Thánh
giá của Thánh Tâm
Ảnh
tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu đang được nhiều người, nhiều nơi
mộ mến. Yếu tố thu hút chính là sự đề cao một trái tim có lửa
bốc cháy, trên cắm một cây thánh giá nhỏ. Đây là một biểu tượng
đẹp mang ý nghĩa Thánh Kinh. Trái tim đó là một nhắc nhở về
tình yêu Thiên Chúa, một “Thiên Chúa
là Tình Yêu” (1 Ga 4,8; 4,16).
Lửa
đó là biểu tượng lửa tình yêu cứu độ, mà Thiên Chúa muốn đốt
lên trong mọi tâm hồn, như Đức Kitô đã tỏ ý. “Ta
đem lửa từ trời xuống thế gian, và Ta khắc khoải chỉ mong cho
lửa ấy cháy rộng ra” (Lc 12,49).
Thánh
giá đó là dấu chỉ hy sinh. Mọc lên từ trái tim bốc cháy, thánh
giá ấy được coi như một lời công bố của tình yêu Thiên Chúa
nơi Đức Kitô. Ngài yêu thương, nên đã chấp nhận hy sinh đến
cực độ (x. Ga 13,1). Chúng ta dừng lại ở đây để suy gẫm.
Đức
Kitô đã hy sinh cho ai?
Thưa
cho chúng ta. “Cho chúng ta”
là cụm từ đã trở thành điểm thần học, mà tín lý và tu đức đang
đào sâu. Các tông đồ đã diễn tả ý “cho
chúng ta” bằng nhiều cách khác nhau.
Thánh
Maccô ghi: “Cho nhiều người”
(Mc 14,24).
Thánh
Luca ghi: “Cho anh chị em”
(Lc 22,19).
Thánh
Gioan ghi: “Cho toàn dân”
(Ga 11,50).
Thánh
Phaolô ghi: “Cho tất cả mọi người”
(Rm 8,32). “Cho tôi” (Gl
2,20). “Cho Hội Thánh”
(Ep 5,25). “Cho cả nhân loại”
(Dt 2,9).
Dù
với cách diễn tả nào, Thánh Kinh cho thấy hy sinh của Đức Kitô
là rất vị tha cao cả. Hy sinh ấy là vì tôi, vì bạn, vì mọi người
chúng ta. Hy sinh ấy được ban như quà tặng. Nó gây nên một liên
đới ân tình, một giao ước tình yêu. Nó khiến chúng ta phải cảm
phục, ca ngợi, tạ ơn. Nhất là khi chúng ta hiểu được hy sinh
của Đức Kitô.
Đức
Kitô đã hy sinh thế nào?
Chỉ
xin nhắc đến vài việc mà thôi. Hy sinh của Ngài là mang vào
mình trọn vẹn thân phận con người nghèo hèn. “Ngài
rất cao sang, thế mà Ngài đã tự ý sống nghèo túng vì anh chị
em” (2 Cr 8,9).
Hy
sinh của Ngài là tự ý vác lấy gánh nặng như người đầy tớ thay
cho chúng ta. “Chính các khổ nhục
Ngài đã vác, chính các đau đớn Ngài đã mang” (Í
53,4).
Hy
sinh của Ngài là đón nhận sự chúc dữ thay cho chúng ta. “Chúa
Giêsu đã cứu chúng ta khỏi sự chúc dữ của lề luật, khi Ngài
chịu chúc dữ vì chúng ta” (Gl 3,13).
Hy
sinh của Ngài là cảm nghiệm sâu sắc cảnh bị cô đơn, cảnh bị
loại trừ. “Lạy Cha sao Cha nỡ bỏ con”
(Mt 27,46).
Hy
sinh của Ngài là vâng phục thánh ý Cha trao phó Ngài cho thế
gian tội lỗi. “Thiên Chúa đã yêu
thương thế gian, đến nỗi đã trao phó Con Một mình cho thế gian”
(Ga 3,16). “Thiên Chúa đã yêu thương
chúng ta cách đặc biệt, khi chúng ta còn sống trong tội lỗi”
(Rm 5,8).
Hy
sinh của Ngài là tự hiến mạng sống mình vì chúng ta.
“Ta hy sinh mạng sống vì các chiên của Ta” (Ga 10,15).
Hy
sinh của Ngài là chấp nhận trở thành kẻ bị chống đối, khi Ngài
phấn đấu để làm nhẹ đi sự hà khắc của các luật đạo đời lúc ấy
(x. Lc 2,33).
Sẽ
là quá dài và như vô tận, nếu phải kể hết các hy sinh mà Đức
Kitô đã chịu vì chúng ta. Sự thực đó khiến chúng ta càng phải
tìm hiểu Ngài hơn. Chỉ như vậy, “Chúng
ta mới có thể hiểu lòng yêu thương của Chúa rộng, dài, cao,
sâu đến mức nào, và nhận ra lòng yêu thương của Chúa Gieấu vượt
quá trí loài người” (Ep 3,18-19). Tình yêu chấp
nhận bao hy sinh như thế nhắm đến mục đích là làm cho chúng
ta được hạnh phúc.
Hy
sinh của Đức Kitô đưa chúng ta đến hạnh phúc nào?
Thưa
hạnh phúc vì được cứu chuộc khỏi ách ma quỷ, bằng một giá rất
cao là chính mạng sống và máu Đức Kitô.
Để
hiểu điều đó, chúng ta nên đọc lại những lời Kinh Thánh sau
đây: “Ai phạm tội thì thuộc về ma
quỷ” (1Ga 3,8). “Anh chị
em được cứu chuộc bằng một giá rất cao” (1 Cr 6,20;
7,23). “Con Người đến không phải để
được hầu hạ, nhưng để hầu hạ và hiến mạng sống mình hầu cứu
chuộc muôn dân” (Mt 20,28). “Đức
Kitô đã vào nơi Cực Thánh một lần thay cho tất cả mọi lần, không
mang theo máu dê bò, nhưng mang theo chính máu mình, sau khi
đã lập công cứu chuộc đời đời cho chúng ta” (Dt
9,12).
Hạnh
phúc vì được giải thoát khỏi các quyền lực tối tăm: của tội
lỗi, của thế gian, của ma quỷ. Bởi vì “Ai
phạm tội thì làm nô lệ tội lỗi” (Ga 8,34). “Anh
chị em đã chết với Đức Kitô để thoát khỏi thói tục thế gian
này” (Cl 2,20). “Thiên
Chúa đã giải thoát chúng ta khỏi uy quyền của tối tăm” (Cl
1,13).
Hạnh
phúc vì được giao hoà với Thiên Chúa. “Mọi
ơn đều bởi Thiên Chúa ban, Đấng đã dùng Đức Kitô để hoà giải
với chúng ta” (2Cr 5,18).
Hạnh
phúc vì được công chính hoá nhờ sự được gia nhập vào sự sống
Chúa Ba Ngôi, được gọi Thiên Chúa là Cha (x. Ga 4,16; Gl 4,5),
được chia sẻ sự tự do của Chúa Thánh Linh (Gl 5,13), được dự
phần vào ơn nghĩa tử của Đức Kitô (x. Ep 1,4-5; 1Cr 12; Ep 4).
Đức
Kitô muốn các môn đệ bắt chước Ngài.
Những
điều trên đây là những sự thực. Đừng đọc những sự thực đó trên
giấy. Nhưng hãy đọc nó nơi chính Đức Kitô. Nhìn ngắm, suy gẫm
những sự thực ấy nơi Đức Kitô, rồi sẽ thấy tình yêu và hy sinh
quan trọng thế nào trong việc sống đạo, trong mục vụ, trong
truyền giáo.
Chúa
Giêsu lấy tay chỉ vào trái tim Ngài bốc cháy, trên mang thánh
giá, như giới thiệu thực chất của Ngài: Ngài là Tình Yêu hy
sinh cho mọi người. Tay Ngài không chỉ lên đầu Ngài để nói:
Ta là lý trí, Ta là lề luật. Mặc dầu Ngài vẫn trọng lý trí và
lề luật, Ngài muốn nhấn mạnh đến tình yêu hy sinh.
Môn
đệ Đức Kitô cũng sẽ phải như thế. Đặc điểm của họ là tình yêu
thương: “Người ta cứ dấu này mà nhận
biết các con là môn đệ của Ta, là chúng con thương yêu nhau”
(Ga 13,15).
Đặc
điểm của họ còn là biết hy sinh, biết từ bỏ mình. “Ai
muốn là môn đệ Ta, hãy từ bỏ mình” (Mt 16,24).
Thời
nào cũng sống được hai đặc điểm đó một cách sâu sắc. Thiết tưởng,
trong tình hình hiện nay mà phong trào tục hoá, cá nhân hoá
và cạnh tranh hưởng thụ đang phát triển mạnh, người môn đệ Đức
Kitô sẽ chỉ có thể làm chứng cho Đức Kitô một cách xứng đáng,
nếu có hai đặc điểm đó với mức độ cao, nhất là trong cuộc sống
phục vụ con người. Phục vụ với hai đặc điểm đó, họ sẽ giúp bảo
tồn và phát triển chiều kích tâm linh nơi đồng bào Việt Nam,
tránh cho đất nước nguy cơ xuống dốc về đạo đức.
Nếu
tôi có mọi sự, làm đủ mọi việc, cho dù đạo đức, nhưng thiếu
một trái tim bốc lửa mến Chúa yêu người mọc lên thánh giá hy
sinh, thì tôi nên tự coi mình là vô hiệu, vô dụng, vô ích.
Và
cho dù tôi có lửa mến và có hy sinh này nọ, nhưng nếu thiếu
sự khiêm nhường và hiền lành của trái tim Chúa Giêsu, phải chiếu
tình yêu hy sinh cứu độ, tôi cũng phải tự coi mình là còn rất
xa mô hình đạo đức Phúc Âm.
Cuộc
sống là một chuyến đi. Phải bước đi mãi bằng những tập luyện,
đào tạo, giáo dục chính mình. Nhìn vào trái tim Chúa như mô
hình, cậy tin vào trái tim Chúa như sức mạnh, gắn bó với trái
tim Chúa như hạnh phúc, đón nhận tình yêu hy sinh nơi trái tim
Chúa như suối nguồn.
Sống
tình yêu hy sinh của Đức Kitô, các môn đệ Ngài có thể bị coi
như mềm yếu. Nhưng “chính khi yếu
lại là lúc mạnh” (2 Cr 12,10)... Bởi vì kẻ thực
thi ý Chúa sẽ tìm được sức mạnh tuyệt vời nơi chính Chúa. Và
như thế, họ sẽ góp phần không nhỏ vào việc đổi mới Giáo Hội
và xã hội.
NHỮNG
ƠN CẦN NƠI NGƯỜI MỤC TỬ
Khi
sống, nhất là khi chết, các giám mục linh mục tại Việt Nam thường
được đánh giá theo mô hình “Người
mục tử tốt lành”. Đối với phần đông, mô hình này
được hiểu một cách đơn sơ, với một cái khung lúc rộng lúc hẹp,
tuỳ cách nhìn vốn đã quen. Từ đó các cộng đoàn thường tỏ bày
mong ước có được những chủ chiên tốt lành.
Nói
chung, những cách nhìn đó và những ước mong đó là tốt. Tuy nhiên,
đã đến thời điểm chúng ta cần mở rộng cái nhìn và ước mong hướng
về những vị có trách nhiệm đứng đầu các cộng đoàn tín hữu tại
Việt Nam hôm nay. Nói thế là ưu tiên để nhắc nhở cho chính chúng
ta.
Điều
tôi vừa gợi ý đã dựa trên quan điểm của thánh Phaolô trong thư
gửi Êphêsô 4,11 và mới được Đức Hồng y Carlo Martini nhắc tới
trong cuốn “Apôte, prọet de vie ou
mandat?” (Ed. Saint Augustin, 1995).
Thánh
Phaolô viết: “Chính Chúa đã chọn,
người thì làm tông đồ, người thì làm tiên tri, người thì làm
kẻ truyền giáo, người thì làm chủ chiên, người thì làm tiến
sĩ giảng dạy” (Ep 4,11).
Đoạn
thư trên đây cho thấy trong Hội Thánh có năm chức vụ quan trọng:
Những
chức năng trên đây không loại trừ nhau, nhưng bổ túc cho nhau.
Đó là những ơn Chúa ban. Người được ơn này. Người được ơn nọ.
Riêng giám mục linh mục, tuy cốt yếu là tông đồ và chủ chiên,
nhưng sẽ phục vụ Hội Thánh đắc lực hơn, nếu cũng có được phần
nào ba ơn nói trên.
Cho
đến nay, chúng ta thường quan trọng hoá nơi giám mục linh mục
tài khéo quy tụ và nuôi dưỡng cộng đoàn. Thực sự những việc
đó vẫn luôn luôn quan trọng. Nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy
việc quy tụ và nuôi dưỡng cộng đoàn chỉ được thành công, khi
người tông đồ chủ chăn cũng có phần nào ơn tiên tri, ơn truyền
giáo và ơn tiến sĩ.
Bởi
vì thời nay, theo kiểu nói của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II,
phúc âm hoá phải là tân phúc âm hoá. Tân phúc âm hoá đòi hỏi
phải nhìn xa nhìn sâu tìm kiếm những con đường mới. Thí dụ thời
xưa thánh lễ, giáo lý và luật lệ được coi là có sức hấp dẫn
để quy tụ, nhưng nay không còn như thế nữa. Trước đây chức thánh
được coi là thứ uy tín đủ sức hướng dẫn cộng đoàn, nhưng bây
giờ và sau này nguyên chức thánh mà thôi sẽ không đủ gây uy
tín.
Khi
khiêm tốn nhìn nhận khoảng cách sâu xa giữa mô hình người tông
đồ chủ chăn lý tưởng trong thời buổi này và thực tế bản thân,
chúng ta sẽ thấy vấn đề cần đặt ra cho chúng ta là: Phải làm
thế nào để có được những ơn cần thiết cho việc tân phúc âm hoá.
Theo tôi, việc tân phúc âm hoá cần đến cả năm ơn nói trên.
Muốn
được thế, phải khởi đầu bằng sự ý thức mình là kẻ được sai đi.
Thiết tưởng, điều sau cùng định đoạt việc phục vụ của chúng
ta, không phải là khả năng chúng ta làm được việc gì, hoặc sự
chúng ta biết làm việc nọ hơn việc kia, mà là sự chúng ta biết
đáp ứng những gì Chúa đòi hỏi chúng ta làm, vì lợi ích của các
người Chúa trao phó cho chúng ta.
Khi
qua Bề trên, Thánh Thần Đức Kitô sai chúng ta đến một địa điểm
nhất định, vào một thời điểm nhất định, với những hoàn cảnh
lịch sử cụ thể, thì chúng ta hãy nhớ mình là những người đầy
tớ của Đức Kitô được Thánh Thần sai đi. Vì thế, tất cả mọi ơn
cần thiết đều phải đón nhận từ Chúa Thánh Thần.
Phải
biết đón nhận, cho dù phải từ bỏ ý riêng mình và những gì mình
tưởng là ổn định và thượng sách.
Tôi
nhớ lại lời Chúa Gieấu đã nói với thánh Phêrô:
“Người khác sẽ thắt lưng cho con, và dẫn con đến nơi mà con
không muốn” (Ga 21,18). Kinh nghiệm bản thân cho
tôi thấy, chính những trường hợp như vậy, với ý thức mình được
sai đi, chứ hoàn toàn không do ý mình muốn, nếu chúng ta tuyệt
đối cậy trông nơi Chúa, hết tình cầu xin với Chúa, và chịu khó
học hỏi, tỉnh thức lắng nghe và khôn ngoan phân định, chúng
ta sẽ được đủ các ơn cần thiết Chúa ban cho.
Thiết
tưởng sẽ không phải là thừa, nếu tôi nhắc lại ở đây ơn tiên
tri, ơn truyền giáo, ơn tiến sĩ và phần nào ơn tông đồ và mục
tử nơi hai vị nữ tu nổi tiếng được nói đến nhiều trong mấy tháng
nay. Nữ tu Têrêsa thành Lisieur đề cao chân lý “Thiên
Chúa là tình yêu”. Nữ tu Têrêsa thành Calcutta sáng
ngời về ơn gọi thừa sai bác ái phục vụ người nghèo. Với hướng
sống đạo chiêm niệm và hoạt động như thế, hai nữ tu trước hết
đã thực hiện chức năng tiên tri, ở chỗ công bố một Lời Chúa
rất thích hợp, đúng nhu cầu của thời nay. Rồi hai nữ tu đã thực
hiện chức năng truyền giáo ở chỗ đã loan báo Tin Mừng cho những
người xa Hội Thánh bằng những gì họ dễ hiểu nhất và có sức thuyết
phục nhất. Thêm vào đó, hai nữ tu đã thực hiện chức năng tiến
sĩ, ở chỗ đã giúp cho chúng ta dùng con đường tình yêu để đi
vào văn hoá, xây dựng một nền văn minh của tình yêu. Sau cùng
hai nữ tu cũng đã phần nào thực hiện ơn tông đồ và ơn mục tử
ở chỗ đã dùng con đường tình yêu mà cộng tác vào việc quy tụ
và chăm sóc cộng đoàn.
Nhìn
chung, chúng ta có thể nhận ra ơn nổi nhất nơi hai nữ tu thánh
thiện của chúng ta chính là ơn tiên tri. Nhờ ơn tiên tri này,
hai nữ tu, trước nhiều con đường tốt, đã biết chọn con đường
tốt hơn, đúng với ý Chúa, thích hợp với hướng đi của thời đại.
Với ơn tiên tri, hai nữ tu cảnh báo chúng ta hãy tránh những
lựa chọn không thích hợp có thể trở nên phản chứng, hoặc làm
cho trái tim mình trở thành cằn cỗi, xơ cứng, chai lỳ.
Hiện
nay, Chúa cũng đang làm những sự lạ lùng với những ơn kể trên
nơi nhiều người không phải là giáo phẩm giáo sĩ. Riêng chúng
ta, khi chúng ta tìm sức mạnh từ sự vâng phục Đấng sai chúng
ta đi, chúng ta sẽ có đủ năm ơn nói trên, với mức độ cần thiết
tuỳ theo chức vụ Chúa trao cho mỗi người.
Năm
ơn nói trên, trước khi đi vào những điều cao siêu, sẽ được tỏ
hiện ngay trong nhân bản, nhân cách, nhân phẩm. Thông thường,
bầu khí nội tâm của người có năm ơn trên toát ra từ những việc
rất thường. Vẻ đẹp của những ơn thiêng đó toả sáng ngay trong
đời thường.
Rất
nhiều khi, một cách nói năng biết khéo tự chọn và tự chế, một
thói quen ăn uống biết luôn tự trọng và kính trọng người khác,
một nếp suy nghĩ biết thường xuyên tự tìm tòi và luôn tỉnh thức
trước những tiêu chuẩn về sự thực, đó cũng là những cuộc đối
thoại âm thầm với bao người về Nước Trời. Chính vì thế, để đón
nhận và cho đi các ơn thiêng liêng, chúng ta cần rà soát lại
các chi tiết đời thường của chúng ta.
Mới
rồi, khi theo dõi diễn tiến Đại hội cấp cao các nước sử dụng
tiếng Pháp tại thủ đô Hà Nội, hàng triệu người, kể cả chúng
ta, đã có ấn tượng về từng nhân vật, qua tư tưởng và phong cách
của họ. Thiết tưởng, ít là bước đầu, người ta cũng đánh giá
chúng ta và những người đứng đầu các cộng đoàn Hội Thánh một
cách tương tự như thế. Và đó chính là một cảnh báo, để chúng
ta xét mình xem, phong cách và tư tưởng của chúng ta thường
xuyên có đáng được trân trọng, do phản ánh các ơn : tông đồ,
tiên tri, truyền giáo, mục tử và tiến sĩ không?