| |
Tuyên giữ Đức Tin Kitô Giáo trong thế giới tân tiến
Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Tông Du Đức Quốc 9-14/9/2006 – Bài giảng Thánh Lễ ngày Thứ Ba 12 tại Islinger Feld, Regensburg
Chúng ta qui tụ lại đây để cử hành đức tin. Thế nhưng vấn đề liền hiện lên là: Chúng ta thực sự tin tưởng những gì? Việc có đức tin nghĩa là gì? Đức tin vẫn còn là những gì khả dĩ đối với thế giới tân tiến này hay chăng?... Giáo Hội đã cống hiến cho chúng ta một cuốn ‘Tổng Luận Thần Học’ tí hon, trong đó bào tỏ hết mọi sự thiết yếu. Nó được gọi là Kinh Tin Kính Các Vị Tông Đồ, thường được chia thành 12 điều, tương đương với 12 Tông Đồ. Nó nói về Thiên Chúa, Đấng Hóa Công và là nguồn mạch của tất cả mọi thực tại, của Chúa Kitô và công cuộc cứu độ của Người, và nó lên đến tuyệt đỉnh nơi sự sống lại của kẻ chết và sự sống trường sinh. Nơi cấu trúc căn bản của mình, Kinh Tin Kính này được bao gồm có ba phần chính, và như chúng ta thấy từ lịch sử của nó, nó chỉ là những gì nới rộng của công thức Rửa Tội được Chúa trao phó cho các môn đệ của Người qua mọi thế hệ khi Người bảo họ rằng: ‘Các con hãy đi tuyển mộ môn đồ khắp các quốc gia, rửa tôị cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần’ (Mk 28:19).
Một khi chúng ta ý thức được điều này thì hai điều trở thành sáng tỏ. Trước hết, đức tin là những gì đơn sơ giản dị. Chúng ta tin vào Thiên Chúa – vào vị Thiên Chúa là Nguyên Thủy và là Cùng Đích của sự sống con người. Chúng ta tin tưởng vào một Vị Thiên Chúa đã thực hiện mối liên hệ với chúng ta là con người, Đấng là nguồn gốc và là tương lai của chúng ta. Bởi thế, đức tin là niềm hy vọng luôn mãi, bất khả phân ly: niềm tin tưởng rằng chúng ta có một tương lai và sẽ không chết là hết. Và đức tin là yêu thương, vì tình yêu của Thiên Chúa là những gì ‘lây nhiễm’. Đó là điều thứ nhất, ở chỗ, chúng ta chỉ tin tưởng vào Thiên Chúa, và niềm tin này bao gồm niềm hy vọng và tình yêu thương.
Điều thứ hai cũng được sáng tỏ nữa, ở chỗ, Kinh Tin Kính không phải là tổng hợp những lời công bố; nó không phải là một thứ lý thuyết. Nó gắn liền với biến cố Phép Rửa – một cuộc hội ngộ chân thực giữa Thiên Chúa và loài người. Nơi mầu nhiệm của Phép Rửa, Thiên Chúa đã cúi mình xuống để gặp gỡ chúng ta; Ngài đến gần với chúng ta, nhờ đó mang chúng ta đến gần với nhau hơn. Phép rửa có nghĩa là Chúa Giêsu Kitô chấp nhận chúng ta như là anh chị em của Người, đón nhận chúng ta như những người con cái vào gia đình của Thiên Chúa. Như thế Người làm cho chúng ta trở thành một đại gia đình trong mối hiệp nhất phổ quát của Giáo Hội. Thật vậy, những ai tin tưởng thì không cảm thấy bị lẻ loi cô độc. Thiên Chúa đến gặp gỡ chúng ta. Chúng ta hãy tiến lên nghênh đón Ngài để nhờ đó chúng ta gặp nhau! Cho đến mức độ có thể, chúng ta hãy bảo đảm rằng không một ai trong thành phần làm con cái Thiên Chúa lại cảm thấy lẻ loi cộ độc!
Chúng tôi tin tưởng vào Thiên Chúa. Đó là một quyết định hệ trọng về phía chúng ta. Thế nhưng, vấn đề cần phải được đặt ra là: phải chăng ngày nay niềm tin này vẫn còn là những gì khả dĩ? Nó có hợp lý hay chăng? Từ Thời Minh Tri trở đi thì khoa học, ít là một phần nào đó, đã thực hiện việc tìm cách giải thích về một thế giới không cần đến Thiên Chúa nữa. Và nếu điều này là thế thì Ngài cũng trở thành không còn thiết yếu trong đời sống của chúng ta nữa. Thế nhưng bất cứ khi nào nỗ lực này dường như sắp sửa thành công – thì vấn đề không thể nào không sáng tỏ là có một cái gì đó thiếu mất nơi phương trình này! Khi Thiên Chúa bị khấu trừ thì một điều gì đó không được cộng thêm cho con người, cho thế giới, cho toàn thể vũ trụ. Bởi vậy mà chúng ta đứng trước hai hai chọn. Đâu là chọn lựa thứ nhất? Lý Trí Sáng tạo, Thần Linh Sáng Tạo là Đấng làm nên hết mọi sự và làm cho chúng phát triển, hay Cái Vô Tri, cái dù thiếu nghĩa lý lại có thể một cách nào đó làm phát sinh ra vũ trụ lớp lang theo toán học, cùng với con người và lý trí của họ. Tuy nhiên, cái vô tri bấy giờ chẳng là gì khác ngoài một thứ thành quả tình cờ của việc tiến hóa, nên cuối cùng cũng chỉ tương đương với vô nghĩa. Là Kitô hữu, chúng ta nói: ‘Tôi tin kính Thiên Chúa là Cha, Đấng Tạo Thành trời đất’ – Tôi tin kính Thần Linh Sáng Tạo. Chúng ta tin rằng khởi sự của tất cả mọi sự là Lời hằng hữu, có Lý Trí chứ không phải Vô Tri. Với niềm tin này, chúng ta không có lý do nào để ẩn nấp, không sợ bị đi đến ngõ cụt đường cùng. Chúng ta hân hoan là chúng ta có thể nhận biết Thiên Chúa! Và chúng ta cố gắng giúp cho những người khác thấy được cái hợp lý của niềm tin, như Thánh Phêrô trong Thư Thứ Nhất của mình đã thiết tha minh nhiên kêu gọi Kitô hữu thời của ngài thực hiện, và cùng với họ, cả chúng ta nữa (x 1Pt 3:15)!
Chúng tôi tin tưởng vào Thiên Chúa. Đây là những gì được các phần chính trong Kinh Tin Kính khẳng định, nhất là ở phần thứ đầu. Thế nhưng giờ đây một câu hỏi khác được đặt ra, đó là tin tưởng vào vị Thiên Chúa nào đây? Chắc chắn là chúng ta tin tưởng vào vị Thiên Chúa là Thần Linh Sáng Tạo, là Lý Trí sáng tạo, là nguồn mạch của tất cả mọi sự hiện hữu, bao gồm cả chính chúng ta. Phần thứ hai của Kinh Tin Kính nói với chúng ta hơn nữa. Lý Trí sáng tạo này thì Thiện Hảo, Lý Trí ấy là Tình Yêu. Lý Trí ấy có một dung nhan. Thiên Chúa không để chúng ta mò mẫm trong tăm tối. Ngài đã tỏ mình cho chúng ta như là một con người. Từ sự cao cả của mình, Ngài đã tự trở nên bé mọn. ‘Ai thấy Thày là thấy Cha’, Chúa Giêsu nói (Jn 14:9). Thiên Chúa đã khoác một bộ mặt nhân loại. Ngài đã yêu thương chúng ta cho đến độ để cho mình bị đóng đinh trên cây Thập Giá vì chúng ta, để mang những nỗi khổ đau của nhân loại đến với chính cõi lòng của Thiên Chúa. Ngày nay, thời điểm chúng ta thấy được những bệnh lý cùng với các chứng bệnh đe dọa tới sự sống liên hệ đến tôn giáo và lý trí, và những cách thức hình ảnh Thiên Chúa có thể bị hủy hoại bởi hận thù và cuồng tín, thì cần phải nói rõ rằng vị Thiên Chúa này là Đấng chúng ta tin tưởng, và tin tưởng loan báo rằng vị Thiên Chúa này có một bộ mặt con người. Chỉ có niềm tin này mới có thể giải phóng chúng ta khỏi cảm thấy sợ hãi Thiên Chúa – một thứ hãi sợ tận cùng là nguồn gốc của chủ nghĩa vô thần tân tiến. Chỉ có vị Thiên Chúa này mới cứu chúng ta khỏi cảm thấy sợ hãi thế giới cũng như khỏi mối lo âu trước tình trạng trống rỗng của cuộc đời. Chỉ khi nào nhìn lên Chúa Giêsu Kitô thì niềm hân hoan của chúng ta trong Thiên Chúa mới nên trọn và trở thành niềm vui cứu độ. Trong cuộc long trọng cử hành Thánh Thể này, chúng ta hãy nhìn lên Chúa bị treo trước chúng ta trên Thập Giá và hãy xin Người hãy ban cho chúng ta niềm vui tràn trề, một niềm vui được Người hứa hẹn với thành phần môn đệ của Người vào giờ khắc biệt ly (x Jn 16:24)!
Phần thứ hai của Kinh Tin Kính kết thúc bằng việc nói đến vấn đề chung thẩm và phần thứ ba nói đến việc kẻ chết sống lại. Phán quyết – phải chăng chữ này không khiến chúng ta cảm thấy sợ hãi? Mặt khác, không phải hết mọi người đều muốn thấy công lý dần dần cần phải được trả về cho tất cả những ai bị lên án bất công, cho tất cả những ai chịu khổ đau trên đời này, những ai chết đi sau một cuộc đời đầy đớn đau hay sao? Không phải là tất cả chúng ta đều muốn những gì là bất chính bạo tàn và khổ đau chúng ta thấy được nơi lịch sử loài người cuối cùng bị chấm dứt hay sao, nhờ đó, cuối cùng, mọi người sẽ tìm được hạnh phúc, và hết mọi sự mới cho thấy có ý nghĩa hay sao? Cuộc chiến thắng ấy của công lý, việc liên kết với nhiều thứ phân mảnh của lịch sử dường như là vô nghĩa này, và việc cống hiến cho chúng vị trí của chúng trong một bức tranh lớn lao hơn có chân lý và yêu thương làm chủ, đó là những gì được hiểu theo quan niệm về việc phán xét chung. Đức tin không có mục đích làm phát sinh ra sợ hãi; trái lại, nó có mục đích kêu gọi chúng ta chấp nhận trách nhiệm. Chúng ta không muốn làm cho cuộc đời của mình bị hoang phí, muốn mạo dụng nó, hay muốn chỉ sống cuộc đời ấy cho bản thân mình. Trước tình trạng bất chính, chúng ta không được dửng dưng lạnh lùng, để đi đến chỗ trở nên thành phần hợp tác âm thầm hay thành phần hoàn toàn đồng lõa. Chúng ta cần nhận ra sứ vụ của chúng ta trong lịch sử và hãy cố gắng để thi hành nó. Điều cần thiết đó là đừng sợ mà là trách nhiệm – trách nhiệm và quan tâm đến phần rỗi của mình cũng như phần rỗi của toàn thể thế giới. Mọi người đều cần thực hiện việc góp phần của mình cho mục đích ấy. Thế nhưng, khi trách nhiệm và quan tâm có khuynh hướng phát sinh sợ hãi, thì chúng ta cần phải nhớ những lời của Thánh Gioan là: ‘Hỡi các con nhỏ, tôi viết điều này để giữ cho anh em khỏi sa ngã phạm tội. Thế nhưng nếu ai sa ngã phạm tội thì chúng ta đã có một biện hộ gia trước Chúa Cha là Chúa Giêsu Kitô là người công chính’ (1Jn 2:1). ‘Cho dù lòng chúng ta có trách móc chúng ta thế nào chăng nữa thì Thiên Chúa còn lớn hơn cả lòng chúng ta và Ngài bei61t hết tất cả mọi sự’ (ibid 3:20).
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu - Thoidiemmaria.net
|
|