại theo các qui định
Công Đồng Va-ti-ca-nô II năm 1970. Từ đó lễ này không còn được
mừng theo bậc lễ kính (nhưng không phải lễ ngoại lịch) như lễ
kính thánh danh Chúa Giê-su vì được ghép luôn vào lễ Sinh Nhật
Mẹ.
Ngoài ra, ấn bản sách lễ Rô-ma năm1975 còn thêm một bài lễ ngoại
lịch kính thánh danh Đức Mẹ có thể mừng vào những ngày thong dong.
A. Buy-ô-nô
|