VIẾT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chiều ngày 16/11/2007 vừa qua, Quốc Hội Việt Nam đã có một phiên họp hào hứng.
Bởi vì vấn đề đặt ra, để chất vấn và trả lời, là Giáo Dục
và Đào Tạo.
Nhiều người đã theo dõi phiên họp qua truyền hình trực tiếp. Họ đã được chứng
kiến một bầu khí trí thức, bàn về một vấn đề trí thức, đạo
đức và thời sự. Sôi nổi, nhưng vấn đề không thể kết thúc trong
thời gian vài giờ và trong không gian toà nhà Quốc hội.
Giữa
cõi mênh mông của vấn đề, tôi để ý đến một điểm nhỏ đã được
nêu lên, đó là luận án tiến sĩ.
Góp
phần hôm nay của tôi vào điểm nhỏ đó, sẽ là nói lên kinh nghiệm
về việc viết luận án
tiến sĩ
ở một Đại học Âu châu.
Kinh
nghiệm đó đòi hỏi người viết luận án phải có:
-
Kiến thức nền tương đối vững,
- Kiến thức mở tương đối rộng,
- Kiến thức mới tương đối rõ.
Tôi
xin đưa ra một ví dụ cụ thể, đó là viết luận án tiến sĩ Triết
học.
1/
Kiến thức nền tương đối vững
Kiến
thức nền nói đây là kiến thức thường được đòi hỏi để qua cấp
cử nhân. Nền đó gồm:
a)
Kiến thức về hệ thống triết học gồm: Luận lý học, tâm lý
học, siêu hình học, luân lý học.
b) Kiến thức về lịch sử triết học
gồm: Lịch sử triết học cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại.
c)
Kiến thức về cách suy tư triết học: Học các môn triết không
phải chỉ là tiếp thu nội dung các môn
học thuộc ngành Triết, mà còn phải rút ra cách suy tư của
Triết. Đối với Triết, suy tư là một cách nhìn. Mắt nhìn một
vật là
nhìn nó với cái khác và trong cái khác. Thí dụ nhìn bàn tay
một người, thì phải nhìn nó với toàn cảnh người đó, và nhìn
người đó trong khung cảnh nhất định nào đó. Cũng vậy, suy
tư một vấn đề là trí khôn nhìn vấn đề đó dính vào các vấn
đề khác,
và trong những hoàn cảnh xung quanh nó. Luật nhìn phải chặt
chẽ.
d) Kiến thức về cách tìm sự thực: Sự thực
không đơn giản. Nó có nguồn. Nó có hành trình chuyển biến.
Phải biết thận trọng trước mọi khẳng định. Tôi có một kỷ
niệm không bao giờ quên. Đó là khi tôi trình bản thảo luận
án triết,
thầy giáo của tôi đã gọi tôi đến và chỉ cho thấy một lỗi
lầm đáng phải trừ điểm. Đó là tôi đã trích một đoạn văn từ
một
tác giả chính mình cũng đã trích từ một tài liệu trích đăng,
chứ không phải là bản chính. Thầy tôi bảo: Phải kiểm tra
từ nguồn, dù nguồn đó viết bằng tiếng Latinh hay Hy Lạp.
Bốn
chi tiết trên đây làm nên cách viết có khoa học trong một luận
án tiến sĩ triết.
Ngoài
kiến thức nền tương đối vững, người viết luận án còn cần kiến
thức mở tương đối rộng.
2/
Kiến thức mở tương đối rộng
Kiến
thức mở là kiến thức do đọc nhiều tác giả khác nhau về một
vấn đề.
Thầy
giáo của tôi đòi hỏi kiến thức học trò của ông phải mở. Ông
muốn biết những sách tôi đã đọc có
liên quan đến luận án. Liệt kê vài chục cuốn, ông vẫn cho
là chưa đủ. Tất nhiên phải biết vài sinh ngữ. Có lần ông gợi
ý
cho tôi phải tìm tài liệu ngoài thư viện Đại học và ngoài
nước. Tất nhiên tôi vâng, để kiến thức được mở rộng.
Càng
đọc các tài liệu tham khảo, tôi càng nhận ra sự chật hẹp của
kiến
thức mình. Càng đào sâu, càng
thấy mình nông. Càng học hỏi, càng thấy mình còn ngu dại.
Khi tôi tỏ bày khám phá đó với thầy tôi, ngài nói: Biết mình
còn
xa chân lý vẹn toàn, thì đó mới là cái khôn của triết, và
mới hăng say tiếp tục khiêm tốn lên đường. Triết là yêu mến
sự
khôn ngoan và không ngừng tìm nó.
Càng
đi tìm, càng thấy những cái mới.
3/
Kiến thức mới tương đối rõ
Khi
cọ sát với nhiều quan điểm khác nhau về một vấn đề, người suy
tư khát khao chân lý sẽ thấy
mình
có thể so sánh, để tự thấy mình không nên khép mình vào một
khuôn khổ lỗi thời nguy hại.
Nếu
mỗi tác giả có một rung động riêng, một cái nhìn riêng, một
khám phá riêng có giá trị
mới, thì
đó là dấu tốt, để việc phục vụ ích chung được phong phú.
Miễn là phục vụ trong khiêm tốn.
Nếu
suy nghĩ có tính cách độc lập, không bị chi phối bởi sức ép
dư luận, quyền lực, chỉ
do đòi hỏi của
chân lý, thì đó là dấu tốt báo hiệu cái mới trong sự trưởng
thành. Miễn là trưởng thành trong sự kính trọng lẫn nhau.
Tôi
thiết nghĩ: Sẽ là một lỗi lầm của người trí thức, nếu họ thiếu
khiêm tốn, tự trọng và thiếu kính
trọng người khác, nếu họ thiếu cố gắng lên đường tìm sự thực,
nếu họ thiếu phân định cái gì có giá trị thực nên làm, cái
gì nông nổi không nên làm, nhất là làm cho Quê Hương Đất
Nước.
Mỗi
điểm tới của suy tư sẽ chỉ là nơi tạm nghỉ ngơi, để rồi điểm
tới đó sẽ trở thành điểm xuất phát
mới. Đi mãi không ngừng, bởi vì tình hình luôn biến đổi,
với những hy vọng mới và những nguy cơ mới.
Hành
trình suy tư là một hành trình lâu dài. Hành trình đó được
thực hiện
bằng nhiều bước nhỏ.
Đối
với tôi, hành trình dài đó bao giờ cũng hướng về Thiên Chúa
là nguồn chân thiện mỹ.
Với
chia sẻ trên đây, tôi muốn tiếp tục những ưu tư trăn trở của
Quốc Hội trước vấn đề giáo dục
và
đào tạo nói chung, và trước vấn đề viết luận án tiến sĩ nói
riêng.
Long
Xuyên, ngày 18 tháng 11 năm 2007