|
“Con Đường của Đức Giáo Hoàng tới Chúa Giêsu”
Nhận định của nhà xuất bản về tác phẩm “Đức Giêsu Nazarét: Từ Phép Rửa Tới Biến Hình”
(tiếp 16 Thứ Hai và 17 Thứ Ba)
Bài Giảng Trên Núi là bài giảng chất chứa những điểm chính của lề luật này là các phúc đức, đồng thời cũng cho thấy chính chân dung của Chúa Giêsu, ở chỗ, lề luật ấy không phải chỉ là kết quả của một thứ ‘trực diện’ chuyện vãn với Thiên Chúa mà còn là hiện thân cho sự viên mãn xuất phát từ mối hiệp thông sâu xa thân mật của Chúa Giêsu với Chúa Cha (trang 66). Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Lời của Thiên Chúa hiện thân. “Chúa Giêsu biết chính Người như là bộ Ngũ Kinh” (trang 110). “Đó là vấn đề cần phải đi đến chỗ quyết định […] mà hậu quả cho thấy thì đó cũng là vấn đề dẫn đến Thập Giá và Phục Sinh” (trang 63).
Cuộc xuất hành hướng tới “Đất Hứa”, tới tự do đích thật, cần đến ảnh hưởng của Chúa Giêsu. Thành phần tín hữu cần phải tham phần vào cùng một mối hiệp thông của Người Con với Người Cha. Chỉ có thế Con Người mới có thể “viên trọn” bản thân mình, vì bản tính sâu xa nhất của họ hướng tới mối liên hệ này với Thiên Chúa. Tức là yếu tố nồng cốt nơi cuộc sống của họ đó là nói chuyện với Thiên Chúa và lắng nghe Thiên Chúa. Vì thế mà Đức Biển Đức XVI đã giành hẳn một chương cho việc cầu nguyện, dẫn giải Kinh Lạy Cha là kinh được chính Chúa Giêsu dạy cho chúng ta (chương 5).
Việc con người sâu xa giao tiếp với Thiên Chúa là Cha nhờ Chúa Giêsu trong Chúa Thánh Thần đang qui tụ họ lại với nhau thành những gì là “chúng mình (we) và chúng ta (us)” trong một gia đình mới, một gia đình, qua việc tuyển chọn 12 Môn Đệ, đã gợi lại gốc gác của dân Yến Duyên (12 Tổ Phụ), và đồng thời cũng mở ra một nhãn quan hướng tới chính tân Gia-Liêm (Rev 21:9-14) – đích điểm tối hậu của tất cả lịch sử – của một cuộc Xuất Hành mới theo sự dẫn dắt của vị “tân Moisen”.
Với Chúa Giêsu, 12 Môn Đệ “đã phải trải qua một cuộc hiệp thông với Chúa Giêsu từ ngoài và trong”, nhờ đó các vị có thể chứng thực tính chất duy nhất của Người với Chúa Cha và mới “trở thành những vị đặc sứ của Chúa Giêsu – ‘tức là ‘tông đồ’ - thành phần mang sứ điệp của Người đến cho thế giới” (trang 172). Cho dù việc cấu tạo của nó hết sức pha phôi, gia đình mới này của Chúa Giêsu, tức Giáo Hội của mọi thời đại, vẫn tìm thấy ở nơi Người cái cốt lõi liên kết của nó cùng với ý muốn sống tính chất phổ quát của giáo huấn Người dạy (chương 6).
Để làm cho sứ điệp của Người dễ hiểu và thực sự áp dụng sứ điệp ấy vào cuộc sống hằng ngày, Chúa Giêsu đã sử dụng hình thức dụ ngôn. Người biến báo nội dung của những gì Người có ý truyền đạt – thực sự là Người bao giờ cũng nói về mầu nhiệm của mình – cho thích hợp với tầm mức lãnh hội của thính giả, khi sử dụng cái cầu nối của óc tưởng tượng được gắn liền với những thực tại rất ư là quen thuộc và dễ hiểu cho thính giả. Tuy nhiên, kèm theo khía cạnh nhân loại này là việc Người sâu sắc dẫn giải theo thần học về ý nghĩa của các dụ ngôn, để làm sáng tỏ những ý nghĩa bất tận nơi sứ điệp của Người cùng với cái thực tại trường tồn của nó (chương 7).
Chương tiếp theo cũng tập trung vào hìn h ảnh được Chúa Giêsu sử dụng để dẫn giải về mầu nhiệm của Người: Chúng là những hình ảnh trọng đại trong Phúc Âm Thánh Gioan. Trước khi phân tích chúng, Đức Giáo Hoàng đã trình bày một tổng lược rất hay về những thành quả khác nhau của việc nghiên cứu khoa học về vị tông đồ Gioan. Qua tổng lược ấy, cũng như nơi việc ngài giải thích về những hình ảnh ấy, ngài đã mở ra những chân trời mới trước độc giả, những chân trời cho thấy sáng tỏ hơn bao giờ Chúa Giêsu là “Lời của Thiên Chúa” (trang 317), Đấng đã hóa thân làm người vì phần rỗi của chúng ta với tư cách là “Con Thiên Chúa” (trang 304), đến để tái hướng dẫn nhân loại về mối hiệp nhất với Chúa Cha – một thực tại được hiện thân hóa nơi Moisen (chương 8).
Hai chương cuối cùng quảng diễn thêm nhãn quan này. “Trình thuật về việc Biến Hình của Chúa Giêsu […] làm sáng tỏ việc tuyên xưng của Thánh Phêrô và làm cho việc tuyên xưng ấy có một ý nghĩa sâu xa hơn, đồng thời cũng liên kết việc tuyên xưng ấy với mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu” (trang 287-288). Cả hai biến cố này – biến hình và tuyên xưng – là những thời điểm quan trọng đối với Chúa Giêsu trần thế cũng như đối với các môn đệ.
Sứ vụ thực sự cho Đấng Thiên Sai của Thiên Chúa và định mệnh của những ai muốn theo Người bấy giờ đã được dứt khoát thiết định. Cả hai biến cố này chỉ có thể hoàn toàn thấu triệt nếu căn cứ vào một quan niệm liên hệ với nhau giữa Cựu Ước và Tân Ước. Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống, là Đấng Thiên Sai được dân Yến Duyên trông đợi, Đấng mà, qua Cây Thập Tự Giá ác hại, đã dẫn nhân loại vào “Vương Quốc của Thiên Chúa” (trang 317) cũng như đến tình trạng tự do tối hậu (chương 9).
Tác phẩm của Đức Giáo Hoàng được kết thúc với một phân tích sâu xa về những tước hiệu theo các Phúc Âm cho biết là Chúa Giêsu đã sử dụng cho bản thân Người (chương 10). Một lần nữa, vấn đề trở nên rõ ràng là chỉ khi nào đọc Thánh Kinh một cách toàn diện người ta mới có thể hiểu được ý nghĩa của ba chữ “Con Người” (Son of Man), “Người Con” (Son) và “Tôi Hiện Hữu” (I Am). Danh xưng cuối là một bí danh được Thiên Chúa tỏ cho Moisen biết ở bụi cây cháy. Giờ đây danh xưng này cho thấy rằng Chúa Giêsu cũng là vị Thiên Chúa ấy. Trong cả 3 tước hiệu ấy “Chúa Giêsu vừa cha giấu vừa tỏ ra mầu nhiệm về bản thân Người […] Tất cả 3 chữ này đều chứng tỏ cho thấy Người đã có một nguồn gốc sâu xa ra sao nơi Lời Chúa, Thánh Kinh của dân Yến Duyên, Cựu Ước. Tuy nhiên, tất cả 3 từ ngữ ấy đều đạt được trọn vẹn ý nghĩa của chúng chỉ ở nơi một mình Người mà thôi – như thể chúng đã từng đợi chờ Người vậy” (trang 354).
Cùng với con người sống đức tin, thành phần trước hết muốn tìm cách giải thích mầu nhiệm
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL - Thoidiemmaria.net
|