4 tháng 1
trước lễ hiển linh
"hãy đến mà xem" - "Chúng tôi đã gặp Ðấng Messia, nghĩa là Ðấng Kitô"
Hôm nay, vai trò của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, qua Phúc Âm của Thánh ký Gioan sau Tuần Bát Nhật Giáng Sinh và trước Lễ Hiển Linh, vẫn tiếp tục vai trò làm chứng của mình cho Chúa Kitô là Đấng đến sau mình, hơn là vai trò dọn đường cho Người như trong các bài Phúc Âm Nhất Lãm ở hai tuần giữa trong Mùa Vọng hướng về Giáng Sinh.
Nếu trong bài Phúc Âm hôm qua Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã thực hiện vai trò làm chứng của mình về Chúa Kitô đến sau mình bằng việc giới thiệu Người với chung dân Do Thái thì trong bài Phúc Âm hôm nay ngài giới thiệu Người với riêng thành phần môn đệ của ngài: "Khi ấy, Gioan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông nhìn theo Chúa Giêsu đang đi mà nói: Ðây là Chiên Thiên Chúa".
Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả giới thiệu với các môn đệ của ông về Chúa Giêsu là Đấng đến sau ông cũng bằng một danh xưng như ông đã giới thiệu với chung dân Do Thái đó là danh xưng "Chiên Thiên Chúa", nhưng ở hai môi trường khác nhau: với chung dân chúng thì vào ngày hôm trước còn với các môn đệ của mình thì vào "ngày hôm sau" (Gioan 1:35); với chung dân chúng khi "Chúa Giêsu tiến đến với ông" (Gioan 1:29), còn với các môn đệ của ông khi "Chúa Giêsu đang đi".
Như thế, căn cứ vào Phúc Âm của Thánh ký Gioan chúng ta có thể suy ra rằng ngay sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa ở Sông Jordan như được các Thánh ký của bộ Phúc Âm Nhất Lãm thuật lại thì Người chưa vào hoang địa ngay, trái lại, hai ngày sau đó Người vẫn còn lẩn quẩn ở gần đó: ngày thứ nhất - "the next day" (Gioan 1:29), nghĩa là sau ngày Người lãnh nhận Phép Rửa (xem Gioan 1:31-34), Người trở lại với Tiền Hô Gioan Tẩy Giả một lần nữa, và sang ngày thứ hai - "the next day" (Gioan 1:35) Người đi ngang qua chỗ của Tiền Hô Gioan; chỉ cho tới "ngày thứ ba - the third day" (Gioan 2:1) Người mới ở một nơi khác là Cana Xứ Galilêa, và có lẽ sau biến cố Cana này Người mới chay tịnh 40 đêm ngày...
Chúng ta không biết được lý do tại sao Chúa Giêsu vào ngày thứ hai sau khi lãnh nhận Phép Rửa lại "đi ngang qua" chỗ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, nhưng có thể suy đoán rằng Người muốn tỏ mình ra cho mấy người môn đệ đầu tiên của Người, trong đó có 2 người môn đệ của vị tiền hô này, để nhờ họ có thể "thấy vinh hiển của Người", đề tài chính yếu của những ngày trước Lễ Hiển Linh, nghĩa là Người bắt đầu tỏ mình ra một cách đặc biệt cho một thiểu số để họ biết Người là ai.
Đó là lý do, tác dụng thần linh xuất phát từ việc "Người đi ngang qua", không dừng lại, không để ý nhìn ai, không lên tiếng kêu gọi người nào, đã khiến cho"hai môn đệ nghe ông nói liền đi theo Chúa Giêsu", có lẽ chỉ vì tò mò muốn biết Người là ai mà được sư phụ của các vị hết sức trân trọng và tôn vinh như thế. Và lòng mong ước của các vị, cho dù tò mò, cũng rất hợp với ý Chúa, Đấng muốn lợi dụng chính cái tò mò tự nhiên ấy mà tỏ mình ra cho họ để nhờ đó họ có thể "thấy vinh hiển của Người", có thể biết Người là ai. Bởi thế nên "Chúa Giêsu ngoảnh mặt lại, thấy họ đi theo mình, thì nói với họ: 'Các ngươi đang tìm kiếm gì vậy?'".
Chính thái độ chủ động qua câu hỏi mở đầu và dẫn lối này đã cho thấy ý định muốn tỏ mình ra của Chúa Kitô, để rồi, khi những con người muốn đến với Người công khai chính thức bày tỏ ý định của họ: "Rabbi, nghĩa là thưa Thầy, Thầy ở đâu?", hay "Thày từ đâu đến?" hoặc "Thày là ai?", Người mới khách quan mời gọi họ: "hãy đến mà xem", nghĩa là hãy cứ đến với Người, ở với Người hay giao tiếp với Người, thì họ sẽ tự cảm nghiệm thấy Người là ai đối với họ.
Đúng thế, được mời gọi mở đường như thế, "họ đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy, lúc đó độ chừng giờ thứ mười", để rồi nhờ đó cuối cùng họ đã nhận ra Người là ai, và sau đó họ chẳng những thú nhận và tuyên xưng rằng "Chúng tôi đã gặp Ðấng Messia, nghĩa là Ðấng Kitô" mà còn làm chứng cho người khác thấy chân lý chính yếu làm nên chính căn tính của Người và về Người ấy để cùng nhau "thấy vinh hiển của Người".
Thành phần tin nhận "Con Thiên Chúa", Đấng đã "hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14) để trở nên "Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian", như Tiền Hô Gioan Tẩy Giả trong bài Phúc Âm hôm qua đã chứng nhận và giới thiệu với chung dân chúng, và chỉ có "Con Chiên Thiên Chúa" là chính "Con Thiên Chúa" ấy mới có thể xóa tội trần gian, mới có thể nhờ đó triệt hạ ngụy thần cùng quyền lực sự chết của chúng, như Thánh ký Gioan xác tín trong Bài Đọc 1 hôm nay: "Con Thiên Chúa đã xuất hiện để phá hủy công việc của ma qủy".
Như thế, "vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" đây là gì, nếu không phải là các linh hồn được cứu độ, thành phần "đã được nhìn thấy vinh hiển của Người", đã chấp nhận ơn cứu chuộc của Người, và như hai môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả trong bài Phúc Âm hôm nay, đã mong muốn đến với Người, đã đáp ứng tác động thần linh của Người, đã ở với Người và đã nhận biết Người để có thể làm chứng về Người.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Hãy đến mà xem
Lời Chúa: Ga 1, 35-42
Khi ấy, Gioan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông nhìn theo Chúa Giêsu đang đi mà nói: Ðây là Chiên Thiên Chúa. Hai môn đệ nghe ông nói liền đi theo Chúa Giêsu, Chúa Giêsu ngoảnh mặt lại, thấy họ đi theo mình, thì nói với họ: “Các anh tìm gì thế?” Họ thưa với Người: “Thưa Rabbi, nghĩa là thưa Thầy, Thầy đang ở lại đâu?” Người đáp: “Hãy đến mà xem”. Họ đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy, lúc đó độ chừng giờ thứ mười. Anrê, em ông Simon Phêrô, một trong hai người đã nghe Gioan nói và đã đi theo Chúa Giêsu. Ông gặp Simon anh mình trước hết và nói với anh: “Chúng tôi đã tìm thấy Ðấng Messia, nghĩa là Ðấng Kitô”. Và ông dẫn anh mình tới Chúa Giêsu. Chúa Giêsu nhìn Simon và nói: “Anh là Simon, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Ðá”.
Suy niệm:
“Đây là Chiên Thiên Chúa” (c.35).
Gioan Tẩy giả nói với hai anh môn đệ đang đứng với mình như thế
khi ông thấy Đức Giêsu tình cờ đi ngang qua.
Gioan đã gặp Ngài, đã thấy Thần Khí ngự xuống trên Ngài (Ga 1,32).
Ông biết Ngài là Đấng đến sau ông, nhưng lại có trước ông (1,15.30).
Trong một cử chỉ khiêm hạ làm cho mình nhỏ lại,
ông đã giới thiệu cho các môn đệ mình một vị Thầy cao trọng hơn.
Ông để cho họ đi theo vị Thầy mới, còn ông đứng lại đó một mình.
“Các anh tìm gì thế?”: Đức Giêsu là người mở lời với hai bạn trẻ
đang đi theo mình, lúng túng vì chưa biết cách làm quen.
Câu hỏi này chờ một câu trả lời nói lên điều mình thao thức.
“Thưa Rabbi, Thầy đang ở lại đâu?”
Họ muốn biết nhà của Thầy, cũng là biết chính bản thân Thầy.
“Hãy đến và các anh sẽ thấy”.
Thầy Giêsu mời các bạn ấy đến thăm nhà mình.
Căn nhà ở Galilê xưa thường chỉ có một, hai phòng nhỏ.
Ngài mời họ đi vào thế giới riêng tư của mình.
Và họ đã mau mắn đáp lời, đã đến, và đã thấy nơi Ngài đang ở lại.
Lúc đó đã bốn giờ chiều rồi.
Thầy Giêsu hẳn đã giữ họ lại, vì sợ họ về trời tối đường xa.
Ngày hôm ấy họ đã ở lại với vị Thầy mới quen.
Qua cuộc chuyện trò suốt đường đi, nhất là khi về nhà,
họ đã có kinh nghiệm cá nhân về con người Thầy Giêsu,
kinh nghiệm đầu tiên, chưa thật sâu, nhưng không sao quên được.
Họ đã ở lại nhà Thầy, đã bị lôi cuốn bởi nhân cách của Thầy,
và thấy Thầy chính là Đấng mà họ đang tìm kiếm.
“Chúng tôi đã tìm thấy Đấng Mêsia” nghĩa là Đấng Kitô.
Anrê vui sướng reo lên như vậy khi ông gặp Simon trước tiên.
Anrê là một trong hai người đã đi theo và ở lại nhà Đức Giêsu.
Bây giờ ông coi Thầy Giêsu là Đấng Mêsia, chứ không chỉ là một rabbi,
nên ông nóng lòng muốn đưa Simon đến tiếp xúc với Ngài.
Thầy Giêsu đặt cho Simon một tên mới, tên này người Do Thái ít dùng.
Anh sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Đá, là Thạch (c.42).
Không thấy Simon nói gì hay dẫn ai đến gặp ngay Đức Giêsu.
Phải đợi sau này ta mới nghe ông đại diện anh em tuyên xưng:
Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa (6,69).
Chúng ta sắp mừng Lễ Hiển Linh, Lễ Chúa tỏ mình cho con người.
Chúa đã tỏ mình cho Gioan, Anrê và Simon qua gặp gỡ trực tiếp,
nhưng Chúa cũng tỏ mình cho họ qua người khác giới thiệu.
Chúng ta cần những người có kinh nghiệm sâu lắng với Đức Giêsu,
để giúp Ngài được hiển linh trong thế giới hôm nay.
Cầu nguyện:
Lạy Thầy Giêsu,
Thầy là vị Tôn Sư tuyệt vời.
Thầy gọi các môn đệ theo Thầy
đi trên những nẻo đường quanh co của xứ Pa-lét-tin.
Thầy không mở trường, không viết sách.
Thầy giúp môn đệ học bài học của Thầy,
bài học của trái tim, hiền lành và khiêm tốn.
Thầy dạy học trên đường.
Thầy tập cho môn đệ nhìn những biến cố mỗi ngày
với cái nhìn của Thiên Chúa.
Thầy giúp họ thấy giá trị nơi đồng xu nhỏ của bà góa nghèo,
thấy vẻ đẹp của hoa huệ, và sự vô tư của chim trời.
thấy nét cao quý của trẻ thơ, và phẩm giá của người phụ nữ.
Thầy tập cho họ trưởng thành,
tập đương đầu ban đêm một mình với sóng gió,
tập tin vào Thiên Chúa khi phải nuôi ăn đám đông,
tập can trường đối diện với cái chết nhục nhã và đau đớn.
Thầy kéo họ ra khỏi cái tôi háo danh
khi họ cãi nhau trên đường xem ai là người lớn nhất,
Thầy đòi họ bỏ mọi sự mà theo Thầy,
và đặt Thầy lên trên cả mạng sống và tình ruột thịt.
Lạy Thầy Giêsu,
Khoa sư phạm của Thầy là huấn luyện môn đệ bằng tình yêu.
Một tình yêu kiên nhẫn khi họ yếu đuối và cứng lòng.
Một tình yêu bênh vực và bảo vệ lúc họ bị tấn công.
Một tình yêu chia sẻ khi cho họ cộng tác trong sứ vụ.
Thầy đã diễn tả tình yêu đến cùng của Thầy
khi cúi xuống rửa chân cho họ.
Xin cho chúng con suốt đời học với Thầy,
nhận Thầy mãi mãi là vị Tôn Sư của chúng con.
Và cùng với Thầy, chúng con đi khắp thế gian,
để làm cho muôn dân thành môn đệ.
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
NGÀY 4 THÁNG 1
(Ga 1,35-42):
ĐẾN VÀ Ở LẠI VỚI THẦY
Chuyện hai môn đệ có dấu vết những hoài niệm về một vài môn đệ. Nhưng dưới ngòi bút của tác giả, truyện mang tính điển hình để chia sẻ với độc giả cái nhìn về đời môn đệ. Các biến cố xảy ra rất nhanh, trong cái khung giả tạo bảy ngày: các môn đệ đầu tiên đến gặp Đức Giêsu, rồi Đức Giêsu gọi Phêrô, Philípphê, Nathanaen. Cuối cùng toàn chương kết thúc với lời Đức Giêsu long trọng mạc khải về chính mình: “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên sứ của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người” (Ga 1,51).
Trước khi truyện đạt tới đỉnh cao này, tác giả ghi lại lời chứng của Gioan. “Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa”” (Ga 1,36). Lời này nhắc lại lời nói trong hoạt cảnh ở c. 29, chỉ khác là thuộc về ngày hôm sau.
Ta thấy đây là “cấu trúc trôn ốc” quen thuộc của tác giả. Ngài thường xuyên trở lại với những đề tài cũ, cứu xét chúng từ những viễn tượng khác, thăm dò, và chia sẻ với các độc giả sự phong phú đặc biệt của những thực tại ngài đề cập đến (x. Ga 20,19-23).
Lời mời gọi và lời hứa của Đức Giêsu hết sức quan trọng: “Hãy đến và các anh sẽ thấy!”. Tất cả mọi chuyện đều nhắm đến cuộc gặp gỡ sống động và riêng tư. Đức Giêsu không giao cho những kẻ đi theo Người một quyển sách chứa đựng các giáo thuyết và điều luật phải học và phải tuân giữ, nhưng Người kêu gọi họ đi vào một tương quan riêng tư với Người, đi vào hiệp thông với Người. Phần họ, họ không được giữ một khoảng cách an toàn với Người để mà chỉ việc quan sát, nhưng phải dấn thân vào, phải đi với Người, phải đưa bước trên nẻo đường Người đi.
Việc Chúa kêu gọi không xảy ra tức khắc trong một lần, nhưng diễn tiến tuần tự, chậm rãi với mức độ tăng dần, tuỳ sự đón nhận của người nghe.
Thoạt tiên là một lời kêu gọi nhẹ nhàng qua một thiên hướng, một ước nguyện của người thân, một gương mẫu, một thần tượng. Ta thấy Anrê và Gioan, đó là thiên hướng đi tìm lý tưởng.
Sau đó, Chúa có thể dùng các trung gian dẫn ta đến với Chúa. Trong trường hợp Samuel, người trung gian là thày cả Hêli. Còn trong trường hợp Anrê và Gioan, thánh Gioan Baotixita đã làm trung gian đưa hai môn đệ đến với Đức Giêsu.
Lời mời gọi của Chúa Giêsu là một biểu lộ của Tình Yêu. Ngài mời gọi chúng ta theo Ngài để sống thánh thiện, để chia sẻ hạnh phúc với Ngài. Ngài còn mời gọi chúng ta cộng tác với Ngài trong công tác rao giảng Tin Mừng, cứu độ nhân loại. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta cách trực tiếp qua tiếng nói nội tâm của ta, với các sinh hoạt, các sự kiện, các biến cố trong đời sống của ta. Chúa Giêsu còn mời gọi chúng ta qua sự giới thiệu của người khác , bằng gương sáng lời dạy dỗ, khuyên răn, an ủi, khích lệ. Như Thánh Gioan Tẩy Giả đã dạy dỗ các môn đệ của ông, và khi có sự kiện cụ thể. Ông còn giúp các môn đệ nhận ra Chúa sâu xa bằng cảm nghiệm nữa, chứ không chỉ bằng tri thức mà thôi: Ông Goan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông, thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: “ Đây Chiên Thiên Chúa”. Nghe vậy, hai môn đệ liền đi theo Đức Giêsu. Thấy các ông đi theo mình, Chúa Giêsu bắt chuyện trước: “ Các anh tìm gì thế?” Họ đáp: “ Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” Chúa Giêsu bảo họ: “ Đến mà xem”.
Họ đến xem chỗ Ngài ở và ở lại với Ngài ngày hôm ấy. Như vậy, để trở nên môn đệ Chúa Giêsu, các ông đã thực hiện ba việc: Tìm kiếm Chúa tức là học hỏi, suy niệm về Chúa.
Sau khi gặp Đức Giêsu, Anrê vội vã đi tìm em là Phêrô để dẫn đến giới thiệu với Người. Từ đó, Anrê theo Đức Giêsu cho đến cuối đời. Ông đã đem chính mạng sống làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa. Ông đã đổ máu ra để chứng thực tình yêu ấy. Ông dám khước từ cuộc sống trần gian vì ông đã biết đến hạnh phúc đích thực trong tình yêu Thiên Chúa. Tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa mời gọi đến sống thân mật với Người trong tình Cha-Con thắm thiết.
Bước theo Chúa tức là sống theo mẫu gương của Chúa. Ở lại với Chúa, tức là thuộc về Chúa trọn vẹn sống gắn bó với Chúa. Đó là những điều kiện rất cần thiết để ta hiểu Chúa, yêu mến Chúa, cảm nghiệm sâu xa về Chúa để nói về Chúa cho người khác cách đúng đắn, trung thực như Anrê nói với ông Simon “ Tôi đã gặp thấy Đấng Mêssia” cảm nghiệm ấy càng ngày càng thấm nhập vào lòng trí, tâm hồn các ông, nên khi gặp lại Chúa Giêsu bên bờ biển, khi các ông cùng với gia đình đánh cá, vá lưới, Chúa mời gọi các ông: “ Hãy theo Ta”, các ông đã dứt khoát bỏ mọi sự đi theo Chúa Giêsu và trở nên các môn đệ đầu tiên của Ngài. Gặp gỡ, chiêm ngắm và ở lại với Chúa cũng là phương cách Chúa dùng để đào tạo các môn đệ nhiệt huyết của Ngài.
Nếu ta trung thành đáp trả mỗi khi nghe tiếng Chúa kêu gọi, Chúa sẽ tiếp tục gọi ta đi vào những đoạn đường mới, mỗi lúc một khó khăn hơn. Tiếng Chúa mời gọi mỗi lúc một mãnh liệt hơn, đòi hỏi ta phải trả lời mỗi lúc một dứt khoát hơn. Cho đến một thời điểm quyết định, Chúa sẽ đưa ra lời mời gọi cuối cùng đòi ta trọn vẹn dấn thân lên đường theo Chúa. Với Samuel, việc Chúa ba lần cất tiếng gọi chứng tỏ Chúa tha thiết muốn tuyển chọn ông. Với Anrê và Gioan, việc Đức Giêsu mời hai ông đến chỗ Ngài ở đã khiến hai ông phải dứt khoát với quá khứ để bắt đầu một giai đoạn mới.
Tuyệt đỉnh của ơn gọi không phải là làm việc cho Chúa, nhưng là sống thân mật với Chúa. Chúa không kêu gọi ta theo một chủ thuyết nhưng kêu gọi ta theo Chúa. Ta đến với Chúa không phải để học những bài học lý thuyết nhưng để tham dự vào sự sống của Chúa. Sự sống của Chúa là sự sống thần linh nâng ta lên hưởng nếm sự ngọt ngào của tình Cha – Con thắm thiết. Sự sống của Chúa là tình yêu đưa ta vào hạnh phúc của người biết mình được yêu thương.
Hạnh phúc sống trong tình yêu Thiên Chúa lớn lao đến độ biến đổi toàn bộ cuộc đời ta. Ai đã một lần nếm cảm sẽ không còn mơ ước điều gì khác nữa.
Sau khi được tiếp xúc thân mật với Chúa, trọn cuộc đời Samuel hoàn toàn dâng hiến cho Chúa. Sau một buổi chiều thân mật sống với Đức Giêsu, hai tông đồ Anrê và Gioan gắn bó với Người, cho đến chết vì Người.
Cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa rồi, ta sẽ không thể làm điều gì khác hơn là ra đi làm chứng về tình yêu đó. Giống như dòng suối sung mãn tràn xuống thành thác, tâm hồn tràn đầy tình yêu sẽ cất lên thành lời ca tụng, giới thiệu tình yêu Thiên Chúa cho mọi người.
Nói về Chúa Giêsu cho người khác biết. Ta thấy được gương tốt của Thánh Anrê tông đồ. Anrê đã đến và xem chỗ Chúa Giêsu ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy (Ga 1,39-40). Trong khoảng thời gian rất ngắn ngủi này, Anrê đã nhận ra Đức Giêsu là Đấng Mêsia, nghĩa là Đấng Kitô. Anrê đã không thể không nói cho người thân của mình là Simon em ông biết (Ga 1,41). Chắc chắn hai anh em đã trao đổi với nhau về Chúa Giêsu, trước khi Anrê dẫn em mình đến gặp Chúa Giêsu. Gặp được Chúa Giêsu là đổi tên, là đổi đời: “Anh sẽ được gọi là Kê-pha (là Đá Tảng) (Ga 1,42).”.
Ta cầu xin Chúa ban cho ta biết nghe tiếng Chúa mời gọi, và sẵn sàng từ bỏ mọi sự thế gian, sống theo Chúa, làm môn đệ của Chúa, giới thiệu Chúa cho người khác thật hăng say, cho nước Chúa lan rộng khắp nơi, và nhiều người được cứu độ. Đó là những đòi hỏi của Mầu Nhiệm Giáng Sinh đang thúc bách ta.
Huệ Minh