"
MẺ CÁ LỚN” TRÊN DẪY TRƯỜNG SƠN
Đọc
xong đoạn Phúc âm theo thánh Luca: “ Giảng xong, Ngài bảo ông
Simon: “ Chèo ra chỗ nuớc sâu mà thả lưới bắt cá “. Ông Simon
đáp: “ Thưa Thầy , chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được
gì cả. Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới.” Họ đã làm như
vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới “(
Lc 5 : 4-6 ). Tôi cảm nghiệm sâu sắc ý nghĩa câu “ Hôm nay Lời
Chúa vẫn như còn tươi rói và dẫn đưa tôi nhớ da diết về một mục
tử đã “ chèo ra chỗ nước sâu “trên dẫy Trường Sơn .
Những địa danh một thời oanh liệt khi còn chiến tranh như Kon
Hơ Ring , Dak-Tô , Tân Cảnh , Dak-Xut , Dak Glei , Ngọc Hồi nằm
phía Tây Bắc Kontum giáp Lào và Quảng Nam và cách thị xã Kontum
trên dưới 100 cây số . Nơi đây đã ghi dấu không biết bao nhiêu
những bước chân truyền giáo va máu xương của các bậc tiền bối
từ thời kỳ tiên khởi khoảng từ năm 1853 . Trong thiên hồi ký của
cha Pierre Dourisboure xuất bản năm 1929 , Linh Mục Thừa Sai Paris
này viết sau khi thầy Sáu Do bị chông đâm ngay gang bàn chân:
”Chúa nhân lành đã muốn cho chúng tôi hiểu rằng những năm tháng
ở chốn trần gian lưu đầy này chỉ tốt đẹp cho chúng ta khi nó khởi
sự bằng thập giá mà thôi .” Hoặc khi bị dân làng xem những Thừa
Sai của Chúa như là những tay sai của ma quỷ , là những kẻ truyền
bá các thứ đam mê bẩn thỉu nhất , Ngài viết :“ Nhìn lại lịch sử
truyền giáo của Giáo Hội , công việc rao gỉang Tin Mừng lúc khởi
đầu luôn luôn gặp khó khăn và bị bách hại . Và nếu có nơi nào
mà lúc đầu các nhà truyền giáo không gặp thử thách thì đó là dấu
hiệu Chúa không mấy chúc lành, và công việc của họ chỉ gặt hái
được ít kết quả . Nếu quỷ dữ khuấy động , tru trếu , gầm thét
, đó là vì nó sợ , nó thấy công việc của nó sắp thất bại . Vậy
hãy can đảm, khiêm nhường, tin cậy nơi Chúa và chúng ta sẽ đạt
được mục đích, bất chấp quỷ dữ và còn khó khăn hơn nữa, bất chấp
tội lỗi của chúng ta .” Ngay những năm trước 1975 khi còn sống
trong tiểu chủng viện Thừa Sai Kontum, tôi đã chứng kiến cái chết
đau thương của cha Sanier khi Ngài di chuyển trên đường bị mìn
phát nổ . Hoặc cha Leoni cha sở làng Kon Kơla bị bắn gẫy tay nhưng
Ngài vẫn ở lại với những đứa con của Núi rừng này cho tới 1975
.
Đến
năm 1997 khi trở lại Kontum thì những địa danh trên vẫn heo hút
vẫn thiếu dấu chân của mục tử do hoàn cảnh phức tạp sau năm 1975
. Gặp cha Simon Phan văn Bình tại Nhà thờ gỗ chính tòa Kontum
lúc đó Ngài đã 62 tuổi nhưng vẫn đang phải học và nghiên cứu tiếng
người dân tộc Sêdang để soạn ra sách giáo lý cùng những tài liệu
liên quan đến công việc mục tử của Ngài . Ngài cho biết từ giải
phóng đến nay các làng dân tộc công giáo chỉ có các Iao Phu ,
người quản lý họ đạo thay cho linh mục, hoạt động mục vụ . Chức
sắc Iao Phu này được giáo phận dành riêng cho một ngày gọi là
Ngày Iao Phu và một quỹ hoạt động gọi là Quỹ Iao Phu giúp họ có
phương tiện hoạt động tông đồ . Nơi đây cũng chẳng còn ngôi nhà
thờ hoặc nhà nguyện nào mặc dù trước kia đầy đủ kể cả nhà xứ .
Mọi sinh họat công giáo đều do giáo dân tự quản . Chỉ những ngày
lễ lớn như Giáng Sinh hoặc Phục Sinh họ mới tập trung về Nhà Thờ
Chính Tòa Gỗ dành riêng cho giáo dân dân tộc để dọn mình xưng
tội va tham dự Thánh Lễ trọng thể .Trong những ngày lễ này các
giáo dân được giáo phận lo cho đủ mọi nhu cầu sinh hoạt như củi
đốt , chiếu để nghỉ ngơi , gạo và thức ăn nước uống cùng lộ phí
. Mãi cho đến năm nay tức 1997 Ngài mới chính thức được chính
quyền Tỉnh cho phép đi lại và lo lắng cho con chiên của Ngài đa
phần thuộc dân tộc Sêdang rải rác trong các huyện Sa Thầy, Ngọc
Hồi, Dak Tô và Dak Glei . Trong vùng sâu vùng xa rộng lớn đầy
gian nguy hiểm trở này số làng công giáo dân tộc gồm 130 làng
trên tổng số 632 làng của tòan giáo phận , nên nhiệm vụ của Mục
tử Dãy Trường Sơn của cha Simon rất nặng nề vất vả .
Khi cha Simon Phan văn Bình về Saigon khám chữa bệnh và đến thăm
tôi vào những ngày đầu tháng 2 năm 2004 , tôi mới có dịp hỏi chuyện
Ngài . Vẫn nước da bánh mật của người miền núi , tôi mừng rỡ muốn
biết “ chỗ nước sâu “ của Ngài ra sao :
- Khó khăn thì nhiều nhưng việc nào làm cha điên đảo suy tư nhiều
nhất ?
- Đó là công việc chăm lo sức khỏe cho họ mỗi khi họ cần phải
cấp cứu . Nhiều khi đang đêm bất kể giờ giấc, bất kể đường xá
xa xôi thác ghềnh, bất kể cơ thể mình có đau ốm hay không, mình
vẫn phải đến với họ đem họ đi bệnh viện và lo mọi thủ tục cùng
mọi chi phí thuốc men cho đến khi xuất viện. Trong 6 năm nơi vùng
sâu vùng xa này mình đã thực hiện được khoảng 400 ca chăm sóc
như thế . Dù mệt mỏi hết sức nhưng “ Vâng lời Thầy , tôi sẽ thả
lưới “. Đó là kim chỉ nam để mình rao giảng Lời Chúa .
- Còn hạnh phúc lớn nhất đối với Mục Tử Dãy Trường Sơn của cha
là gì ?
- Sau những năm kiên trì chăm sóc lo toan tận tình cho sức khỏe
của họ , bất kỳ công giáo hay ngoại đạo, mà tôi đón nhận nguyên
một làng dân tộc ngoại giáo tự nguyện trở lại . Đây thực sự là
niềm hạnh phúc lớn lao nhất mà Chúa đã ban cho. Một mẻ cá lớn
trên Dãy Trường Sơn . Đây cũng là hạnh phúc của quí thân bằng
cố hữu và quí ân nhân xa gần chưa một lần quen biết và của những
ai nâng đỡ đời sống mục tử .
- Uớc mơ hiện nay của cha là gì ?
- Với tuổi 68 như tôi thì chỉ mong sao có thêm anh em linh mục
trẻ hơn chia sẻ với tôi nơi cánh đồng truyền giáo Trường Sơn đèo
heo hút gió này để tôi còn thời gian thực hiện hai cuốn tự điển
Bahnar – Việt và Sêdang – Việt giúp các cháu người dân tộc học
văn hoá tốt hơn .
Sau những lời chân tình trên , Ngài gửi tặng tôi những trang bút
ký về Trường Sơn đèo heo hút gió . Trong đó Ngài ghi lại :
- 10-02-2003 : Đưa người chết về thôn làng .
Tận dụng chiếc Musso , xếp ghế lại , tôi đặt chiếc quan tài vào
trong . Chở về làng Yang Lố Kram gần biên giới Lào . Vừa vước
xuống xe , người nhà khóc òa lên inh ỏi . Tiếng khóc báo tang
. Người làng lần lượt chạy tới . Tiếng khóc lan truyền từ người
này tới người kia . Cả làng đều khóc .
Tôi đứng lặng người . Không hiểu mình đang ở dương gian hay nơi
âm phủ . Nhưng lòng tôi dịu lại khi thấy họ yêu thương nhau .
Tình yêu chân thật và sơ khai của một tập thể .
Tôi ra hiệu . Họ lặng thinh .Và lời kinh tôi cùng họ dâng lên
Chúa cho người quá cố . Mặt trời sắp lặn . Không gian trầm lắng
. Buồn tênh ! Từ biệt cho hôm nay và mai sau gặp lại trên Quê
Trời .
-
3-05-2003 : Cấp cứu một bà mẹ sanh đôi ở Dak Gia . Một em bé chết
. Người mẹ đang trong tình trạng sưng ù cả người .
- 4-05-2003 : Cấp cứu một bệnh nhân nam đau nặng , chân bị liệt
.
- 5-05-2003 : Cấp cứu một bà mẹ sanh xong hai ba ngày , đau đi
không được như trật khớp xương chậu .
-26-05-2003 : Một người mẹ bồng bế con còn bú mớm , nuôi chồng
ở bệnh viện tỉnh đến xin giúp củi , gạo và thức ăn . Bà ở thôn
làng Dak Blái , xa cách Kontum hàng 100km rừng sâu hiểm trở .
Tôi rất quí trọng những người mẹ vì đó là hình ảnh sống động của
mẹ tôi , của tình mẫu tử , của lòng quảng đại vị tha vô bờ bến
. Không hình ảnh nào đẹp hơn hình ảnh người mẹ trong cuộc đời
.
- 12-9-2003 : Cấp cứu em bé 9 tháng tuổi .
10g00 tối . Điện thoại reo .Trạm xã xã Dak Ang cách Kontum 115km
báo cáo một em bé 9 tháng tuổi , viêm khí quản , nghẹt thở . Tôi
lái xe đến nhà tư anh tài xế . Đêm vắng lặng . Chúng tôi thay
tay lái cho nhau , qua đồi núi , tiến về Dak Ang . Đường về đêm
thật vắng lặng .
- 20-11-2003 : Một người đàn ông nằm chữa bệnh tại trạm xá vãng
lai của Nhà Thờ Chính Tòa . Oâng xin được rửa tội vì linh cảm
mình không thể sống nữa . Ở thôn làng , ông đã từng tham gia kinh
nghĩa với họ đạo . sáng hôm sau ông đã qui hồi tiên tổ . Tôi chở
xác ông về làng Yang Lố gần biên giới Lào .
Đó là thành quả của các anh em Iao Phu ( người quản lý họ đạo
thay cho linh mục ) Chính họ là người gương mẫu , dậy dỗ , hướng
dẫn họ đạo , chủ trì các buổi cầu kinh .
- 7-12-2003 : Hủ bột bà góa Sarepta.
Tâm trạng bà góa Sarepta lấy bột trong hũ làm bánh cho nhà tiên
tri mà cứ sợ nó vơi hết cũng là tâm trạng của tôi hôm nay . Sáng
sớm đã có người tới khóc than .Điện thoại cấp cứu . Mỏâ sẻ ở bệnh
viện . Tiền xe về lại làng . Người bệnh tâm thần cần đi điều trị
v. v . . . Nhìn túi tiền chẳng là bao nhiêu . Tôi lấy đức tin
nhủ thầm :” Đấy Chúa đến mà ! “. Và lòng vẫn cứ nơm nớp chẳng
còn tiền đâu nữa . Nhưng rồi Chúa vẫn cho hũ bột không nhiều mà
cũng không vơi .
Quả thật nếu có dư đầy , thì tôi chẳng có gì để phải tin , để
cầu xin và ước mơ . Cầu xin có người đồng hành . Ước mơ thấy người
nghèo được an ủi và người bệnh hoạn được vơi đi nỗi khổ đau .
Xin mượn câu cuối trong Kinh Truyền Giáo để khấn nguyện : “Xin
Đức Mẹ dẫn đưa chúng con trên con đường này – xin các Thánh Truyền
Giáo phù trợ chúng con – xin các Thánh Tử Đạo Việt Nam cầu bầu
– để đức tin được máu của các Ngài tưới gội trên giang sơn này
– trổ sinh nhiều hoa trái làm vinh danh Chúa – và đem lại hạnh
phúc cho nhiều người. – Amen. “
Vũ
văn Quí VN : vuvanquy@fptnet.com.vn
Saigon 7/2/2004
|