|
“Chúng ta phải tiếp tục tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu và đúng lúc cho hoàn cảnh khốn khổ của những người bị đói khổ”
ĐHY Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh Về Công Lý và Hòa Bình Renato Martino ngày 4/11/2006 với Tổ Chức Lương Nông LHQ ở Rôma về việc áp dụng quyền nhân đạo về vấn đề thực phẩm
1. Dẫn Nhập
Trước hết, xin cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn cùng Ông Jacques Diouf, vị tổng giám đốc của Tổ Chức Liên Hiệp Quốc Về Lương Nông, đối với lời mời gọi tốt lành của ông để tham dự vào biến cố đặc biệt này liên quan tới Việc Hiện Thực Quyền Con Người Được Hưởng Lương Thực. Thật thế, tôi cảm thấy vui mừng được ở cùng quí vị đây, và trong dịp này được cùng tới với nhau như là các phần tử quan tâm về gia đình nhân loại đối với thảm họa hằng hiện hữu gây khốn khổ cho biết bao nhiêu là triệu con người anh chị em chúng ta. Tôi hy vọng rằng, qua việc bàn luận của chúng ta hôm nay đây, tất cả chúng ta có thể ra khỏi chỗ này với một quyết tâm mạnh mẽ trong việc dựng xây các thứ xã hội, các tổ chức và các cơ cấu có thể bảo đảm tất cả mọi người đều có đầy đủ cơm ăn nước uống.
2. Nghèo khổ là một hiện tượng xã hội có nhiều chiều kích. Những định nghĩa về nghèo khổ cùng với những căn nguyên của nó thì khác nhau theo giống tính, tuổi tác, văn hóa và những bối cảnh khác về xã hội và kinh tế. Chẳng hạn, ở cả những miền quê lẫn thị thành trên thế giới, những người nam cho nghèo khổ liên quan tới tình trạng thiếu thốn các sản vật về thể chất, trong khi đó nữ giới lại cho nghèo khổ như là những gì bất ổn về thực phẩm. Cái khác nhau về vấn đề nghèo khổ cũng xẩy ra tùy theo thế hệ nữa. Những con người trẻ ở một số phần đất trên thế giới thì coi khả năng kiếm được lợi tức là những sản vật quan trọng nhất, trong khi thành phần lão thành ở những phần đất khác trên thế giới lại coi tình trạng liên quan tới các lối sống nông nghiệp truyền thống là những gì quan trọng nhất.
Tình trạng và địa điểm của một người cũng ảnh hưởng tới căn nguyên nghèo khổ. Chẳng hạn, ở một số vùng thì những người nông dân liên kết vấn đề nghèo khổ với tình trạng bị hạn hán; thành phần nghèo ở thành thị lại cho nghèo khổ liên quan tới vấn đề tăng giá cả và khan hiếm việc làm; và người giầu liên kết nghèo khổ với tình trạng suy thoái nơi các lãnh vực mậu dịch bản quốc và thế giới, với việc lơ là về những tập tục và truyền thống được tôn trọng qua giòng thời gian, với việc thiếu động lực nơi một số tầng lớp và phái nhóm dân chúng, với giá cả bị thất thoát và giảm thiểu, với việc thiếu giáo dục, và với tình trạng thiếu chính phủ. Nghèo khổ không bao giờ bị gây ra bởi sự thiếu thốn một điều duy nhất, mà bởi nhiều yếu tố liên hệ với nhau được thể hiện nơi các kinh nghiệm của người nghèo.
Những khía cạnh nghèo khổ về vật chất là những gì quá rõ ràng. Tình trạng đói khổ và bất ổn về lương thực vẫn là mối quan tâm chính yếu. Đối với các gia đình nghèo thì việc chiến đấu hằng ngày của họ đó là làm sao thỏa mãn được những nhu cầu chính là thực phẩm, nước nôi và nơi cư trú; điều này càng gay go hơn nữa khi xẩy ra tình trạng thất nghiệp hay hiếm việc, hoặc thiếu đất sản xuất hay thiếu những vốn liếng sinh lợi tức khác.
Thêm vào tình trạng không đủ lương thực thuận lợi ấy là tình trạng thiếu phương tiện về thể lý và kinh tế để kiếm lương thực, tình trạng cơ thể kém tiếp thu lương thực, những việc làm kém cõi về sức khỏe và phương tiện được hưởng nước nôi có thể uống được, đấy là chưa kể tới những yếu tố khác về chính trị, kinh tế và xã hội, là những gì đã làm cho nạn đói dữ dội cứ tiếp tục gây khốn khổ cho biết bao nhiêu là triệu con người nam nữ cùng trẻ em trên khắp thế giới.
3. Vào ngày 19/10/2006, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã gửi một sứ điệp cho Ông Jacques Diouf nhân dịp Ngày Thế Giới Lương Thực. Trong sứ điệp này, vị Giáo Hoàng đã viết:
‘Hành động quốc tế chống lại nạn đói rất nhiều khi bỏ quên yếu tố con người, nhưng lại ưu tiên cho các lĩnh vực kỷ thuật và xã hội, kinh tế. Các cộng đồng địa phương cần được tham gia vào các lựa chọn và quyết định liên quan đến cách sử dụng đất đai, vì đất nông nghiệp ngày càng bị chuyển sang các mục tiêu khác, thường gây nên nhiều tác hại trên môi trường và khả năng phát triển lâu dài của vùng đất. Nếu con người được đối xử như là thành phần đóng vai chính thì rõ ràng các lợi lộc kinh tế ngắn hạn phải được cân nhắc trong bối cảnh kế hoạch dài hạn tốt hơn để bảo đảm lương thực, vừa về chất lượng lẫn số lượng’.
Trong khi nghèo khổ là những gì có tính cách vật chất, nó còn có cả những ảnh hưởng về tâm lý nữa – như tâm trạng buồn thảm khi không thể nuôi dưỡng con cái, hay cảm thấy bất an khi không biết bữa ăn tới sẽ ra sao, hoặc cảm thấy tủi hổ vì không có của ăn. Thường thì cha mẹ kể lại rằng họ giải quyết v ấn đề bấp bênh về lương thực bằng cách nhịn đói để khỏi phải nhìn thấy con cái của họ bị chết đói.
Chúng ta phải tiếp tục tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu và đúng lúc cho hoàn cảnh khốn khổ của những người bị đói khổ. Chúng ta cần phải làm việc với nhau như là một gia đình nhân loại, và như là một gia đình chư quốc, nhờ đó những ai đói khổ và những ai không thiếu thốn gì cả, những người rất nghèo và những ai rất giầu, những người thiếu những phương tiện cần thiết và những ai phung phí b ừa bãi những phương tiện này, không còn sống bên nhau nữa. Những thứ tương phản giữa giầu nghèo này là những gì bất khả chấp đối với nhân loại.
Quyền được có đủ của ăn là những gì quan yếu và bất khả khinh thường đối với hết mọi người cũng như đối với gia đình của họ. Đó là công việc của các quốc gia, của các vị lãnh đạo quốc gia, những quyền lực kinh tế quốc gia, và tất cả những ai thiện chí tìm hết mọi dịp để thực hiện một cuộc chia sẻ công bằng hơn về các thứ nguồn lợi vốn không thiếu thốn cũng như về các thứ sản vật tiêu thụ; vì nhờ việc chia sẻ này mà tất cả mọi người mới thể hiện một tình đoàn kết thực sự xuất phát từ việc ý thức và cảm nhận phẩm vị của hết mọi người.
4. Để đáp ứng nhu cầu khẩn trương này, cần phải nói năng và suy tư nhiều về việc làm thế nào để đạt tới tình trạng ‘an toàn về lương thực’ cho tất cả mọi dân chúng. Quan niệm này cần phải được đặt trên căn bản là lòng ước mong muốn tìm kiếm những giải pháp sâu xa hơn xuất phát từ tình đoàn kết sâu xa giữa tất cả mọi dân tộc. Tình trạng an toàn về lương thực cần phải nhấn mạnh đến những yếu tố như: việc sản xuất một số lương đầy đủ về thực phẩm, việc cung cấp vững chắc cho cả năm, phương tiện để mọi người được hưởng lương thực, việc phân phối một cách chính đáng và công bằng, và việc dốc lòng cung cấp những chất cần thiết cho việc kiêng cữ một cách quân bình và lành mạnh hợp với những tập tục dinh dưỡng địa phương.
Cần phải thực hiện những nỗ lực cụ thể để thực hiện một cuộc cải cách nông nghiệp thực sự. Chẳng hạn, ở một số quốc gia, chỉ có 1% dân số là thành phần nắm trong tay 50% đất đai. Việc phân phối đất đai công bằng hơn, nhờ đó gia tăng việc tham gia vào vấn đề sản xuất thực phẩm, nhất là nơi người nghèo, là một yếu tố quan trọng cho bất cứ một giải pháp nào như thế. Về vấn đề này, cũng cần phải mạnh mẽ tái khẳng định là nữ giới cũng có quyền được hưởng đất đai nữa.
Xin cho tôi được chia sẻ cùng quí vị một vài thí dụ cụ thể về cách thức làm sao Giáo Hội trên khắp thế giới đang dấn thân vào việc chống lại tình trạng đói khổ.
- Một khởi động đang gây một tác dụng tích cực nơi nữ giới và vai trò của họ trong vấn đề an toản về lương thực được gọi là Hiệp Hội Nông Gia Nữ Giới Quốc Gia NAWFA (National Women Farmer's Association). Hiệp hội này có trên 30 ngàn nông gia nữ giới trồng mè/vừng được Chương Trình Thị Trường Chuyên Về Vừng Của Dịch Vụ Cứu Trợ Công Giáo ở Gambia nâng đỡ. Chương trình này nhắm đến việc cải tiến tình trạng an toàn về lương thực gia đình cho các gia đình ở miền quê, bằng việc cải tiến phương tiện kinh tế của họ đối với các thứ sản vật và dịch vụ. Nhờ chương trình này, Các Dịch Vụ Cứu Trợ Công Giáo CRS (Catholic Relief Services) nâng đỡ các hoạt động như việc phổ biến vấn đề tìm kiếm thị trường, việc huấn luyện tập đọc tập viết và các năng khiếu thủ công, và việc huấn nghệ nông nghiệp, tất cả những điều này đã làm cho lợi tức của nữ giới gia tăng đáng kể.
- Chương Trình Dallol Maouri Village Banking, cũng được CRS nâng đỡ, đang cung cấp những dịch vụ về tài chính và phi tài chính cho trên 2.500 hãng thầu nữ giới nghèo ở các vùng quê thuộc miền nam Niger. Các thân chủ được huấn luyện để biết đọc biết viết hẳn hoi và biết căn bản về thương mại, các việc làm về thị trường và kế toán để có thể điều hành tốt đẹp hơn những hoạt động mang lại lợi tức của họ.
- CRS/chương trình tiểu tài trợ của Niger, một chương trình vào cuối năm 2006, sẽ cung cấp những thứ trương mục tiết kiệm và các dịch vụ tín dụng cho 5 ngàn thân chủ. Ngoài ra, có một tiểu ban bao gồm Giáo Hội Công Giáo và các thành viên địa phương đang hoạt động với CRS để bảo đảm là chương trình tiểu tài trợ khả tồn này được chuyển thành một cơ cấu khả trợ.
- Hội Caritas Niger, một hội mà, giữa nạn hạn hán và đói khổ trầm trọng ở miền này, đã bắt đầu phân phối trên 1 ngàn tấn dự trữ lương thực cấp cứu. Khoảng 43 ngàn người được cung cấp cho những phần lương thực cấp cứu ở miền này.
- Khởi Động An Toàn Lương Thực, được nâng đỡ bởi CRS và các cơ quan ngoài chính quyền khác, nhắm đến việc gia tăng tình trạng an toàn về lương thực ở 120 ngôi lành thuộc những Hạt Tanout và Dogondoutchi ở Sudan, bằng việc dạy cho họ biết những khả năng mới trong việc canh nông và vườn tược, giúp duy trì việc sản xuất về c anh nông, bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên của cộng đồng, và cải tiến khả năng xây dựng những tổ chức địa phương.
- Chương Trình Cứu Trợ của Dòng Tên và Cơ Quan Caritas ở Sri Lanka, cả hai tiếp tục nâng đỡ những nỗ lực cứu trợ khẩn cấp cho trăm ngàn dân chúng chạy loạn vì tình hình gia tăng bạo động ở những miền nam và đông của Sri Lanka. Các Chương Trình Cứu Trợ của Dòng Tên là một trong 3 cơ quan nhân đạo chính duy nhất được chuẩn nhận của chính quyền Sri Lanka vào Tháng 8 để được phép tới cung cấp cho các vùng được chính quyền giới hạn trọng hạt Batticaloa. Đó là một vùng mà việc tiến tới được với dân chúng đang thiếu thốn cũng như việc chuyển vận các thứ cung cấp cứu trợ từng bị giới hạn nghiêm ngặt.
Đó chỉ là một ít trong nhiều thí dụ về cách thức làm thế nào các cơ cấu và tổ chức Công Giáo khắp thế giới đã từng và đang tiếp tục thực hiện những chương trình cải tiến tình trạng thuận lợi về lương thực cho các gia đình, bằng cách gia tăng việc sản xuất thực phẩm và gia súc chính, việc vườn tược tại gia, b ằng viêä cải tiến những cơ sở chất chứa và đầu tư vào các thứ hạ tầng nông nghiệp. Những cơ quan này đã khai triển những chương trình nhắm tới việc cải tiến phương tiện của gia đình hưởng thực phẩm bằng cách gia tăng lợi tức và những khoản tiết kiệm không phải từ nông nghiệp, bao gồm cả những chương trình tiểu tài trợ và gia tăng việc sản xuất trồng cấy để thu hoa lợi. Ngoài ra, những cơ cấu này đã dấn thân vào những dự án nhắm cải tiến khả năng cá nhân trong việc tận dụng lương thực, bằng cách nâng đỡ các chương trình về sức khỏe cho việc sống còn của trẻ em, cho sức khỏe của người mẹ và đứa con, và cải tiến những cơ sở hạ tầngvề tình trạng vệ sinh, cũng như việc giáo dục về Vi Khuẩn Liệt Kháng hay Hội Chứng Liệt Kháng.
Trên bình diện quốc tế, cần phải duy trì việc phát triển nông nghiệp khả trợ bằng cách khuyến khích việc học hỏi và phát triển những thứ mùa màng có sản lượng cao. Quan trọng hơn nữa là, bất cứ nơi đâu có thể, các thành quả của việc phát triển này cần phải trở nên thuận lợi cho các phần đất khác trên thế giới, những nơi có việc sản xuất về nông nghiệp đang bị yếu kém. Ngoài ra, không thể tiếp tục để xẩy ra những chính sách về kinh tế bắt nguồn từ một cuộc phân phối không chính đáng lương thực có trong tay đủ để nuôi toàn thể nhân số trên thế giới.
Nếu thế giới cần phải có một nền nông nghiệp khả trợ, thì cộng đồng quốc tế cần phải nhìn nhận rằng hòa bình là điều kiện tiên quyết và chính yếu. Chiến tranh chẳng những gây ra nghèo khổ chúng còn đẻ ra đói khát, bằng việc bắt buộc dân chúng phải kéo nhau ra đi và gây ra cho đất đai của họ không còn an toàn hay không hợp với việc gia tăng lương thực nữa.
Khi chúng ta cứu xét tới những điều kiện cho vấn đề an toàn về lương thực và nền canh nông khả trợ bằng cách chấm dứt nạn đói khổ, chúng ta cần phải công nhận rằng trong thời của chúng ta đây vẫn còn hiện hữu những gì được vị Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II từng gọi là ‘các cấu trúc của đói khổ’, một cấu trúc chỉ có thể được thắng vượt bằng một thái độ đoàn kết liên quan tới hết mọi khía cạnh của vấn đề phát triển, như việc đào luyện và sử dụng vốn liếng, các việc đầu tư, những thứ thặng dư, và việc sản xuất cùng các đường lối phân phối. Mỗi lãnh vực đều có một chiều kích căn bản về luân lý và đạo lý. Thật vậy, chính những chính sách về kinh tế không thể nào tách khỏi mối quan tâm về đạo lý.
5. Ở đây, một lần nữa, chúng ta cũng thấy được cái đòi hỏi về mục đích phổ quát của các sản vật. Quyền làm chủ về xã hội liên quan tới quyền đối với sản vật riêng tư bởi thế thường là những gì được diễn tả nơi công pháp để làm sáng tỏ những việc con người tỏ ra không tuân hợp với đòi hỏi ấy. Những việc con người không tuân hợp với đòi hỏi này gồm có lòng ước muốn hưởng giầu sang quá độ, những thứ lợi lộc bệnh hoạn và rất nhiều đường lồi khác trong việc hành sử chủ quyền, quyền sở hữu, và kiến thức, cùng với việc phủ nhận sự kiện là những sản vật được tạo dựng bao giờ cũng là để giành cho hết mọi người một cách cân bằng.
Tất cả mọi người thiện chí có khả năng thấy được những vấn đề đạo lý này là những gì đang gặp nguy hiểm và là những gì liên hệ tới tương lai của nền kinh tế thế giới: đó là vấn đề chiến đấu chống đói khổ và thiếu dinh dưỡng, là việc góp phần vào tình trạng an toàn về lương thực và việc phát triển nông nghiệp non nớt của các quốc gia đang phát triển, là việc gia tăng khả năng xuất cảng của những quốc gia ấy và là việc bảo trì các nguồn tài nguyên thích hợp cho toàn trái đất này.
Giáo huấn về xã hội của Giáo Hội thấy tất cả những điều này như là những yếu tố cấu tạo nên công ích phổ quát, một thứ công ích cần phải được nhân diện và duy trì bởi các quốc gia tân tiến. Những yếu tố ấy cũng cần phải trở thành mục tiêu thiết yếu của các tổ chức kinh tế toàn cầu và là một thách đố đối với cuộc toàn cầu hóa mậu dịch. Cái công ích phổ quát này, một khi nó được công nhận, cần phải trở thành tác động để củng cố nội dung về pháp lý, về tổ chức và về chính trị chi phối mậu dịch thế giới. Vấn đề này đòi thành phần lãnh đạo của các tổ chức xã hội, chính quyền và khối mậu dịch cần phải can đảm, vì ngày nay rất khó đặt định các lợi lộc của mỗi một cá nhân vào một thứ nhãn quan nhất trí với cái công ích ấy.
6. Kết luận
Ngày nay, hơn bao giờ hết, trước những cuộc khủng hoảng cứ tái diễn và trước việc theo đuổi tư lợi hẹp hòi, các quốc gia cần phải hợp tác và đoàn kết, mỗi một quốc gia cần phải chú trọng tới những nhu cầu của thành phần công dân yếu kém nhất, thành phần đầu tiên chịu đau khổi vì nghèo. Không có tình đoàn kết này thì sẽ xẩy ran guy cơ hạn chế hay thậm chí ngăn cản thế giới của các tổ chức quốc tế muốn rat ay chiến đấu tình trạng đói khổ và thiếu dinh dưỡng.
Sau hết, một lần nữa, theo những lời của cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì ‘cá nhân cũng như tất cả mọi dân tộc cuối cùng sẽ bị lịch sử phân xử liên quan tới cách họ thực sự làm trọn trách nhiệm của mình trong việc góp phần vào thiện ích của đồng loại của họ…. Hy vọng rằng hết mọi người – cá nhân, phái nhóm, nhưng cơ quan tư và những tổ chức công – sẽ thực hiện việc chăm sóc thích đáng thành phần thiếu thốn nhất, bằt đầu là quyền căn bản của họ trong việc được hết đói khổ’ (Pope John Paul II, Nov. 10, 1985). Xin cám ơn Ông.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 10/11/2006 - Thoidiemmaria.net
|