LỜI
CỦA THIÊN CHÚA
“Thiên
Chúa đã nói với nhân loại qua Con của Người”
(Heb, 1,2). Con của Người là Ngôi Lời. Khi giáng trần, Ngôi
Lời được đặt tên là Giêsu Kitô. Tuy là Ngôi Lời, Đức Kitô tại
hang đá Bêlem đã không nói lời nào. Đúng hơn, Người đã nói,
nhưng không phải bằng lời, mà bằng chính bản thân mình. Trước
hết, Người nói bằng thân phận kẻ rốt hết.
THÂN
PHẬN KẺ RỐT HẾT
Thực
vậy, Người đã giáng sinh trong thân phận hài nhi cực kỳ khốn
khổ, nằm trong một máng cỏ rơm, đặt ở góc hang đá, giữa cánh
đồng, bên cạnh mấy con bò và chiên. Chỗ như thế phải kể là chỗ
rốt hết. Chính chỗ rốt hết này đã là nơi chọn lựa của Thiên
Chúa giáng trần.
Ở
đây, tính cách rốt hết không chỉ hệ tại chỗ đó thấp hèn, mà
còn ở tại sự khinh miệt người ta thường dành cho kẻ nào rơi
vào chỗ đó. Chỗ rốt hết dành cho Đức Kitô đã được tiên tri Đavid
loan báo từ lâu trước “Tôi chọn sự
khinh miệt trong nhà Chúa” (Cv. 83,11). “Tôi
là kẻ bị khinh miệt nhất trong toàn dân” (Cv. 21,7).
Từ
chỗ rốt hết tại Bêlem, Đức Kitô đã tiếp tục sống ơn gọi kẻ rốt
hết suốt cả cuộc đời. Thánh Phaolô đã diễn tả cuộc đời đó như
sau: “Đức Kitô, tuy mang ngôi vị của
Thiên Chúa, nhưng Người đã không nghĩ phải tranh giành cho mình
chức vị đồng hàng với Thiên Chúa. Song Người đã tự huỷ mình
ra không, là lãnh thân phận tôi đòi, trở thành giống hẳn người
ta, đem thân mặc thân phận người phàm. Người đã hạ mình thấp
hèn, trở thành vâng phục cho đến chết, và là cái chết trên thập
giá” (Phil. 2,6-8).
Như
thế Đức Kitô đã đi xuống. Từ xuống ít tới xuống nhiều. Từ thân
phận kẻ bần cùng đến thân phận kẻ đầy tớ tôi đòi, và sau cùng
tới thân phận kẻ bị án chết. Chọn chỗ rốt hết, đó là một chọn
lựa cứu độ của Đức Kitô. Để cứu độ ai, sự có mặt của mình đã
là một việc tốt, gần gũi họ là việc tốt hơn, chia sẻ thân phận
của họ là việc còn tốt hơn nữa, và chết tủi nhục vì họ là việc
không ai dám nghĩ tới. Đức Kitô đã đi tới cùng tiến trình cứu
độ ấy.
Tiến
trình ấy không đơn giản chỉ có một vài thử thách, mà là mọi
thử thách. Thánh Phaolô nói: “Chúng
ta có một vị thượng tế không phải là không biết những yếu đuối
của chúng ta. Bởi vì Người đã chịu thử thách về mọi sự, ngoại
trừ tội lỗi” (Heb. 4,15).
Chịu
thử thách về mọi sự, nhất là về sự bị đẩy vào các chỗ rốt hết,
đó là một nét của chân dung tình yêu cứu độ, mà Đức Kitô đã
muốn mọi người nhìn ngắm, khi gặp gỡ Người.
Khi
gặp gỡ Đức Kitô, khi nhìn ngắm chân dung ấy, nhiều người đã
hết muốn hỏi Người điều nọ điều kia. Chính Người là câu trả
lời đầy đủ, mặc dầu Người thinh lặng. Bằng thinh lặng, Người
cũng đã nói rất nhiều. Một sự thinh lặng đã được chọn lựa ngay
từ hang đá Bêlem.
THINH
LẶNG
Thực
vậy, Đức Kitô làm chứng nhiều hơn là rao giảng. Trước khi giảng
đạo đức, Người đã sống đạo đức. Người làm chứng các chân lý
đạo bằng chính cuộc sống mình. Để bất cứ ai, khi theo đạo Người,
sẽ có thể nói: Theo đạo Đức Kitô là đi theo Người, là sống như
Người, là noi gương Người. Và để bất cứ ai, khi trích dẫn lời
Người, sẽ có thể trích dẫn đời Người kèm theo.
Như
thế, sự thinh lặng của Đức Kitô không có nghĩa một tình trạng
thiếu nội dung. Trái lại, nó có nghĩa một chọn lựa để làm chứng
cho những giá trị cao cả. Thinh lặng của Người là sự lặng lẻ
của một hành trình dài ơn gọi “Này
con xin đến, để làm theo ý Cha”, Đấng hằng mong
muốn cho mọi người được rỗi, bằng cách họ tự do đón nhận ơn
Người ban cho.
Thinh
lặng của Người là sự khiêm tốn của tinh thần dâng hiến. Xin
làm men, làm muối, làm hạt giống chấp nhận phải thối đi, để
có thể nảy mầm, sinh cây. Thinh lặng của Người là sự tỉnh thức
của kẻ đợi chờ, kêu gọi người ta bằng sự kiên trì đầy yêu thương
và bằng gương sáng, hơn là bằng những lời ép buộc.
Thinh
lặng của Người là sự tĩnh mịch của tinh thần cầu nguyện, một
sự cầu nguyện có nghĩa là sự gặp gỡ giữa con người với Thiên
Chúa. Thinh lặng của Người là sự dũng cảm của tinh thần sự thực,
làm chứng cho chân lý bằng thực chất bản thân mình, chứ không
bằng cách nói nhiều, phô trương nhiều, tố cáo nhiều, biện minh
nhiều.
Thinh
lặng của Người là sự chân thành của tình mến Chúa yêu người,
làm chứng cho tình bác ái, cho đi âm thầm, hy sinh lặng lẽ.
Thinh lặng như thế là quê hương của kẻ mạnh. Để trong việc đào
tạo các môn đệ sau này, Đức Kitô sẽ coi việc tập cho họ biết
giữ thinh lặng là việc quan trọng. Biết bao điều sai trái đã
được nhận ra và sửa đổi, nhờ sự thinh lặng làm chứng của những
người tích cực sống Phúc Âm, nêu gương sáng, sốt sắng cầu nguyện.
Biết bao người đã được ơn trở lại nhờ tiếp cận với những tâm
hồn thinh lặng đầy sự hiện diện của Thiên Chúa.
Thinh
lặng như thế là dấu chỉ của tinh thần khắc kỷ, thường xuyên
phấn đấu với chính mình, để có sự tự do tâm hồn, một sự tự do
là ơn huệ của Chúa Thánh Linh và múc ra từ thánh-giá. Nhiều
môn đệ Đức Kitô đã được kính trọng và tín nhiệm, nhờ khả năng
thinh lặng đầy tinh thần chiêm niệm, cầu nguyện và
tự chế.
Chọn
lựa thinh lặng để cứu đời, đó cũng là một nét của chân dung
tình yêu cứu độ, mà Đức Kitô mời gọi mọi người nhìn ngắm, khi
gặp gỡ Người. Khi gặp gỡ Người, khi nhìn ngắm chân dung ấy,
nhiều người phải lặng đi ngây ngất, và không ngừng cảm tạ Đức
Kitô. Họ sẽ lại thấy Người dễ thương quá đỗi, ở chỗ Người rất
đơn sơ. Người nói qua sự đơn sơ của Người.
ĐƠN
SƠ
Thực
vậy, khi giáng trần, Đức Kitô đã đến một cách đơn sơ, hết sức
đơn sơ, một sự đơn sơ không ai tưởng tượng nổi. Nơi Người chọn
đến là một chỗ cực kỳ đơn sơ. Đó là hang đá Bêlem. Những người
gặp gỡ đầu tiên là những kẻ rất mực đơn sơ. Đó là Đức Mẹ, thánh
Giuse và các mục đồng. Ngôn ngữ đầu tiên của Người là những
cử chỉ dễ thương của hài nhi bé bỏng.
Đơn
sơ là đi thẳng vào căn bản. Theo tinh thần đó, Đức Kitô đã giới
thiệu chính bản thân Người, trước khi giới thiệu đạo lý của
Người. Chính bản thân Người là quà tặng. Chính bản thân Người
là đường, là sự thật và là sự sống. Chính bản thân Người là
sự hiền từ, khiêm nhường và bác ái.
Đơn
sơ là rất thực, hoàn toàn thực. Theo tinh thần đó, Đức Kitô
đã cho thấy, Người cam chịu muôn vàn khổ cực, chắc chắn không
phải để cứu thân Người, mà để cứu nhân loại. Càng không phải
để theo ý riêng mình, mà để theo ý Đấng đã sai mình đi.
Đơn
sơ là dễ hiểu. Theo tinh thần đó, Đức Kitô đã làm chứng hơn
là giảng dạy. Người làm chứng về một Thiên Chúa yêu thương,
chấp nhận hy sinh đến cùng, để mọi người được biết yêu thương
nhau, và cùng nhau trở về với Thiên Chúa là tình yêu vĩnh cửu.
Đơn
sơ là hồn nhiên, đón nhận. Theo tinh thần ấy, Đức Kitô đã khẳng
định, chỉ những ai trở nên giống như trẻ nhỏ, mới được vào thiên
đàng (Mt 18,3). Và chỉ những tâm hồn đơn sơ bé mọn mới được
Chúa Cha mạc khải cho biết các mầu nhiệm Nước Trời (Lc 10,21).
Đơn
sơ như thế là vẻ đẹp toả sáng của tâm hồn sống sự thực và phó
thác khiêm nhường. Tâm hồn ấy chỉ khao khát một điều duy nhất,
đó là làm vui lòng Đấng đã thương mình và mình gắn bó vô điều
kiện.
Đơn
sơ như thế là lợi dụng mọi dịp, dù bé nhỏ nhất, của giây phút
hiện tại, để chứng minh lòng mình mến Chúa yêu người thực sự
hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn.
Đơn
sơ như thế, đó cũng là một nét của chân dung tình yêu cứu độ,
mà Đức Kitô muốn mọi người nhìn ngắm, khi gặp gỡ Người.
*
* *
Với
một chân dung đơn sơ, thinh lặng và chấp nhận chỗ rốt hết, Đức
Kitô dạy ta hãy biết đón nhận Người, hãy để Người yêu thương
ta, hãy tin tưởng phó thác vào tình yêu cứu độ của Người, hãy
biết mở lòng thực rộng, để Người tự do thực hiện trong ta công
việc tạo dựng, cứu độ và thánh hoá.