Chia sẻ Tin Mừng CN 16 TN NC 2016 (Lc 10,38-42)
Phục vụ chu đáo
Sau một hành trình dài dằng dặc như địa ngục trong xe chở gia súc từ Singapore - nơi họ đã trải qua 8 tháng tù trước đó - Đại tá Philip Toosey (1904-1975) cùng với 690 tù nhân thuộc Lữ đoàn 135, quân đội Anh, đã đến trại giam Tamarkan, Thái Lan, nằm trong một khu rừng cách Bangkok 120 km về phía tây, gần sông Kwai Yai. Sang ngày hôm sau, số tù nhân tăng vọt lên 1.000. Các sĩ quan nhất trí bầu chọn Toosey làm sĩ quan cấp cao. Sự bình chọn này được Trung úy Nhật Kosakata, chỉ huy trại, công nhận.
Kosakata báo cho Toosey biết nhiệm vụ của các tù nhân là xây dựng 2 chiếc cầu bắc qua sông Kwai: một chiếc cầu gỗ dài 100m cho các phương tiện giao thông nhẹ; một chiếc cầu thép dài 300m, dựng trên 11 cột chống bêtông, với 2 km bờ đê hai bên, là đường ray trọng điểm dẫn đến phòng tuyến tiếp tế của Nhật. Thời gian hoàn thành là từ 9 tháng - 1 năm. Một ngày làm việc bắt đầu từ lúc trời vừa hửng sáng. Sau khi được phát cơm và canh, các tù nhân được điểm danh, chia thành từng nhóm, bước lên nhận cuốc, xẻng, điểm danh lần nữa, rồi tiến vào rừng. Nguyên tắc là công việc của ngày phải được hoàn thành, và không có nhóm nào được phép về trước. Tù nhân làm việc chân đất dưới ánh nắng mặt trời gay gắt từ 7h sáng đến 7-8h tối.
Cầu được xây toàn bằng sức lực con người. Tù nhân liên tục bị hành hạ và trừng phạt bởi những lỗi lầm nhỏ bé nhất, nhưng Toosey ra lệnh, rằng bất cứ hành động phi nhân tính nào của bọn lính gác, cũng cần phải được báo cáo lên ông ngay lập tức. Đến tháng 12/1942, chiếc cầu gỗ gần hoàn thành. Các tù nhân rất vui sướng khi thấy nước sông dâng lên cao bất ngờ và cuốn trôi chiếc cầu. Nhưng niềm vui ngắn ngủi tan biến ngay lập tức, bởi họ phải làm việc cực nhọc hơn để xây dựng lại nó, với chỉ tiêu hoàn thành là từ tháng 12 cho đến tháng 8. Toosey biết rằng, quân Nhật sẽ xây đường xe lửa bằng bất cứ giá nào vì vậy, ông nói với các tù nhân rằng, kỷ luật lao động là điều quan trọng.
Toosey từ chối học tiếng Nhật, để ông luôn luôn có thể nói câu: "Tôi không hiểu". Ông may mắn có được sĩ quan phụ tá David Boyle, có thể nói được tiếng Nhật bồi và làm phiên dịch cho ông cho đến hết cuộc chiến. Dần dần, quân Nhật cũng hiểu ra, rằng nếu như ông nói không, thì có nghĩa là ông sẽ khăng khăng như vậy cho đến khi chúng bắn chết ông thì thôi.
Chẳng bao lâu, ông đã thuyết phục được chúng bàn giao lại cho ông những vấn đề về xử lý công cụ và phân công lao động. Các sĩ quan phụ trách công việc được giao nhiệm vụ làm giám sát công trình thay cho bọn lính canh. Và nếu như các kỹ sư Nhật bàn giao mục tiêu của ngày hôm sau cho ông, thì ông sẽ cùng mọi người nghĩ ra cách nào tốt nhất để hoàn thành công việc vào đầu giờ chiều, khiến nhiều tuần trôi qua, mà không có ai bị đánh đập cả.
Vệ sinh là nỗi ám ảnh của Toosey, vì rất nhiều căn bệnh của khí hậu nhiệt đới đi kèm với ruồi. Ông thường xuyên kiểm tra lều chòi, nhà bếp, bắt tù nhân phải cạo râu, cắt tóc, vì đấy là nơi trú ẩn của chấy rận. Những nỗ lực của ông đã được đền bù. Chỉ có 9 người chết trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 5.
Những phần cơm canh nghèo nàn được bổ sung bằng trứng, thịt, trái cây, bắp mua được từ các dân buôn địa phương, mỗi khi các nhóm làm việc được ra ngoài. Toosey cương quyết với yêu cầu 1/3 số tiền được trả cho các sĩ quan, phải được dùng để mua thực phẩm và thuốc men cho người bệnh. Ông đã thuyết phục tên chỉ huy trại cho phép mở một trang trại nuôi vịt và heo, sau khi biết được có một sĩ quan từng là nông dân chăn nuôi gia cầm.
Đích thân ông còn là người bắt mối liên lạc đầu tiên với một tổ chức bí mật, để cung cấp thuốc men và tiền bạc cho nhiều trại giam, cứu thoát mạng sống của hàng trăm người. Toosey rời trại giam Tamarkan vào năm 1943 và nó trở thành nhà tù nhốt các phạm nhân về sau này. Cuối cùng, các cây cầu đã bị phá hủy, không phải do lính biệt kích như trong phim mô tả, nhưng là do quân Anh, Mỹ ném bom. Đại tá Toosey được công nhận là người anh hùng, theo tiêu chí mà con người của thế giới ngày nay có thể làm được. Đó là hiểu biết những điều kiện cần thiết của hoàn cảnh để tồn tại! (Thuý Hân, theo Reader's Digest)
Đại tá Philip Toosey đã công khai phục vụ chu đáo, giúp đỡ, chăm lo các bạn tù, nhưng vẫn bị Hollywood bôi nhọ qua bộ phim Cầu Sông Kwai (1957) của đạo diễn David Lean, với tài tử Alec Guinness đóng vai Đại tá Nicholson, hợp tác với quân Nhật, đày đoạ đồng hương. Trong Tin Mừng thánh Luca Chúa nhật hôm nay, Đức Giêsu ghé thăm nhà chị em Mácta, Maria và Lazarô, được phục vụ qua cung cách khác nhau của hai chị em.
Cô Mácta một mình bận rộn bếp núc, lo phục vụ chiêu đãi Đức Giêsu và các môn đệ. Trong khi đó, cô em Maria phục vụ đón tiếp. Thấy cô em cứ mải trò chuyện, Mácta bất bình, thưa cùng Người: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay !” Cô đâu biết rằng Maria cũng đang hết sức bận rộn phục vụ Lời Chúa, quan trọng, cao quý và cấp bách vô cùng. Vậy để việc phục vụ đúng đắn, hiệu quả, hữu ích cho tha nhân và nhất là để làm sáng danh Thiên Chúa, thì phải cần thiết nhờ Chúa, với Chúa và trong Chúa.
Nhờ Chúa
Cần luôn biết ơn, cảm tạ, ca ngợi Chúa. Rồi chăm chú lắng nghe Lời Chúa, tìm hiểu Thánh Ý Chúa trong từng phút giây hiện tại, cùng chân thành tâm sự với Người. Dốc hết tâm can, niềm vui lẫn nỗi buồn, thành công hay thất bại, bối rối ứng xử, chọn lựa theo Chúa hay theo thế tục. Nguyện xin Người chỉ bảo, hướng dẫn đi trong ánh sáng đường ngay nẻo chính, trong chân lý và sự thật. Đó chính là cầu nguyện, một bí quyết quan trọng, thiết yếu của người môn đệ, thực sự muốn phục vụ Chúa và tha nhân.
Khi được hỏi về bí quyết để can đảm dấn thân, tích cực phục vụ những người hấp hối, bệnh hoạn, phong hủi, Mẹ Têrêsa chỉ vắn tắt, đơn sơ trả lời: “Bí quyết của tôi rất đơn giản: cầu nguyện.”
Mẹ Têrêsa luôn cầu nguyện trước khi bắt tay phục vụ. Mỗi ngày nhà dòng Mẹ dành nguyên một giờ chầu Mình Thánh Chúa trước khi săn sóc những người nghèo khổ, hoặc đi vào trong các “nhà hấp hối,” giúp những người sắp chết được an nghỉ trong Chúa. Cầu nguyện để đón nhận sức sống, lòng can đảm, hy sinh, nghị lực chịu đựng, để dấn thân phục vụ. Mẹ Têrêsa đã trở nên thân tộc của Đức Giêsu khi thực hiện lời dạy: “Mẹ tôi và anh em tôi chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8,21).
Với Chúa
Cùng với Chúa phục vụ quảng đại, cởi mở, thân thiết thắm tình huynh đệ, không phân biệt đối xử, chẳng kể giầu nghèo, sang hèn, thân hay sơ, thành viên hay cảm tình viên. Không cần biết đồng đạo hay khác đạo, chẳng quan tâm đồng bào hay ngoại kiều, chẳng hề chấp nhất phe ta hay phe địch.
Hơn nữa, cùng với Chúa đặc biệt quan tâm đến những thân phận thấp hèn, nghèo túng, cô quả, đau yếu, bênh hoạn, sống bên lề xã hội. “Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu!... Vì Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi." (Mt 9, 12-13)
Cụ thể hôm nay, Đức Giêsu ân cần an ủi, nhắc nhủ cô Mácta, khi thân thương hai lần xướng gọi tên cô: “Mác-ta! Mác-ta ơi ! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá!” Người mời gọi Mácta thoát ra khỏi thói đời, bận rộn, lo toan, quá quan tâm đến vật chất, đến lương thực mau hư nát, mà vô tình quên đi lương thực trường sinh là Lời Chúa, là Thánh Ý Chúa. “Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất, và sẽ không bị lấy đi”.
Ngài muốn giải phóng Mácta khỏi thói đố kỵ, ganh tương, so bì, hơn thiệt, tự tôn, tự đại khi phục vụ. Thường con người hay có khuynh hướng kiêu căng, vị kỷ, dẫu đang phục vụ, cũng muốn được phục vụ lại chính mình, muốn được nhìn nhận công nhận công trạng, cống hiến. Chứ không muốn âm thầm cho đi, lặng lẽ khiêm tốn phục vụ, vì lo áo gấm đi đêm, liệu có ai hay biết chăng. Vì thế, Đức Giêsu đã phải tha thiết cảnh báo: "Các con hãy cẩn thận, đừng phô trương công đức trước mặt người ta để thiên hạ trông thấy, bằng không các con mất công phúc nơi Cha các con là Ðấng ở trên trời…” (Mt 6, 1)
Trong Chúa
Phục vụ trong Chúa thì luôn sẵn sàng bỏ mình, vác thập giá mà theo Người. Ngay trong bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu đã quỳ xuống, cúi mình rửa chân cho 12 môn đệ, dẫu rằng Người biết các ông sẽ lìa bỏ Người chịu cô đơn chống chọi giữa bầy sói, thậm chí Người còn biết cả kẻ phản bội, chối Người và bán Người cho quân dữ. Nhưng Người vẫn không hề phân biệt đối xử, không giận dữ, cũng không hề chua chát than thở, hay trách móc, mà vẫn chu đáo, vui vẻ rửa chân cho tất cả. Một thái độ từ bỏ mình tuyệt đỉnh dành cho những ai muốn theo Người, noi theo đến muôn đời.
Hơn nữa, khi phục vụ mà chịu thử thách, chịu đau khổ, chịu hành hạ, xách nhiễu, thì càng được nhiều phúc lành, như đệ bát phúc xác nhận: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” (Mt 5, 11-12)
“Con phải hiện diện trên đường hy vọng để dâng hiến và mời gọi kẻ khác dâng hiến, đó là cách con phục vụ họ tốt đẹp hơn cả; con giúp họ nên giống hình ảnh Thiên Chúa trong Đức Kitô.” (Đường HY Vọng, số 611)
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con luôn kết hiệp với Lời Chúa, nguồn sống dồi dào sung mãn. Đồng thời xin cũng dạy chúng con luôn sống quảng đại, luôn biết cho đi, dấn thân phục vụ tha nhân, như Chúa luôn yêu thương trao ban. Nhất là xin dạy chúng con biết từ bỏ bản thân, để chấp nhận khổ giá khi theo Chúa.
Khấn xin Mẹ Maria an ủi, cầu bầu và dìu dắt chúng con luôn biết cân bằng đời sống cầu nguyện và đời sống phục vụ, để chúng con có thể kín múc nguồn lực dồi dào từ Đức Giêsu Kitô, cung ứng dư đầy cho các hoạt động phục vụ Nước Chúa. Amen.
AM. Trần Bình An
Chia sẻ Tin Mừng CN 16 TN NC (Lc 10, 38 – 42)
Cầu nguyện & Phục vụ
Có những lúc quá đau, quá mệt không đọc được một kinh, Tôi nhớ lại chuyện ông già Jim. Cứ mỗi ngày lúc 12 giờ trưa ông ta vào nhà thờ không quá hai phút. Ông từ (giữ nhà thờ) rất thắc mắc theo dõi, rồi một hôm chận ông Jim lại và hỏi:
- Tại sao bác vào đây mỗi ngày?
- Tôi đến cầu nguyện.
- Không thể được! Kinh gì trong hai phút?
- Tôi vừa già, vừa dốt, đọc kinh theo kiểu của tôi.
- Ông nói gì với Chúa?
- Tôi cầu nguyện: "Giêsu, có Jim đây!" rồi tôi về.
Thời gian trôi qua. Jim già yếu, bệnh tật, phải vào bệnh viện, nơi khu vực người già. Sau đó Jim yếu liệt, chuẩn bị đi xa. Linh mục tuyên úy và nữ tu y tá đến bên giường Jim:
- Jim ơi, hãy nói cho chúng tôi biết, tại sao từ ngày ông vào khu vực này, có nhiều điều thay đổi, bệnh nhân vui vẻ hơn, chấp nhận thuốc thang, sống có tình nghĩa hơn?
- Chả biết!... Lúc còn sức tôi đi quanh thăm mọi người, chào hỏi, chuyện trò một chốc; lúc sau liệt giường tôi gọi tên họ, thăm hỏi, làm cho họ cười. Với Jim ai cũng vui.
- Thế tại sao Jim vui, Jim hạnh phúc?
- Khi nào cha và sơ được người ta đến thăm mỗi ngày có vui không?
- Vui chứ! Nhưng có thấy ai thăm Jim đâu?
- Lúc mới vào, tôi có xin hai chiếc ghế, một dành riêng cho cha và sơ, một cho khách quí của tôi, thấy không?
- Khách của ông là ai?
- Là Chúa Giêsu. Trước kia tôi đến thăm Ngài ban trưa, nay đi hết nổi, cứ 12 giờ trưa Ngài đến thăm tôi.
- Ngài nói gì với Jim?
- Ngài bảo: Jim, có Giêsu đây!...
Trước lúc Jim chết, người ta thấy Jim đưa tay chỉ chiếc ghế như thể muốn mời ai ngồi, Jim mỉm cười, nhắm mắt ra đi. Những lúc tôi không còn sức để đọc nổi dù một kinh, tôi lặp đi lặp lại: "Giêsu, có con đây", tôi cảm thấy như Chúa Giêsu trả lời: "Thuận ơi, có Giêsu đây!" Tôi vui vẻ và bình an.
Các bạn hỏi tôi: "Cha thích đọc kinh nào?" Dĩ nhiên là tôi thích những kinh của Chúa Giêsu dạy, của Hội thánh: kinh Lạy Cha, kinh Kính mừng, kinh Tin kính.. Tôi thích dùng lời Thánh kinh, lời Chúa để cầu nguyện, khi đọc lên những Thánh vịnh, tôi sung sướng vì biết rằng đây là những kinh chính Chúa Giêsu và Mẹ Maria đã đọc.. (ÐHY Fx Nguyễn Văn Thuận, 5 Chiếc Bánh Và 2 Con Cá)
Trích thuật Tin Mừng Thánh Luca hôm nay thật vắn gọn, tường trình tiếp tục cuộc lữ hành đến Giêrusalem. Nhân cuộc đón tiếp chiêu đãi của chị em Marta và Maria, Chúa Giêsu đề cập đến việc cầu nguyện và phục vụ.
Khiêm tốn phục vụ
Chúa Giêsu luôn đề cao việc phục vụ, cũng như luôn xác nhận sứ vụ cao cả của Người: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người." (Mc 10, 45)
Cô Marta cũng thật hăng say phục vụ đón tiếp Chúa Giêsu và các môn đệ của Người. Lo lắng làm sao chiêu đãi chu đáo cho trên chục thực khách thật không mấy dễ dàng. Có lẽ cô sợ thất thố, thiếu sót, nên mới cầu cứu Người, cho cô em Maria phụ giúp.
"Lạy Thầy, em con để con một mình phục vụ, mà Thầy không quan tâm sao? Xin Thầy bảo em con giúp con với."
Tuy nhiên, trong lời kêu cứu có chút đố kỵ, so bì, thầm trách cô em Maria sao vô tình, thiếu trách nhiệm. Đồng thời cô lấy làm phiền thấy Đức Giêsu có vẻ thiếu quan tâm đến phận mình bận rộn, vất vả.
Nhiều khi hăng say phục vụ cộng đoàn, chúng ta dễ rơi vào ngộ nhận, coi đó là việc của mình, của nhóm mình, của phe mình, nên ai không ủng hộ, không tiếp tay, không hưởng ứng vì bất cứ lý do gì, đều bị coi là những lực cản, thách đố, thù địch, hoặc chống báng. Vô tình, chúng ta biến việc chung thành việc riêng, biến việc phục vụ tha nhân, cộng đoàn thành phục vụ cho danh giá, mưu lợi cho cá nhân hay phe nhóm riêng.
Thay vì phục vụ, lại hóa ra muốn được phục vụ. Muốn thiên hạ khen ngợi, ca tụng, ghi công mình, nhớ ơn mình. Hơn nữa, còn kiêu căng muốn được các đấng đóng ấn công nhận. Nếu vậy, thì còn ích lợi chi? Chỉ “như bọn giả hình làm ở nơi hội đường và phố xá, để cho người ta ca tụng họ. Quả thật, Ta bảo các ngươi, họ đã được thưởng rồi.”(Mt, 6, 2)
Hy sinh phục vụ
Với trọn vẹn con tim xả kỷ vị tha, hy sinh quên mình vì tha nhân, tràn đầy tâm tình yêu thương, phục vụ mới có ý nghĩa và chánh đáng theo như lời dạy của Đức Kitô. Phục vụ theo con tim nhạy cảm mới thực sự hữu ích cho tha nhân, mới có thể lắng nghe, mới thấu hiểu, mới đáp ứng nhu cầu cụ thể của tha nhân. Phục vụ theo con tim toàn hiến, con tim Vacare Deo, dốc lòng từ bỏ những gì là nhân khí, tà khí để trọng kính đón mời Thần Khí Thiên Chúa ngự vào tâm hồn, mới có thể đi gieo Tin Mừng đến mọi người, mọi nơi và mọi lúc. Nếu không hy sinh vì đức ái, thì phục vụ mất hết ý nghĩa và lợi ích, trở nên màn kịch vụng về, che đậy những tham vọng tiến thân.
“Con nghĩ rằng con không có gì để hy sinh cho Chúa, nhưng Chúa thấy con bỏ quá nhiều dịp: Tươi cười với một người nói móc họng con; thinh lặng trước một vụ vu cáo bất công; yêu thương một người bạn phản bội; không nói một lời hóc búa trả đũa. Mọi giây phút đếu có dịp hy sinh.” (Đường Hy Vọng, số 153)
Chẳng phải cứ làm những việc to tát, những chương trình, dự án quy mô, lớp lang, bài bản mới là phục vụ tha nhân. Nhưng với điều kiện hoàn cảnh cụ thể, tuy nhỏ bé, tầm thường, với bác ái bị tha, vẫn là phục vụ thật hữu hiệu, như cụ già Jim. “Lúc còn sức tôi đi quanh thăm mọi người, chào hỏi, chuyện trò một chốc; lúc sau liệt giường tôi gọi tên họ, thăm hỏi, làm cho họ cười. Với Jim ai cũng vui.
Cầu nguyện & Phục vụ
Dù phục vụ là hiện thực hóa tình yêu tha nhân, nhưng thiếu kết hợp với cẩu nguyện, thiếu hiệp thông với Lời Chúa và Thánh Thể, thì phục vụ chỉ mới là việc bác ái, từ thiện đơn thuần, hoặc tấm lòng trắc ẩn giúp đỡ tha nhân phù phiếm nhất thời, tùy theo cảm hứng vui buồn.
Mẹ Têrêsa Calcutta mỗi sáng, đều dành ra một giờ Chầu Thánh Thể để nuôi dưỡng tâm linh bằng tình yêu, sức mạnh, lòng can đảm và nhiệt huyết tông đồ, hầu có thể bắt đầu ngày phục vụ những kẻ hấp hối, bệnh hoạn, những người bị bỏ rơi, sống bên lề xã hội.
Nhiều người quá hăng say phục vụ, không còn thì giờ kinh nguyện, lễ lạc, dần lung lạc Tin Cậy Mến, rồi xa Chúa hồi nào chẳng hay. Đừng viện cớ ít học, ít hiểu biết mà không chịu cầu nguyện. Bởi vì Đức Giêsu luôn quan tâm sâu sắc đến những tâm hồn đơn sơ, chân thành và cởi mở. Cụ Jim cầu nguyện là đến thăm Chúa Thánh Thể chỉ trong hai phút ban trưa mỗi ngày. “Tôi cầu nguyện: "Giêsu, có Jim đây!" rồi tôi về.” Dĩ nhiên, nếu còn biết cảm tạ, ngợi khen và tâm sự với Chúa thì càng tuyệt vời hơn nữa.
Mệt mỏi vì công việc nặng nề và khó khăn, chán chường tình đời đen bạc, buồn vì tình phụ, đau khổ vì bị vu oan giá họa, tức giận vì bị đố kỵ, ganh ghét,…sao không đến thố lộ với Chúa Giêsu Thánh Thể, đang vò võ cô đơn, chờ đợi những tâm hồn tan nát tìm đến. Người sẽ vỗ về an ủi, giúp đỡ can thiệp. Hãy thử một lần, xem bạn có toại nguyện không.
Noi gương các môn đệ hớn hở phục vụ trở về, liền tâm tình ngay với Chúa Giêsu thành quả, lẫn thất bại khi đi gieo hạt giống Tin Mừng, bạn sẽ mau chóng phục sức, mau chóng tìm lại bình an và hạnh phúc sau khi vất vả phục vụ.
Thánh Bênađô Viện phụ (1090-1153) vào dòng Xitô lúc 22 tuổi, và qua đời lúc 63 tuổi. Trong thời gian 41 năm tu trì, ngài đã viết khoảng 15 cuốn sách về thần học, giảng hàng ngàn bài, đọc cho thư ký chép hàng ngàn lá thư, bận rộn đến nỗi không có thời giờ để đọc lại. Ngài theo dõi chi tiết mọi thời sự, rất nhiều người đến thảo luận và xin ngài nâng đỡ tinh thần, chăm sóc cho các thầy ở tu viện dòng Xitô ở Thung Lũng Sáng, giám sát việc lập khoảng 100 dòng mới từ nước Anh đến Sicile, và gần như điều khiển mọi công việc trong Giáo hội.
Ngài hoạt động lạ lùng, không mệt mỏi, đi hàng vạn cây số. Nhưng không phải vì thế mà ngài lơ là với việc cầu nguyện. Người ta cho rằng khi đi đường, ngài chiêm niệm và cầm trí đến nỗi người ta thấy ngài không quan tâm đến con ngựa ngài đang đi là loại ngựa rất sang. Thánh Bênađô là người không ưa thích sự xa hoa phù phiếm, ngài đã nhiều lần lên tiếng phê bình các viện phụ Biển Đức về sự xa xỉ trong đồ dùng, phương tiện, nhà cửa… Nhưng người ta ngạc nhiên nhất về con ngựa sang trọng đang cưỡi của ngài, vì ngài đâu có thời giờ để ý các chi tiết nơi con ngựa. (Luy Gonzaga Maria, CMC, 101 Giai thoại các Thánh)
“Thứ nhất cầu nguyện, thứ hai hy sinh, thứ ba mới đến hoạt động,” (Đường Hy Vọng, số 119)
Lạy Chúa Giêsu, Người đã phán với Marta: “Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất". Xin luôn nhắc nhủ chúng con luôn gần gũi với Người, qua những lời cầu nguyện, Lời Chúa và Thánh Thể, để lãnh nhận được những hồng ân, dưỡng nuôi chúng con trong đời phục vụ.
Lạy Mẹ Maria, xưa kia Mẹ luôn cùng các Tông Đồ tha thiết cầu nguyện. Xin dạy cho chúng con luôn kết hợp cầu nguyện với phục vụ, hầu vũng mạnh trên đường hy vọng. Amen....
AM Trần Bình An
August 23, 2016
AM Trần Bình An - dongcong.net