|
Những giá trị và ý nghĩa của Bản Toát Yếu: Học thuyết Xã hội Công giáo
VietCatholicNews 26/01/2007)
Bài phát biểu của ĐHY Renato Martino, Chủ tịc Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Bình trong Hội Nghị Châu Á về Bản Toát Yếu: Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội
Trước hết Ngài chào mừng ĐHY Michael Kitbunchu, Tổng giám mục Bangkok, TGM Orlando Quevedo, Tổng thư ký Liên Hội Đồng Giám Mục Á châu và Đức GM George Yod Phimphisan, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Thái Lan, đã đóng góp nhiều trong việc tổ chức Hội nghị này.
Tiếp đó, Ngài nêu lên mục đích chính yếu của Hội Nghị Bản Toát Yếu là nhằm tìm ra những hình thức hợp nhất và những hoạt động mục vụ nào để có thể đem sứ điệp phổ quát của BẢn Toát Yếu đáp ứng được những nhu cầu của Á châu, đưa học thuyết xã hội của Giáo hội hội nhập vào bối cảnh của lục địa này.
1.Giới thiệu Bản Toát Yếu
Chúng ta sẽ thực hiện được công trình này nếu chúng ta gắn bó mật thiết với Đức Giêsu vì Người là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (x Ga 14,6) của Giáo hội cũng như của toàn thế giới. Đúng như đoạn văn đầu tiên của Bản toát yếu đã xác định: “Giáo hội tiếp tục ngõ lời với mọi dân tộc và mọi quốc gia, vì ơn cứu độ có được ban cho con người thì cũng chỉ là nhờ vào danh Đức Kitô. Sự cứu độ mà Chúa Giêsu đã giành được bằng một giá rất đắt” (1Cr 6,20; 1Pr 1,18-19), sẽ được hoàn thành trong sự sống mới đang chờ trao cho người công chính sau khi chết. Nhưng sự cứu độ ấy cũng đang thâm nhập v2o thế giới này qua các thực tại như kinh tế và lao động, công nghệ và truyền thông, xã hội và chính trị, cộng đồng quốc tế và những mối tương quan giữa các nền văn hóa và các dân tộc”.
Mối liên lạc giữa tông huấn “Giáo hội tại Á châu” và Bản Toát Yếu
Cuọc tìm tòi và nghiên cứu về các vấn đề xã hội, trong đó có các vấn đề của châu Á, đã được thực hiện từ nhiều năm qua, nhất là dưới triều đại của ĐGH Giaon Phaolô II để kết quả cuối cùng là bản Tông huấn Giáo Hội tại Á Châu, rồi được ĐGH Benedictô tiếp tục thực hiện và công vố thành Bản Tóat Yếu này như Ngài đã từng nói đến trong thông điệp đầu tiên là “Thiên Chúa là Tình yêu” của Ngài.
Bản toát yếu đặt trọng tâm học thuyết xã hội vào trọng tâm của sứ mạng Giáo hội vì Giáo hội hiện diện trong thế giới và cho thế giới, dù không thuộc về thế giới này.
Giáo hội quan tâm đến các vấn đề xã hội vì muốn dậy cho con người sống trong thế giới biết phải theo đường nào để vào được Nước Thiên Chúa. Vì thế học thuyết này trải rộng đến tòan bộ trật tự luân lý, đặc biệt liên quan tới công lý là thức chi phối những tương quan của con người. Phổ biến học thuyết này chính là một phần trong toàn bộ công cuộc rao giảng Tin Mừng.
2.Mục tiêu của Bản Toát Yếu: xây dựng một nền nhân bản toàn diện trong tình liên đới (x số 7)
Bản toát yếu đề nghị xây dựng một nề nhân bản toàn diện trong tinh thần liên đới được mở ra cho Đấng Siêu Việt (x số 7). ChỈ trong nền nhân bản như thế, chúng ta mới có thể tìm ra được những lời chỉ dẫn để xây dựng một xã hội mới mẻ cả về mặt tư tưởng lẫn lịch sử có thật để diễn tả cụ thể những đòi hỏi càng ngày càng cao của Tin Mừng và của Kitô giáo. Ta thấy rõ điều này trong chương 3 và chương 4 của Bản Toát Yếu khi nói đến các nguyên tắc nền tảng của học thuyết xã hội Công giáo mà chúng ta có thể lược qua sau đây:
2.1.Nguyên tắc nhân vị:
Nguyên tắc này xác định rằng: “Giáo hội xem từng con người là hình ảnh sống động của chính Thiên Chúa” từ đó dẫn đến việc phải tôn trọng phẩm giá và các quyền căn bản của con người.
Nguyên tắc nhân vị này xác định con người là chủ thể nền tảng và cùng đích cho mọi hoạt động xã hội cũng như mọi kế hoạch phát triển. Nó giúp cho việc cổ vũ và việc bảo vệ giá trị con người thuộc bất cứ trình độ hoặc tuổi tác, chủng tộc, kinh té, chính trị, ngôn ngữ, tôn giáo, thành phần kinh tế nào trước nạn phân biệt chủng tộc cũng như việc loại trừ đang diễn ra từng ngày trên khắp thế giới.
2.2.Nguyên tắc công ích.
Công ích bao gồm mọi điều kiện để vừa thúc đẩy sự phát triển trọn vẹn của mỗi cá nhân cũng như các cộng đoàn, vừa bảo vệ và cổ vũ cho các quyền của con người cũng như của gia đình, quyền được tự do thành lập các hiệp hội và các quyền khác như tự do tôn giáo, tự do truyền thông và phát biểu, quyền có tài sản riêng... Sự phát triển này đòi hỏi rất nhiều cố gắng của toàn thể xã hội cũng như của cộng đoàn các dân tộc để thực hiện được công ích quốc tế.
2.3.Nguyên tắc bổ trợ
Bổ trợ là một trong những định hướng bền vững và đặc thù của học thuyết xã hội Công giáo. Theo nguyên tắc này: mọi xã hội thuộc trật tự cao hơn phải biết giúp đỡ -- tức là hỗ trợ thúc đẩy phát triển – các xã hội thuộc trật tự thấp hơn, chứ không được phế bỏ sáng kiến, tự do và trách nhiệm của các đơn vị xã hội ấy.
Nguyên tắc này chống lại mọi hình thức trung ương tập quyền, tệ nạn quan liêu giấy tờ và quan liêu trong việc cứu trợ an sinh cũng như sự hiện diện vô lý và thái quá của Nhà Nước trong guống máy công cộng. Nguyên tắc này dẫn đến việc tôn trọng và mời gọi sự tham gia của mọi cá nhân vào đời sống chung một cách tự nguyện và đầy trách nhiệm.
2.4.Nguyên tắc liên đới
Liên đới vừa là mọt nguyên tắc xã họi vừa là một đức tính luân lý, một thể hiện cụ thể thực sự cho công lý. Mối tương quan lệ thuộc lẫn nhau giữa các cá nhân và dân tộc trong đời sống thực tế là những hình thức liên đới cần phải được biến đổi thành sự liên đới thiết thực trên bình diện đạo đức xã hội. Nguyên tắc này đòi hỏi mọi người tích cực chia sẻ hàng hóa, tài nguyên, những trách nhiệm và khó khăn trong bầu khí hỗ tương và bình đẳng về quyền lợi cũng như nghĩa vụ. Liên đới nhắc nhở ta đang mắc nợ người khác cũng như ta phải biết ban tặng cho người khác: như thế liên đới chính là thái độ mang tính cách vừa xã hội vừa luân lý để ta trở thành anh chỉ em của mọi người.
3.Vài đường hướng cụ thể
Tiếp theo xin giới thiệu một vài đường hướng cụ thể đáp ứng với đòi hỏi của học thuyết xã hội Công giáo đối với những thực tế xã hội của Á châu để làm chứng cho Đức Kitô.
3.1. Cổ vũ cho hòa bình và bảo vệ các quyền con người trong bối cảnh Á châu.
Trong thế giới được toàn cầu hóa hiện nay, nhiều văn bản quan trọng công bố các quyền con người, nhưng thực tế ở nhiều nơi, các quyền này đang bị xúc phạm hoặc chối bỏ. Hằng triệu con người đang phải chịu đựng sự kì thị, bóc lột, nghèo đói và bị gạt ra ngoài lề xã hội. Có những nơi người nghèo chưa có nước sạch sẽ để dùng. Nhiều người không được tôn trọng những dữ liệu riêng tư, thầm kín... Người Kitô hữu được mời gọi để bảo vệ các quyền lợi cơ bản của con người như quyền sống, quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo.
3.2.Cổ vũ quyền phát triển
“Phát triển là tên gọi mới của hòa bình” ĐGH Phaolô VI đã xác định như thế trong thông điệp thời danh của ngài. Những người nghèo khổ và những dân tộc yếu kém nhất đang mong mỏi quyền này được tôn trọng và được dành ưu tiên cho họ, vì Đức Kitô Chúa chúng ta đã đồng hóa mình với người nghèo (x Mt 25,40). Nguyên tắc ưu tiên này cũng soi sáng cho mọi hoạt động mục vụ của Giáo hội trên bình diện xã hội. Trong tình thương đối với người nghèo ở châu Á, chúng ta đặc biệt chú ý tới các người di dân, người thiểu số và người bản địa, đến phụ nữ và trẻ em đang bị lạm dụng và khai thác, những người bị kì thị vì khác biệt về văn hóa, mầu da, chủng tộc, giai cấp, hoặc tình trạng kinh tế cũng như cách suy tư của họ.
3.3.Thúc đẩy mối tương quan tốt đẹp với thiên nhiên
Bản Tóat Yếu nói đến sự khủng hoảng trong mối tương quan giữa con người và môi trường do nhiều người đã có một cái nhìn sai lạc về thế giới thụ tạo, bị chủ nghĩa duy khoa học và kĩ thuật thống trị, hoặc suy tôn sinh thái và sinh học thái quá.
Cần phải nhìn thiên nhiên vạn vật trong mối liên kết với Thiên Chúa là Đấng SÁng Tạo nên mọi vật, mọi loài và các thụ tạo vây quanh con người cũng là những ân huệ Chúa ban để con người nhận thức được trách nhiệm của mình là bảo tồn môi trường lành mạnh cho tất cả mọi người.
3.4.Cổ vũ quyền được hưởng hòa bình
Hoạt động mục vụ của chúng ta có đặc tính cổ vũ quyền được hưởng hòa bình. Ngay trong thời đại này, nhiều nơi trên thế giới và cả châu Á, vẫn còn bị đe dọa bởi những xung đột và chiến tranh, bắt nguồn từ lòng thiếu khoan dung và kì thị, vì nhữgn khác biệt về xã hội, văn hóa, chính trị và cả về tôn giáo. Ngày qua ngày, bạo lực vẫn được dùng để giải quyết những căng thẳng và tranh chấp. Vì thế Giáo hội mời gọi người tín hữu hoạt động để bảo vệ hòa bình, công lý và hòa giải trong khi vẫn đề cao quyền tự vệ chính đáng, quyền bảo vệ người vô tội, cổ vũ việc giải trừ quân bị và lên án chủ nghĩa khủng bố.
4. Nhiệm vụ của người tín hữu giáp dân
Bản toát yếu nhỉn nhận rằng người Kitô hữu giáo dân là tác nhân chính để mang lại nền nhân bản toàn diện trong sự liên đới này. Họ được mời gọi, từng cá nhân cũng như tập thể cộng đoàn, tìm ra trong học thuyết xã hội của Giáo hội nguồn cảm hứng và soi sáng cho mọi hoạt động của mình trong xã hội họ sống. Trong khả năng chuyên môn và bản chất trần thế, người tín hữu giáo dân có thể thâm nhập vào mọi lãnh vực của hoạt động xã hội, để sống mầu nhiệm tình thương của Thiên Chúa dành cho thế giới, mầu nhiệm được thể hiện mơi Đức Kitô và Giáo Hội của người trong lịch sử.
Kết luận
Chúng ta nêu nổi bật mối tương quan giữa học thuyết xã hội của Giáo hội với tình bác ái mà ĐGH Bendictô XVI đã trình bầy trong thông điệp “Deus Caritas est” của Ngài từ số 26-29. Học thuyết này gắn chặt với Đức Ái, hay đúng hơn, là gắn chặt với chính sự sống của Thiên Chúa để từ đó Giáo hội nhận được nguồn sức mạnh phục vụ thế giới. Đồng thời học thuyết này cũng gắn liền với lòng yêu thương như một đức hạnh của con người, trên đó xây dựng mọi mối tương quan giữa các dân tộc. Với Thiên Chúa là Đức Ái và cũng là Tình thương, chúng ta sẽ xậy dựng được nền văn minh tình thương cho mọi con người và mọi dân tộc.
(LM Nguyễn ngọc Sơn tóm lược)
LM Nguyễn Ngọc Sơn - VietCatholic.net
|