suy niệm hàng ngày

của Huệ Minh

Tuần 33 thứ tư

*Thứ tư  Tuần XXXIII  Mùa Thường Niên  

HÃY SINH LỢI ĐỨC TIN ĐÃ LÃNH NHẬN

Tin Mừng hôm nay nói về dụ ngôn của những nén bạc, trong đó Chúa Giêsu nói về những quà tặng mà mỗi người được nhận từ Thiên Chúa. Tất cả mọi người đều có giá trị nhất định; họ nhận nhận một vài khả năng hoặc biết một vài điều mà họ có thể chỉ lại cho người khác. Không ai chỉ là học sinh, và không ai chỉ là thầy giáo. Tất cả chúng ta đều học lẫn nhau.

Dụ ngôn nén bạc mời gọi mỗi người chúng ta ý thức trách nhiệm với tư cách là người có niềm tin. Ðức tin không là nén bạc để được cất giữ, nhưng phải được đầu tư để phát triển, sinh lợi. "Một đức tin không có việc làm là đức tin chết". 

Nếu chúng ta chỉ đóng khung cuộc sống đạo trong bốn bức tường nhà thờ, nếu chúng ta chỉ giản lược đức tin vào những biểu dương bên ngoài, nếu đức tin chỉ là một mớ những giáo điều phải tin, những điều răn phải giữ, thì quả thực chúng ta đang chôn chặt đức tin như gia nhân đã chôn nén bạc mà chủ đã trao: chúng ta có giữ đạo, nhưng chưa thực sự sống đạo.

Cuộc đầu tư nào cũng bao hàm những bất tất, rủi ro; một đức tin sống động cũng hàm chứa nhiều hy sinh, mất mát. Nhưng chúng ta tin rằng chính lúc chúng ta mất mát là lúc chúng ta được lợi lộc, chính lúc chúng ta quên mình là lúc gặp lại bản thân, chính lúc chết đi là khi được vui sống. Ðó phải là bài trường ca trong cuộc sống của chúng ta.

Người quí tộc đi lãnh nhận vương quyền và ông ta gọi mười người đầy tớ đến trao bạc và dặn họ hãy làm sinh lợi (x.c.12-13). Đó là công việc ông giao cho các đày tớ. Nén bạc được gửi đến từng người như nhau và ông dặn cả mười người hãy làm sinh lợi... Thế mà khi ông trở về, những người đầy tớ được ông gọi đến để xem họ đã làm gì với số bạc ấy thì kết quả thật khác nhau. Người này làm lợi mười nén; kẻ khác làm ra năm nén; kẻ khác nữa bọc kỹ trong khăn. Và cách xử lý của ông cũng khác với từng người. 

Trong mười người đầy tớ được giao bạc, mỗi người một nén thì Tin Mừng Luca chỉ tường thuật lại ba người. Người thứ nhất làm lợi được  mười nén và anh ta được cai trị mười thành người thứ hai năm nén và được giao trọng trách năm thành. Nhưng với người thứ ba thì không trôi chảy tốt đẹp như thế. Chẳng biết vì lười biếng hay vì sợ rủi ro thất bại, anh này đem nén bạc của chủ “bọc khăn cất kỹ”. Dù vì lý do nào đi nữa, anh cũng thấy làm như thế là không ổn nên tìm cách chống chế và “đổ thừa” cho ông chủ: “Vì ông là người khắc nghiệt”! 

Đối với người làm sinh lợi, ông đã khen và ban trọng thưởng: cầm quyền cai trị số thành tương đương với số nén sinh lợi. Hơn nữa, ông đã lấy nén bac của người đầy tớ làm biếng đã giấu bọc trong khăn và trao thêm cho người có mười nén. Khi nghe người khác tâu lại rằng: anh ấy đã có mười nén, thì ông đã trả lời: ai đã có thì cho thêm; ai không có thì ngay cái nó đang có, sẽ bị lấy đi (26). Còn người đầy tớ biếng nhác lại còn lý luận rằng: anh ta không làm sinh lợi vì chủ anh có tính hà khắc "Đòi cái không gửi, gặt cái không gieo" (20).

Và chủ đã xử anh dựa trên lời anh đã nhận xét. Thật ra điều nhà vua cần không phải là sự khéo léo làm sinh lợi của đầy tớ, mà là sự trung thành của họ với mệnh lệnh của Ngài, và nén bạc là hình ảnh về sự trung thành đó. Vua đặt lòng tin vào mỗi người, nên đã giao số bạc cho họ như nhau, nhưng mỗi người lại có một hình ảnh khác nhau về vị vua của mình, nên họ đã có kết quả khác nhau khi được nhà vua gọi đến.

Có một số người ghét vua, nên cử người đến nói rằng: Không muốn ông này làm vua họ (14). Sau khi vua được phong vương trở về, vua đã sai quân đi bắt những kẻ thù địch của mình và giết chết (27). Đây là hình ảnh của Đức Ki-tô sau cái chết, Ngài đã được Chúa Cha tôn phong làm Đức Chúa, làm Đấng Ki-tô (Cv 2,33-36). Nhưng Ngài thể hiện lòng thương xót, chứ không như các vị vua trần gian tìm cách tiêu diệt những kẻ hại mình: "Ta muốn lòng nhân, chứ không cần lễ tế" "Thà một người tội lỗi hối cải...." "Ta đến để kêu gọi những người tội lỗi". "Xin vui lòng cho tôi một kỳ hạn, để tôi chăm bón, xới đất, may ra sang năm nó có quả"... 

Chẳng phải ông chủ đã tin tưởng giao cho anh số bạc đồng đều như các bạn sao? Chẳng phải điều ông chủ muốn anh cũng như các bạn là “làm ăn sinh lợi” sao? Các bạn anh được trọng thưởng vì đã “sinh lợi” nén bạc ông giao phó chứ không phải vì số lời được năm nén hay mười nén. Việc anh đem “đóng băng” vốn liếng của chủ không phải là bảo vệ tài sản cho chủ mà thực chất là phá hỏng kế hoạch của ông. Anh bị coi là “đầy tớ tồi tệ” và bị tước hết những gì anh đang có chỉ vì không biết sinh lời cho chủ mình.

Dụ ngôn những nén bạc trong đoạn Tin Mừng hôm nay, mời gọi mọi người ý thức hơn về trách nhiệm của mình đối với ơn đức tin mà Chúa đã ban cho chúng ta, trong ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa Tội.

Thật vậy, đức tin mà Chúa trao cho mỗi người chúng ta là những nén bạc. Lãnh nhận những nén bạc đó rồi, chúng ta không được phép đem chôn giấu chúng đi, mà trái lại, chúng ta phải biết đem chúng ra để đầu tư, để phát triển, để sinh lời. Hay nói rõ hơn, bổn phận của chúng ta là phải sống đức tin hằng ngày, để nhờ đó, mọi người nhìn thấy đời sống tốt lành của chúng ta mà nhận ra Thiên Chúa.

Lãnh nhận ơn Chúa là hồng ân, nhưng hồng ân luôn gắn liền với trách nhiệm. Nói cách khác,“Đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Vì thế, Lời Chúa hôn nay mời gọi chúng ta hãy cố gắng sống tốt, đầu tư tích lũy những nghĩa cử yêu thương, tấm lòng bao dung, nhân từ, đại lượng... ,có thế, ánh sáng ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa Tội mới được chiếu tỏa, nếu không, chẳng khác gì đèn sáng nhưng lại đặt dưới gầm giường hay trong thùng.

 

Ta hãy dâng lời cảm tạ Chúa vì hồng ân đức tin ta đã lãnh nhận. Xin Chúa ban thêm can đảm, để đức tin của ta thực sự được đầu tư trong từng giây phút của cuộc sống, để đáng được phần thưởng Chúa ban trong ngày Ngài trở lại vinh quang.

-Huệ Minh

 

HÃY ĐỂ THIÊN CHÚA ĐI VÀO ĐỜI CHÚNG TA

Trang Tin Mừng mời gọi  ta suy niệm kể lại việc Chúa Giêsu khóc thương thành Giêrusalem vì đã không biết nhìn nhận giờ Thiên Chúa đến viếng thăm. Thành Giêrusalem tượng trưng cho dân do thái và cho tất cả những người được Thiên Chúa ưu ái nhưng đã phụ lòng Ngài nên cuối cùng phải gánh lấy số phận bi thảm.

Nhìn chung trong toàn bộ văn mạch thì biến cố được nhắc đến trong Phúc Âm đi liền sau biến cố Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem. Và đây không phải là lần vào thành thông thường như bao lần khác, mà là lần vào thành long trọng, lần cuối cùng, để rồi sau đó Chúa thực hiện công cuộc cứu rỗi, mục đích cuối cùng của nhập thể, của cuộc đời của Chúa.

Thành Giê-ru-sa-lem thời Chúa Giê-su do vua Hê-rô-đê Cả – người đã giết các hài nhi ở Bê-lem – khởi công xây dựng từ năm 20 tr. CN mãi đến năm 64 s. CN. mới hoàn thành, chỉ tồn tại được 6 năm thì bị tướng Ti-tô phá bình địa, chỉ còn lại vài “bức tường than khóc” như hiện nay. Dù thành thánh còn dang dở sau “46 năm” xây dựng (x. Ga 2,20), và dù rất mực căm ghét Hê-rô-đê, người Do thái cũng rất tự hào về ngôi đền thờ nguy nga lộng lẫy này. Thế nhưng, đứng từ trên cao nhìn xuống, Chúa Giê-su đã than khóc nó vì Ngài thấy trước sẽ tới ngày“không còn hòn đá nào trên hòn đá nào” bởi vì thánh đô đã không đón nhận Tin Mừng bình an đến với mình.

Thánh Luca thuật lại việc Chúa Giêsu khóc thương họ vì hai lý do: một là vì họ đã “không nhận ra những gì đem lại bình an” cho họ ; hai là vì họ đã “không nhận biết thời giờ họ được Thiên Chúa viếng thăm”. Quả vậy, việc nhận ra được hồng ân và bình an của Thiên Chúa tuôn đổ trên cuộc đời từng người và việc nhận biết ơn Cứu Độ của  Thiên Chúa đó là một hồng ân lớn về đức tin.

Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem lần cuối cùng này để thực hiện cuộc Vượt Qua đem lại ơn cứu rỗi, hòa giải giữa con người với Thiên Chúa, và giữa con người với nhau. Ðây là giờ Thiên Chúa viếng thăm, giờ mang đến ơn cứu rỗi, tuy nhiên, những vị lãnh đạo Do thái tại Giêrusalem, như chúng ta sẽ thấy trong cuộc khổ nạn của Chúa, họ không những từ chối, mà còn xách động dân chúng chối bỏ Chúa, yêu cầu quan Philatô ra lệnh đóng đinh Chúa vào Thập giá và tha Baraba cho họ. Như thế, dù có sự nồng nhiệt hoan hô Chúa khi Ngài cỡi trên lưng lừa tiến vào thành thánh, thì sự nồng nhiệt đó cũng chỉ là thoáng qua, và Chúa Giêsu nhận thấy ơn cứu rỗi mà Ngài mang đến bị con người khước từ hơn là đón
nhận.

Ðiều xảy ra cho thành Giêrusalem cũng có thể xảy ra cho mọi người
thuộc mọi thời đại. Mỗi người chúng ta đền có giây phút Chúa đến viếng thăm, đó là giây phút hồng phúc mang đến ơn lành, ơn cứu rỗi và sự bình an. "Ước chi hôm nay, ngươi hiểu biết sứ điệp mang hòa bình lại cho ngươi". Nhưng Chúa không bắt buộc tự do của mỗi người, sự tự do mà Ngài đã trao ban cho con người một lần vĩnh viễn, không bao giờ muốn lấy lại. Dù biết rằng con người vẫn có thể lạm dụng sự tự do đó để chống lại Ngài.

Chúa Giêsu phải rơi lệ khi Ngài nhìn vào thành Giêrusalem "ước chi hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi" đây là nỗi đau xót của một người mẹ nhìn thấy con mình sắp phải hư vong. Không phải Chúa không muốn cứu thành hay không muốn cho thành được hạnh phúc, nhưng vì thành Giêrusalem đã không đón nhận và không biết thời giờ Chúa đến viếng thăm. Thiên Chúa tôn trọng tự do của con người. Chúng ta cũng phải tỉnh thức và đề phòng trước vòng xoáy khắc nghiệt của cuộc đời. Đừng để lòng ham mê vật chất chiếm lĩnh tâm hồn ta, làm ta ra u tối và không còn nhận biết "thời giờ Chúa viếng thăm" mình nữa. Chúa sẽ đến với từng người chúng ta. Phúc cho những ai luôn biết sẵn sàng đón tiếp Người khi Người đến gõ cửa nhà mình.

Trong quan niệm Kinh Thánh, giây phút Thiên Chúa đến thăm là giây phút Thiên Chúa đến thực hiện lòng nhân từ, trao ban sự bình an cho tâm hồn. Tác giả Phúc Âm theo thánh Luca đã nhấn mạnh ý nghĩa này trong hai bài ca quan trọng vào khởi đầu Tin Mừng, đó là bài ca về ông Dacaria và của Mẹ Maria. Ý thức giờ Thiên Chúa đến viếng thăm đang xảy ra không những cho chính bản thân mình, mà còn cho cả toàn dân tộc, cho cả toàn nhân loại, Mẹ Maria đã nhận định về ý nghĩa sâu xa của cuộc viếng thăm của Thiên Chúa với những lời như sau: "Lòng thương xót Chúa lan tràn từ đời này tới đời kia, đối với những ai kính sợ Chúa. Chúa đã cứu Israel, tôi tớ Chúa và nhớ lại lòng thương xót của Người".

Chỉ có lý do duy nhất cho cuộc viếng thăm của Chúa, đó là để thực hiện lòng nhân từ của Ngài cho người được viếng thăm mà thôi. Nếu không nhận biết giờ viếng thăm của Chúa, con người chỉ gặp phải những thiệt thòi cho chính mình, như đã xảy ra cho thành Giêrusalem ngày xưa. Chúng ta không nên nhìn biến cố Chúa khóc thương và loan báo ngày sụp đổ của thành Giêrusalem trong viễn tượng của sự trả thù.

 Thiên Chúa nhân từ không bao giờ hành động để trả thù sự chống đối khước từ của con người. Những thiệt thòi mà kẻ từ chối Chúa gặp phải là hậu quả tai hại của tội lỗi, của những hành động xấu xa do con người thực hiện vì chối bỏ Thiên Chúa mà thôi. Tuy nhiên, Thiên Chúa không bỏ mặc con người trong sự dữ, nhưng Ngài luôn luôn làm những gì có thể để cảnh tỉnh, để lưu ý con người đừng đi vào con đường nguy hiểm, gây thiệt hại cho chính mình.

Ta có dám tin Thiên Chúa điều khiển cuộc đời ta không? Ta có dám tin Thiên Chúa đem lại suối nguồn bình an cho cuộc đời ta không? Chúa vẫn viếng thăm và hiện diện nơi mỗi hoàn cảnh sống, nơi mỗi người chúng ta gặp gỡ nhưng chúng ta có nhận ra Ngài hay không? Chúng ta có sẵn sàng mở lòng đón nhận thời giờ ân sủng mà Thiên Chúa vẫn hằng tuôn đổ trên cuộc đời mỗi người chúng ta hay không? Làm sao mỗi chúng ta nhận ra thời điểm Thiên Chúa đến thăm mình? Thế giới hôm nay đang có khuynh hướng loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của họ. Họ nhân danh tự do tôn giáo để loại trừ Thiên Chúa ra khỏi đời sống xã hội. Nhưng thử hỏi không có Thiên Chúa thì ai ở được với ai ! Nhân loại sẽ bị kéo vào
những cuộc chiến tranh, thù hận không lối thoát.

Như thánh Gioan nói: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1, 11). Thời giờ thánh thánh Giêrusalem được Thiên Chúa viếng thăm, chính là lúc Đức Giêsu đến, hiện diện và ban Lời Hằng Sống, mang lại bình an.

Hãy để Thiên Chúa đi vào đời chúng ta và Ngài sẽ chi phối những chọn lựa của chúng ta. Chỉ trong Thiên Chúa mọi sự mới có nền tảng vững bền. Nếu không, như Giêrusalem, chúng ta chỉ còn là những bức tường than khóc. Nếu không thì nước mắt của Chúa Giêsu vẫn còn rơi trước sự cứng lòng tin của nhân loại hôm nay. Và nước mắt tình yêu, tha thứ của Chúa vẫn còn nhỏ xuống trên sự phản bội, bất trung của con người.

Huệ Minh

 

Làm ăn sinh lợi

Lời Chúa: Lc 19, 11-28
Khi dân chúng đang nghe những điều ấy, thì Đức Giêsu lại kể thêm một dụ ngôn, vì Người đang ở gần Giêrusalem và vì họ tưởng là Triều Đại Thiên Chúa sắp xuất hiện đến nơi rồi. Vậy Người nói: “Có một người quý tộc kia trẩy đi phương xa lãnh nhận vương quyền, rồi trở về. Ông gọi mười người trong các tôi tớ của ông đến, phát cho họ mười nén bạc và nói với họ: “Hãy lo làm ăn sinh lợi cho tới khi tôi đến.” Nhưng đồng bào ông ghét ông, nên họ cử một phái đoàn đến sau ông để nói rằng: “Chúng tôi không muốn ông này làm vua chúng tôi.”
“Sau khi lãnh nhận vương quyền, ông trở về. Bấy giờ ông truyền gọi những đầy tớ ông đã giao bạc cho, để xem mỗi người làm ăn sinh lợi được bao nhiêu. Người thứ nhất đến trình: “Thưa ngài, nén bạc của ngài đã sinh lợi được mười nén. Ông bảo người ấy: “Khá lắm, hỡi đầy tớ tài giỏi! Vì anh đã trung thành trong việc rất nhỏ, thì hãy cầm quyền cai trị mười thành. Người thứ hai đến trình: “Thưa ngài, nén bạc của ngài đã làm lợi được năm nén. Ông cũng bảo người ấy: “Anh cũng vậy, anh hãy cai trị năm thành. Rồi người thứ ba đến trình: “Thưa ngài, nén bạc của ngài đây, tôi đã bọc khăn giữ kỹ. Tôi sợ ngài, vì ngài là người khắc nghiệt, đòi cái không gửi, gặt cái không gieo. Ông nói: “Hỡi đầy tớ tồi tệ! Tôi cứ lời miệng anh mà xử anh. Anh đã biết tôi là người khắc nghiệt, đòi cái không gửi, gặt cái không gieo. Thế sao anh không gửi bạc của tôi vào ngân hàng? Có vậy, khi tôi đến, tôi mới rút ra được cả vốn lẫn lời chứ! Rồi ông bảo những người đứng đó: “Lấy lại nén bạc nó giữ mà đưa cho người đã có mười nén. Họ thưa ông: “Thưa ngài, anh ấy có mười nén rồi!” – "Tôi nói cho các anh hay: phàm ai đã có, thì sẽ được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái nó đang có cũng sẽ bị lấy đi. Còn bọn thù địch của tôi kia, những người không muốn tôi làm vua cai trị chúng, thì hãy dẫn chúng lại đây và giết chết trước mặt tôi.”
Nói những lời ấy xong, Đức Giêsu đi đầu, tiến lên Giêrusalem.
Suy niệm:
Khi Đức Giêsu đến gần Giêrusalem,
nhiều người nghĩ rằng Nước Thiên Chúa sắp xuất hiện rồi.
Họ cho rằng khi Ngài tiến vào thành thánh lẫm liệt như một vị vua,
Nước ấy sẽ bừng tỏa trọn vẹn trên đoàn dân của Thiên Chúa (c. 11).
Thật ra Nước Thiên Chúa không đến nhanh như họ nghĩ.
Đức Giêsu còn phải chịu đau khổ, chết, rồi được phục sinh.
Sau đó Giáo Hội còn phải chờ một thời gian dài
trước khi Nước Thiên Chúa đến cách viên mãn qua việc Ngài trở lại.
Thời gian của Giáo Hội là thời gian đợi chờ,
thời gian lo làm ăn sinh lợi với những gì Chúa tặng ban.
Đó chính là ý nghĩa của dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay.
Một nhà quý tộc kia đi xa để lãnh nhận vương quyền.
Trước khi đi ông gọi mười người đầy tớ lại,
và trao cho họ mỗi người một số tiền không lớn lắm, là một đồng mina.
Ông ra lệnh: “Hãy lo làm ăn sinh lợi cho tới khi tôi đến” (c. 13).
Khi nhà quý tộc trở về trong tư cách là vua,
ông truyền gọi các đầy tớ lại để họ báo cáo về công việc làm ăn.
Hai người đầy tớ đầu tiên đã sinh lợi không ít.
Một người được lời thêm mười đồng, người kia được thêm năm đồng.
Cả hai được vua ban thưởng rất trọng hậu, cho cai trị các thành phố.
Còn người thứ ba trả lại cho nhà vua đồng mina anh đã nhận.
“Thưa Ngài, đồng mina của Ngài đây, tôi đã giữ kỹ nó trong khăn.”
Tất cả tội của người đầy tớ này nằm ở thái độ giữ kỹ.
Giữ kỹ thì chẳng mất gì, vẫn còn nguyên vẹn.
Nhưng giữ kỹ lại không thể làm cho đồng tiền sinh lời.
Hơn nữa, giữ kỹ là không vâng lời ông chủ trước khi đi: “Hãy lo làm ăn!”
Người đầy tớ sợ ông chủ, vì ông là người nghiêm khắc (c. 21).
Chính vì sợ làm ăn thua lỗ, sợ bị ông chủ trừng phạt
mà anh chọn thái độ chắc ăn là giữ kỹ đồng vốn trong khăn.
Thái độ này không được ông chủ, nay trở thành nhà vua, chấp nhận.
“Tại sao anh không gửi tiền của tôi vào ngân hàng,
để khi trở về, tôi mới rút được cả vốn lẫn lời chứ ?” (c. 23).
Ý của chủ là đồng tiền cần phải được đầu tư để sinh lời.
Nỗi sợ đã làm cho anh đầy tớ mất đi sự liều lĩnh cần thiết.
Bài Tin Mừng nhắc các Kitô hữu một điều cần.
Giữ kỹ, giữ nguyên những gì Chúa ban vẫn chỉ là một thái độ tiêu cực.
Kitô hữu là người tích cực sử dụng đồng vốn nhận được để sinh lời.
Ra khỏi thái độ rụt rè, sợ hãi, để dám nghĩ, dám làm việc lớn cho Chúa,
đó mới là thái độ đúng đắn của người Kitô hữu có trách nhiệm.
Nếu không liều lĩnh trong những dự tính và hành động,
nhiều nén bạc Chúa ban sẽ bị bỏ quên mãi trong khăn.
Ông chủ trong dụ ngôn thật ra không phải là người ham lời.
Ông chỉ muốn các đầy tớ trung tín trong việc rất nhỏ (c. 17).
Nhờ dấn thân làm việc cho Nước Chúa mà người Kitô hữu được lớn lên.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con dám hành động
theo những đòi hỏi khắt khe nhất của Chúa.
Xin dạy con biết theo Chúa vô điều kiện,
vì xác tín rằng
Chúa ngàn lần khôn ngoan hơn con,
Chúa ngàn lần quảng đại hơn con,
và Chúa yêu con hơn cả chính con yêu con.
Lạy Chúa Giêsu trên thập giá,
xin cho con dám liều theo Chúa
mà không tính toán thiệt hơn,
anh hùng vượt trên mọi nỗi sợ,
can đảm lướt thắng sự yếu đuối của quả tim,
và ném mình trọn vẹn cho sự quan phòng của Chúa.
Ước gì khi dâng lên Chúa
những hy sinh làm cho tim con rướm máu,
con cảm nghiệm được niềm vui bất diệt
của người một lòng theo Chúa.
 
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

 

 

Đã có được cho thêm là để dự trữ mà bù đắp...




Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Tư Tuần XXXIII Thường Niên, tiếp theo ngay sau bài Phúc Âm hôm qua. Một chi tiết cho thấy điều đó, chẳng cần theo dõi kỹ về đoạn và câu của 2 bài Phúc Âm, đó là chi tiết liên quan đến địa điểm của cuộc hành trình Giêrusalem của Chúa Giêsu.

Thật vậy, trong bài Phúc Âm hôm qua, nếu "Chúa Giêsu vào Giêricô và đi ngang qua thành" thì trong Bài Phúc Âm hôm nay, "Người đã đến gần Giêrusalem", và chính "" thế, Phúc Âm hôm nay cho biết tiếp, "mà dân chúng lại cứ tưởng là Nước Thiên Chúa sắp xuất hiện trong giây lát". 

Bởi thế, Thánh ký Luca ghi nhận rằng: "Chúa Giêsu phán thêm một dụ ngôn nữa", một dụ ngôn chẳng những trực tiếp liên quan đến cuộc hành trình Giêurusalem của Người bấy giờ, mà còn liên quan đến "Nước Thiên Chúa", một thực tại thần linh đã từng được Người sử dụng nhiều hình ảnh khác nhau để sánh ví trước đó nay Người muốn nói "thêm... nữa" vào lúc Người gần tới Thành Giêrusalem: "Nói thế rồi Chúa liền dẫn họ lên Giêrusalem". Và dụ ngôn ấy được Phúc Âm hôm nay cho biết đã bắt đầu như thế này:

"Có người quý tộc kia đi phương xa để được phong vương rồi trở về. Ông cho gọi mười người tôi tớ đến, giao cho họ mười nén bạc và dặn rằng: 'Hãy làm lợi cho đến khi ta trở về'. Nhưng các người dân của ông ấy ghét ông, sai người đi theo mà rằng: 'Chúng tôi không muốn ông ấy làm vua chúng tôi'. Ðược phong vương rồi ông trở về, cho gọi các tôi tớ mà trước kia ông đã giao tiền cho, để biết mỗi người đã làm lợi được bao nhiêu".

 

Trước hết, "người quý tộc kia đi phương xa để được phong vương rồi trở về" đây phải chăngám chỉ chính Chúa Kitô, Con Thiên Chúa ("quí tộc"), từ trời xuống trần gian ("đi phương xa") để hoàn tất công cuộc cứu chuộc trần gian của mình, ở chỗ được "treo lên" (Gioan 8:28) trên ngai tòa Thánh Giá (như "được phong vương", nhưng sau đó người đã tự mình sống lại ("rồi trở về"). 

Ý nghĩa "đi phương xa" cũng có thể hiểu có liên hệ mật thiết với lời tiên báo của Chúa Giêsu với các môn đệ của Người trong Bữa Tiệc Ly về việc Người ra đi đến một nơi mà các môn đệ của Người không thể tới được và chẳng biết là ở chỗ nào để theo như tông đồ Toma cảm nhận (xem Gioan 14:5): "Thày chẳng còn ở với các con bao lâu nữa. Các con sẽ tìm kiếm Thày... Nơi Thày đi các con không thể nào tới được" (Gioan 13:33).

Trước khi lên đường "đi phương xa để được phong vương rồi trở về" như thế, "ông cho gọi mười người tôi tớ đến, giao cho họ mười nén bạc và dặn rằng: 'Hãy làm lợi cho đến khi ta trở về'", phải chăng ở đây Chúa Giêsu muốn ám chỉ đến Bữa Tiệc Ly là lúc Chúa Giêsu đã trao cho các vị, một điều bao gồm cả 10 điều răn Cựu Ước (ám chỉ "10 nén bạc") đó là "giới răn mới" (Gioan 13:34), ở chỗ các vị phải "yêu thương nhau như Thày đã yêu thương các con. Tất cả mọi người sẽ dấu ấy mà nhận biết các con là môn đệ của Thày" (Gioan 13:34-35).

Thế nhưng, việc Chúa Kitô hành trình lên Giêrusalem để hoàn tất sứ vụ cứu độ trần gian của Người như một ông vua như thế không được lòng "dân của" Người là dân Do Thái vốn "ghét" Người nên họ đã ra mặt công khai chống đối: "Chúng tôi không muốn ông ấy làm vua chúng tôi", bằng cách sát hại Người.Không ngờ, việc họ tự do sát hại Người một cách độc dữ tàn bạo chưa từng thấy lại giúp cho Người "được phong vương" - "Giêsu Vua Dân Do Thái" (Luca 23:38), Đấng "được toàn quyền trên trời dưới đất" (Mathêu 28:18). 

"Ðược phong vương rồi ông trở về, cho gọi các tôi tớ mà trước kia ông đã giao tiền cho, để biết mỗi người đã làm lợi được bao nhiêu". Đúng thế, khi "trở về" vào lúc quang lâm tái giáng của mình trong ngày sau hết, Chúa Kitô sẽ tính sổ sách về nén bạc được Người trao phó cho thành phần đầy tớ của Người thuộc hàng ngũ lãnh đạo đàn chiên của Người, từ các vị tông đồ đến thành phần thừa kế các vị trong hàng giáo phẩm (bao gồm cả giáo sĩ) dọc suốt giòng lịch sử của Giáo Hội Người thiết lập. 

Nén bạc đó đối với thành phần đầy tớ của Chúa Kitô (nếu hiểu về các vị chủ chiên trong hàng giáo phẩm và giáo sĩ) quả thực là đức bác ái, như chính Người đã hỏi tông đồ Phêrô 3 lần có yêu mến Người hay chăng để Người trao phó các chiên của Người cho ngài cũng như cho các vị thừa kế ngài cùng tông đồ đoàn là các vị giáo hoàng và giám mục sau này trong Giáo Hội. Và quả thực, chính vì nén bạc đó là đức bác ái yêu thương phục vụ mà Người đã căn cứ vào đức bác ái này mà phán xét cùng thưởng phạt vậy (xem Mathêu 25:31-46).

Vấn đề ở đây là "người quí tộc" trong dụ ngôn đã trao cho 10 người đầy tớ của mình 10 nén bạc, nghĩa là mỗi người một nén bạc chứ không phải mỗi người 10 nén bạc, ám chỉ 10 điều răn, nhưng được tóm lại thành "một nén bạc" là "giới răn mới" được Chúa Kitô truyền lại cho các tông đồ. Vậy "10 người đầy tớ" đây là ai, nếu không phải ở trong Bữa Tiệc Ly bấy giờ là lúc các môn đệ được Chúa Kitô trao cho nén bạc "giới răn mới" có thể hiểu là ám chỉ 10 vị trong số 12, vì tông đồ Giuđa bấy giờ đã bỏ đi bàn việc nộp Người (xem Gioan 13:30), và Tông Đồ Gioan không kể vì vị tông đồ này tự bản chất và sứ vụ vốn gắn liền với "giới răn mới" qua cử chỉ dựa vào ngực Chúa Kitô (xem Gioan 13:23).

Tuy nhiên việc sinh lợi nén bạc lại tùy theo trình độ khả năng và mức độ nỗ lực của mỗi người đầy tớ nữa. Bởi thế, trong 3 loại người đầy tớ tiêu biểu được chủ gọi đến trình bày trách nhiệm nén bạc của mình, có người sinh lợi được gấp 10 lần, nhưng cũng có người chỉ sinh lợi được gấp 5 thôi, như dụ ngôn của Bài Phúc Âm cho thấy. 

Ở đây có thể hiểu nén bạc "giới răn mới" là "yêu nhau như Thày" nơi từng người đầy tớ sinh lợi nhiều như gấp 10, hay sinh lợi vừa như gấp 5, chẳng những tùy ở ơn gọi hay bậc sống của Kitô hữu, giáo dân hay giáo sĩ, mà còn tùy ở mức độ nên một với Chúa Kitô nữa, ở chỗ, càng hiệp nhất với Người thì Người càng yêu thương tha nhân như chính Người đã yêu họ, nghĩa là họ càng phản ảnh Chúa Kitô một cách trung thực nhất và sống động nhất, gấp 10 lần, hơn gấp 5 lần. 

Trong số thành phần đầy tớ cũng không thể thoát được có một thiểu số nào đó không đáp ứng trách nhiệm nén bạc được trao phó, ở chỗ sống vị kỷ, hưởng thụ hơn phục vụ, không phản ảnh bản chất đức ái trọn hảo của mình như "ánh sáng thế gian" (Mathêu 5:14) chiếu tỏa Chúa Kitô " ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12). 

Nếu họ cảm thấy "giới răn mới" là "yêu nhau như Thày yêu" là một lý tưởng quá siêu việt họ không thể nào với tới như lòng mong ước của chủ mình, nhất là như gương của chủ mình trong việc "được phong vương" trên Thánh Giá của chủ: "hiến mạng sống mình làm giá chuộc nhiều người" (Mathêu 20:28), thì ít nhất họ vẫn có thể sinh lợi nén bạc bác ái được trao cho họ, bằng cách gửi vào "nhà băng" thần linh, ở chỗ tin tưởng (trust) ký thác (deposit) vào Lòng Thương Xót Chúa, để chính Người bù đắp những yếu hèn bất lực thiếu sót của họ, nhờ đó Người "có thể lấy cả vốn lẫn lời" từ họ, như từ tên tử tội bị đóng đanh bên phải Người trên Đồi Canvê xưa (xem Luca 23:40-43). 

Ở cuối dụ ngôn trong bài Phúc Âm hôm nay còn một chi tiết rất hay nữa, đó là "Ai có sẽ cho thêm, và người đó sẽ được dư dật; còn ai không có, người ta sẽ lấy đi cả cái nó đang có", điển hình là người đầy tớ sinh lợi 10 nén nhiều nhất lại được thêm nén bạc của "người đầy tớ bất lương". 

Đúng thế, trong đời sống thiêng liêng cũng vậy, những tâm hồn thánh thiện (chứ không phải chỉ ở tầm mức đạo đức thôi) thường được thêm nhiều ơn Chúa ban, những ơn mà tội nhân vì yếu đuối và mù quáng đánh mất, nhưng không phải để người đã có hoan hưởng một mình, trái lại, là để bù đắp cho chính tội nhân đã đánh mất đi ân sủng của họ được Chúa ban, nhờ đó chính tội nhân cũng được cứu độ. Ôi Lòng Thương Xót Chúa vô cùng khôn ngoan và tìm hết cách để cứu độ con người, cứu độ từng người. 


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

 

Ngày 16: 1. Thánh Margarita Scotia, hoàng hậu


Thánh Margarita thuộc hoàng tộc Anh quốc, ngài sinh năm 1046 tại Hung Gia Lợi khi thân phụ đang bị lưu đày ở đấy. Margarita sống một đời niên thiếu đạo đức thánh thiện. Vì tình hình chính trị, gia đình ngài phải di cư sang miền Écosse. Trong chuyến đi này, cha ngài từ trần, phủ lên gia đình ngài tấm khăn tang chua xót.

Tại Écosse, gia đình ngài được triều đình và dân bản xứ đón tiếp nồng hậu cùng sự giúp đỡ tận tình. Ngài được vua Écosse là Malcolm III ngỏ lời cầu hôn năm 1067. 

Với tước hiệu Hoàng hậu, ngài làm gương và hướng dẫn dân chúng đi vào con đường ánh sáng và cộng tác trong việc giáo dục quần chúng theo tinh thần Phúc Âm.

Ðiểm nổi bật nơi thánh nữ là đời sống nội tâm phong phú và đức bác ái dồi dào. Ngài thường rời triều đình để đến những xóm lao động thăm hỏi, giúp đỡ dân chúng nghèo túng. Ngài cũng dành nhiều thời giờ cho việc cầu nguyện và lãnh nhận các phép bí tích.

Dù bận rộn với những công tác xã hội, ngài vẫn không xao lãng bổn phận làm vợ, làm mẹ trong gia đình. Ngài để tâm trí vào việc săn sóc chồng và dạy dỗ con cái.

Ðể thưởng công nhân đức của thánh nữ, Chúa cho người được nhiều ơn đặc biệt như biết trước việc chưa xảy đến. Thánh nữ qua đời ngày 16/11/1903 và được Ðức Giáo Hoàng Innocentê IV phong Hiển Thánh năm 1250.

 2. Thánh Gertruđê, đồng trinh

 

Thánh Gertruđê sinh ngày 06/01/1256 tại Eisleben miền Saxe nước Ðức. Ngay từ nhỏ đã xin nhập dòng Xitô. Tại đây, ngài đã sống một cuộc đời khổ hạnh giản dị nhưng luôn bình thản, thánh thiện. Sức khỏe của ngài có phần yếu kém nên thường được miễn tham dự những giờ kinh chung. Sẵn tinh thần hiếu học, Gertruđê tiến rất mau trên đường học vấn và đặc biệt có khiếu về văn chương.

Ngày 27/01/1281, Chúa Giêsu đã hiện ra với thánh nữ lần đầu tiên và mạc khải cho thánh nữ nhiều điều về tình yêu và ân sủng Chúa.

Ngài luôn luôn sống kết hợp mật thiết với Chúa và được Chúa ban ơn xuất thần nhiều lần để chiêm ngưỡng thánh tâm Ngài.

Ngài có một lòng mến thánh sử và sự thương khó Chúa cách đặc biệt. Ngài qua đời năm 1302 sau một cơn bệnh trầm trọng.

 

 

 

 

November 18, 2016