| |
Vị Tân Giáo Hoàng 265 theo Sấm Truyền của Tiên Tri Nostradamus
Nếu
căn cứ theo Sấm Truyền nổi tiếng (xuất bản từ năm 1559), mà người
ta cho là của vị thánh tổng giám mục người Ái Nhĩ Lan và gọi ngài
là tiên tri Malachy (1095-1148), thì sẽ có tất cả là 112 vị giáo
hoàng, kể từ đời Đức Cêlestinô II (1143-1144). Thật ra, chỉ có
Lời Chúa, Thánh Truyền và Quyền Giáo Huấn của Giáo Hội mới là
những gì đáng tin và buộc phải chấp nhận mà thôi. Tuy nhiên, người
ta cũng không khỏi ngạc nhiên khi thấy những lời sấm Malachy không
phải hoàn toàn là sai trệch cho đến thời 33 ngày của Đức Gioan-Phaolô
I mà lời sấm ám chỉ như là hiện tượng "về nửa vầng trăng"
(De Medietate Lunae). Sau đó, cũng theo lời sấm này, còn ba đời
giáo hoàng nữa thôi, được ám chỉ bởi ba biểu hiệu chưa ứng nghiệm:
"Gloria Olivae", "De Labore Solis" và "Petrus
Romanus".
"Gloria
Olivae": nghĩa là "vinh quang của cây Ô-Liu". Phải
chăng câu này ám chỉ về giáo triều tột đỉnh vinh quang của Đức
Gioan-Phaolô II trước lịch sử thế giới trong một giai đoạn đầy
những biến động và đổi thay từ sau Công Đồng Chung Vatican II.
Điển hình là biến cố Đông Âu xẩy ra vào cuối năm 1989 và khối
Cộng Sản Liên bang Sô Viết sụp đổ năm 1991, mà những hoạt động
trong phạm vi thuần túy tôn giáo của ngài chẳng khác gì cành Ô-Liu
hòa bình được chim câu tha về con tầu Noe cứu rỗi (x. KN 8:11).
Nhờ đó, như Chúa Giêsu từ trên núi Ô-Liu xuống (x. Lc 19:37) vinh
quang tiến vào thành Giêrusalem thế nào, vị lãnh đạo tối cao đương
thời của Giáo Hội Công Giáo cũng được toàn thể thế giới ngưỡng
mộ và ngênh đón như vậy.
"De
Labore Solis": câu này có hai nghĩa, một là "về cuộc
nhật thực", hai là "từ cuộc khổ ải của vầng dương".
Nếu sau khi Chúa Giêsu vinh quang tiến vào thành Giêrusalem là
giai đoạn Người bắt đầu đi vào cuộc tử nạn vượt qua của Người
thế nào, vị lãnh đạo của Giáo Hội sau thời "vinh quang của
cây Ô-Liu" cũng sẽ là vị lãnh đạo đối ngoại thì chịu "khổ
ải" bởi quyền bính thế gian, và đối nội thì bị lấn át "nhật
thực" bởi lực lượng chống đối của thành phần Phản Kitô. Biết
đâu vị giáo hoàng áp cuối này sẽ mang danh hiệu Phêrô-Phaolô:
Phêrô biểu hiệu cho quyền bính Giáo Hội (đối nội) bị "nhật
thực" bởi con cái phản bội, như Chúa Giêsu đối với dân của
Người và môn đệ của Người, và Phaolô biểu hiệu cho sứ mệnh Giáo
Hội (đối ngoại) bị "khổ ải" bởi thế lực "new world
order" do dân ngoại và âm mưu của nhóm Do Thái, như Chúa
Giêsu và thánh Phaolô bị Do Thái nộp cho quân Rôma hành quyết.
"Petrus
Romanus": có nghiã là "Phêrô người Rôma". Về vị
lãnh đạo sau hết mang cùng danh với vị lãnh đạo đầu tiên này,
theo Lời Sấm Truyền kết thúc thì:
"Trong
cuộc bắt bớ cuối cùng của Hội Thánh Rôma sẽ là triều đại của Phêrô
người Rôma, vị sẽ chăn nuôi đàn chiên mình giữa những tai biến'
sau đó, thành đô có 7 ngọn đồi sẽ bị phá hủy và có Vị Thẩm Phán
đáng sợ sẽ xét xử dân gian" (The Prophesies of Saint Malachy,
Tan Books and Publishers, Inc, 1973, trang 96).
Đúng
thế, theo Thánh Kinh, ngày tận thế có một liên quan trực tiếp
đến số phận của Giáo Hội. Tiên tri Daniel đã được thị kiến cho
biết: "khi quyền lực của kẻ phá hoại thuộc dân thánh bị kết
liễu thì tất cả những điều này được chấm dứt" (Dan 12:7).
Không phải hay sao, hình ảnh đền thánh Giêrusalem mà Chúa Giêsu
nói "sẽ không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào - tất
cả sẽ bị tan nát" (Mt 24:2) tức là "Người thực sự đang
nói về đền thờ thân thể của Người" (Gn 2:21)? Thật ra, "không
ai có thể lấy mạng Ta (Chúa Kitô)" (Gn.10:18), nhưng thực
tế lại cho thấy "Ta tự bỏ mạng sống mình. Ta có quyền thí
mạng sống mình" (Gn.10:18). Cũng thế, "cho dù cửa miệng
sự chết cũng không thắng nổi" (Mt.16:18) Giáo Hội, nhưng
thực tế lại xẩy ra là "khi Con Người đến không biết có còn
đức tin trên thế gian" (Lc.18:8). Đó mới là lý do chính đáng
khiến "Người đã khóc" (Lc.19:41), khóc thương Giáo Hội
bạn mình (x.Gn.15:15), như Người đã khóc Lazarô (x.Gn.11:35).
Qua Bí Mật La Salette, từ năm 1846 Mẹ Maria đã tiết lộ cho con
cái Giáo Hội biết:
"Vị
Đại Diện Con Mẹ sẽ chịu nhiều đau khổ, vì Giáo Hội sẽ chịu đựng
bắt bớ lớn lao một thời, thời tối tăm, và Giáo Hội sẽ chứng kiến
một cuộc khủng hoảng rùng rợn" (Apparition of the Blessed
Virgin on the Mountain of La Salette, Shepherdees of La Salette,
1879, trang 14).
"Rôma
sẽ mất đức tin và sẽ trở nên ngai tòa của Phản Kitô" (LA
trang 18) ... "Giáo Hội sẽ ở trong tình trạng bị khuất mờ,
thế giới sẽ ở trong tình trạng hoảng sợ" (cùng nguồn vừa
dẫn trang 19).
Theo
Bí Mật La Salette, cho dù "Rôma sẽ mất đức tin" đi nữa,
song Giáo Hội bất tử như Chúa Kitô phục sinh, vì tinh thần của
Giáo Hội là một "Đức Ái không tàn" (1Cor 13:8). Nếu
thánh Phêrô được tiêu biểu cho Đức Tin của Giáo Hội, mà Chúa Giêsu
đã nói "sẽ phải chết cách nào" (Gn 21:19), thì thánh
Gioan, "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu" (Gn 21:20),
biểu hiệu cho Đức Ái của Giáo Hội, Chúa Giêsu cũng đã úp mở "...Thày
muốn cho nó ở lại cho đến khi Thày đến..." (Gn 20:22), tức
cho tới khi Người trở lại trong vinh quang!
Vào
ngày 13-10-1884, ngay sau Thánh Lễ, Đức Thánh Cha Lêô XIII được
thị kiến thấy rằng, trong vòng một thế kỷ, lực lượng sự dữ sẽ
tấn công Giáo Hội dữ dội, đến nỗi, Giáo Hội chỉ được Thiên Chúa
dùng tổng thần Micae cứu vào giây phút cuối cùng mà thôi. Sau
đó, trong văn kiện "Motu Proprio" ban hành ngày 25-9-1888,
Đức Thánh Cha đã đặt ra kinh cầu khẩn với tổng thần Micae cho
Giáo Hội và truyền phải đọc sau các Thánh Lễ thường, tục này được
áp dụng từ ngày đó cho tới khi Công Đồng Chung Vaticanô II canh
tân phụng vụ. Phần kết thúc của kinh tổng thần Micae này như sau:
"Những
kẻ thù xảo quyệt này của loài người đã làm cho Giáo Hội đầy những
ung nhọt và rữa nát, một Giáo Hội là Hiền Thê vô tì tích của Con
Chiên' bàn tay tục hoá của chúng đã chạm đến những kho tàng thánh
hảo nhất của Giáo Hội. Bởi thế, Ôi Vị Hoàng Vương vô địch, xin
hãy mau đến cứu giúp dân của Thiên Chúa chống lại những cuộc xâm
nhập của các thần hư vong này và ban chiến thắng cho chúng tôi.
Amen" (Rev Randall Paine, His Time Is Short, the Leaflet
Missal Company, MN, 1989, trang 86).
Phải
chăng thị kiến của Đức Lêô XIII về cuộc tấn công của thần dữ muốn
tàn phá Giáo Hội và đoạn kinh cầu với tổng thần của Giáo Hội trên
đây đã chứng thực những gì Mẹ Maria đã nói đến ở La Salette từ
năm 1846 và được ghi lại trong Bí Mật La Salette như sau:
"Vào
năm 1864 (phụ chú: năm nay là năm Đức Piô IX ban hành thông điệp
"Quanta Cura" và một Bản Liệt Kê 80 chủ trương sai lầm,
luận bác một số thành phần phóng khoáng như Montalambert ở Pháp,
và Dechamps ở Bỉ' cùng năm nay Karl Marx cũng bắt đầu thành lập
Hiệp Hội Lao Nhân Quốc Tế ở Luân Đôn và Nữu Ước), Luxiphe cùng
với một số lớn qủi ma sẽ được thả ra khỏi hỏa ngục' chúng sẽ dần
dần làm mất Đức Tin ngay cả ở nơi thành phần tận hiến cho Thiên
Chúa" (Apparition of the Blessed Virgin on the Mountain of
La Salette, Shepherdees of La Salette, 1879, trang 12).
"Vào
năm 1865 (phụ chú: đúng 100 năm trước khi Công Đồng Chung Vatican
II ban bố sắc lệnh 'Perfectae Caritatis' về Việc Canh Tân Thích
Nghi Đời Sống Tu Trì vào ngày 28-10-1965), sẽ có một cuộc tục
hoá các nơi thánh. Trong các viện tu, những bông hoa của Giáo
Hội sẽ tàn lụi, và ma qủi sẽ làm vua cai trị mọi con tim"
(cùng nguồn vừa dẫn trang 14-15).
"Giờ
đây đã đến thời điểm' hố thẳm đang mở ra. Kìa Vua các Vua tăm
tối, kìa con mãnh thú với bọn lâu la của hắn, xưng mình là Đấng
Cứu Thế. Hắn sẽ nghênh ngang vươn mình trên không trung, lên đến
tận Trời. Hắn sẽ bị hạ bởi hơi thở của Thánh tổng thần Micae (phụ
chú: đúng như tiên tri Daniel trong đoạn 12 câu 1 đã tiên báo:
'Lúc bấy giờ Micae, hoàng vương cao cả, vị bảo hộ dân ngươi sẽ
đứng lên', vị bảo hộ mà Giáo Hội từ thời Đức Lêô XIII năm 1888
đã nhận biết và kêu cầu 'đứng lên' như một 'vị hoàng vương vô
địch mau đến cứu giúp dân của Thiên Chúa')" (cùng nguồn vừa
dẫn trang 20).
Đaminh Maria
Cao Tấn Tĩnh, BVL - Thoidiemmaria.net
|
|