31 tháng 12
ễ mùa giáng sinh
31/12/2016
Thứ Bảy Mùa Giáng Sinh Năm chẵn
1 Ga 2, 18-21; Ga 1, 1-18
NHẬP THẾ VÀ NHẬP THỂ
Những câu đầu tiên của Tin Mừng theo Thánh Gioan được nhiều học giả coi như là một Lời Tựa long trọng của tác phẩm: giọng văn của phân đoạn này cũng như các đề tài chính của Tin Mừng được hàm chứa trong đó biện minh cho nhận định này. Đối với những tác giả khác, Lời Tựa là như phần Mở của Tin Mừng, theo nghĩa là một vở nhạc kịch có một phần mở: các đề tài chính sẽ được nhắc lại trong phần thân của Tin Mừng (sự sống, ánh sáng, sự thật, vinh quang, Con, tin, làm con Thiên Chúa, thế gian, bóng tối,v.v...).
Và rồi có những tác giả khác cho rằng Lời Tựa là một bản văn theo đúng quy luật viết văn thời Thượng Cổ Hy Lạp và Latin nhằm giúp độc giả hiểu các mục tiêu của bài tường thuật đến sau, nghĩa là cung cấp cho độc giả các phương tiện giúp họ biết được đối tượng và diễn tiến của bài tường thuật.
Sau cùng, có một số tác giả cho rằng câu 1-18 còn hơn là một lời tựa hay một phần mở nữa; các câu ấy chính là Tin Mừng trong một cái nhìn tổng hợp và sâu sắc, tất cả phần còn lại chỉ lấy lại sứ điệp mà diễn tả chi tiết bằng những câu truyện, qua đó ta thấy Ngôi Lời đã đến trong thế gian này và chia loài người thành hai khối trước mặt Người cách nhiệm mầu.
Khởi đầu Tin Mừng của thánh Gioan hôm nay cho ta thấy xuất xứ của Ðức Giêsu Kitô bởi Thiên Chúa mà ra. Ðức Giêsu Kitô được sinh ra không do xác thịt, cũng không bởi ý muốn của người đàn ông kết hợp với người đàn bà, nhưng bởi Thiên Chúa. Cho nên Ðức Maria đã thắc mắc với thiên thần Gabriel: "Chuyện ấy xảy ra thế nào được vì tôi không biết đến người nam". Thiên thần Gabriel đã giải thích cho Ðức Maria: "Chúa Thánh Thần đến với Trinh Nữ và uy quyền Ðấng Tối Cao sẽ bao phủ Trinh Nữ. Vì thế, Ðấng Trinh Nữ sinh ra sẽ là Ðấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa".
Ngôi Lời là ánh sáng thật : là một biểu tượng quan trọng của Tin Mừng thứ IV để nói về vai trò của Ngôi Lời. Tác giả sẽ dùng công thức “ánh sáng cho trần gian” như một dấu hiệu ở ngay đầu sách, để giúp độc giả nhạy cảm với cặp biểu tượng ánh sáng/bóng tối mỗi khi nó xuất hiện: khi nghe Đức Giêsu tuyên bố Người là “ánh sáng cho trần gian” (8,12), độc giả sẽ hiểu chiều kích biểu tượng của việc chữa cho người mù bẩm sinh thấy, là tin vào Đức Kitô ( ch. 9). Và rồi độc giả cũng sẽ hiểu tại sao Giuđa bỏ Đức Giêsu ban đêm (13, 30), tại sao Maria Madalena đến mộ khi trời còn tối (20, 1), hoặc tại sao các môn đệ ở chương 21 đã đánh cá suốt đêm mà không bắt được gì cho tới khi gặp Đấng Phục Sinh vào buổi sáng.
Ðức Kitô sinh ra bởi quyền phép Thiên Chúa và được gọi là Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập Thể, Ngài mặc lấy thân xác con người như chúng ta và như Gioan Tẩy Giả đã giới thiệu với các môn đệ của ông: "Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa tội trần gian" và ông cũng làm chứng bằng lời nói sau đây: "Ðây là Ðấng tôi tiên báo, Người đến sau tôi nhưng xuất hiện trước tôi, vì Người có trước tôi".
Theo lẽ thường bà chị họ của Ðức Maria là Elizabeth mang thai Gioan Tẩy Giả trước sáu tháng, thì Gioan được nhìn nhận là sinh ra trước Chúa Giêsu. Nhưng Gioan Tẩy Giả lại nói: "Ngài có trước tôi", nghĩa là Gioan muốn nói lên bản tính Thiên Chúa của Ðức Giêsu Kitô.
Ngôi Lời đã trở nên người phàm : Dịch sát là “đã trở thành xác thịt/xác phàm”. Từ ngữ “xác thịt” trong Kinh Thánh không nhắm đến một phần của con người, hoặc thậm chí thân xác của người ấy, mà là con người toàn vẹn, nhưng yếu đuối và mỏng giòn mong manh, một hữu thể phải chịu đau đớn và phải chết.
Ngôi Lời như là ánh sáng thế gian đã đến, điều này được thể hiện trong việc Người“thành xác phàm”, trong việc Người “làm người”. “Trở thành xác phàm” có nghĩa là Ngôi Lời Thiên Chúa đã trở thành một con người thật sự, mỏng giòn và phải chết, và bằng cách đó Người đã đến hiện diện trong thế gian như là ánh sáng cho loài người. Ngôi Lời vô tạo, luôn ở trong một tương quan vĩnh cửu và sống động với Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa, nay vẫn không thôi là Lời Thiên Chúa ấy, lại đồng thời trở thành một con người tất tử.
Thật vậy, qua trang Tin Mừng này, Gioan Tẩy Giả muốn dẫn chứng cho chúng ta con người của Chúa Giêsu Kitô có hai bản tính: Bản tính Thiên Chúa ; Bản tính nhân loại.
Xét theo bản tính Thiên Chúa: thì từ nguyên thủy đã có Ngài, Ngài vẫn ở với Thiên Chúa và Ngài vẫn là Thiên Chúa. Vì Chúa Giêsu là Thiên Chúa cho nên mọi vật đều được Người làm nên, và nếu không có Người thì không có vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được tác thành. Nơi Ngài có sự sống và chính Người là Thiên Chúa.
Gioan nhấn mạnh đến thiên tính của Đức Giêsu. Ngôi Lời cùng hiện hữu với Chúa Cha từ lúc khởi đầu. Đức Giêsu cùng là Đấng có từ đời đời, hiện hữu cùng với Chúa Cha. Khi Ngôi Lời mặc lấy thân xác con người và cư ngụ ở giữa chúng ta, Ngài mang đến cho chúng ta tâm trí, trái tim và chương trình của Thiên Chúa. Chúa Cha hoạt động nơi chúng ta qua Chúa Con là Đức Giêsu. Như thế, lắng nghe Đức Giêsu là lắng nghe Chúa Cha. Đón nhận và tin vào Chúa Con là chấp nhận và tin vào Chúa Cha.
Theo bản tính nhân loại: Chúa Giêsu đã được sinh ra ở làng quê Belem bé nhỏ, nước Do Thái do một Trinh Nữ tên là Maria và một dưỡng phụ là Giuse. Chúa Giêsu đã sống ẩn dật ba mươi năm ở Nazareth, ba năm đi rao giảng nước Thiên Chúa rồi cũng bị bắt bớ, đánh đập và chết trên Thập Giá, an táng trong huyệt đá như mọi người đều biết.
Con Một Thiên Chúa, “trở nên người phàm, và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Người đã mang lấy thân phận con người với tất cả những yếu đuối và giới hạn, ngoại trừ tội lỗi. Người đã khát và phải ngửa tay xin người phụ nữ Samari chút nước uống, Người đã rơi lệ khi hay tin Lazarô qua đời, Người đã chịu đánh đòn, chịu đội mão gai, chịu đóng đinh vào thập giá. Người đã sống và chết như một phàm nhân tội lụy, để “từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1,16). Ơn cao trọng hơn cả là được phục hồi chức vị làm con Thiên Chúa mà con người đã đành tâm đánh mất khi sa ngã phạm tội.
Trong cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu, Ngài luôn luôn nhắc nhở đến sứ mệnh là phải chu toàn công việc Cha Ngài ủy thác, Ngài luôn luôn đề cao sự kết hợp mật thiết giữa Ngài với Chúa Cha và cả hai cùng làm việc không ngừng. Ngài cũng nhắc đến Chúa Thánh Thần sẽ được sai đến để tiếp tục công việc cứu rỗi của Ngài ở trần gian cho đến khi Ngài lại đến.
Chúa Giêsu đem ơn cứu rỗi đến cho nhân loại, vì trước Chúa Giêsu, chưa có ai nhận được ơn cứu rỗi kể từ lúc Adam và Evà phạm tội. Vì thế, bài Tin Mừng hôm nay đề cập đến sự sung mãn của Chúa Giêsu mà hết thảy chúng ta được tiếp nhận từ ơn này tới ơn khác. Bởi vì Chúa ban lề luật qua Môisen, nhưng ơn thánh và chân lý thì được ban qua Ðức Giêsu Kitô.
Sự Nhập Thể đó được diễn tả trong trang Tin Mừng hôm nay: Và Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”. Theo tiếng Hy Lạp chữ “cư ngụ giữa chúng ta” có nghĩa là: “Thiên Chúa cắm lều của Ngài ởgiữa chúng ta”. Biến cố vĩ đại này của Thiên Chúa đi vào lịch sử nhân loại trong con người của Hài Nhi Giêsuđược gọi là sự Nhập Thể: Thiên Chúa mang lấy thân xác con người.
“Ngôi Lời trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”. Giáo Hội dùng từ “Nhập Thể” để nói lên sự kiện ConThiên Chúa đã mặc lấy bản tính loài người, để thực hiện ơn cứu độ ngay trong bản tính đó. “Nơi Chúa Kitô,chân lý của Thiên Chúa đã được bày tỏ cách trọn vẹn”. “Với sự Nhập Thể của Người, một cách nào đó ConThiên Chúa đã nên một với mọi người”. Đó là cách biểu lộ tuyệt hảo tình yêu Thiên Chúa đối với con người.
Huệ Minh
Ngôi Lời đã thành người
Lời Chúa: Ga 1, 1-18
Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.
Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa,
và Ngôi Lời là Thiên Chúa.
Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa.
Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành,
và không có Người,
thì chẳng có gì được tạo thành.
Ðiều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống,
và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.
Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối,
và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.
Có một người được Thiên Chúa sai đến,
tên là Gioan.
Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng,
để mọi người nhờ ông mà tin.
Ông không phải là ánh sáng,
nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.
Ngôi Lời là ánh sáng thật,
ánh sáng đến thế gian
và chiếu soi mọi người.
Người ở giữa thế gian,
và thế gian đã nhờ Người mà có,
nhưng lại không nhận biết Người.
Người đã đến nhà mình,
nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.
Còn những ai đón nhận,
tức là những ai tin vào danh Người,
thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.
Họ được sinh ra, không phải do khí huyết,
cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,
hoặc do ước muốn của người đàn ông,
nhưng do bởi Thiên Chúa.
Ngôi Lời đã trở nên người phàm
và cư ngụ giữa chúng ta.
Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người,
vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người,
là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.
Ông Gioan làm chứng về Người, ông tuyên bố:
“Ðây là Ðấng mà tôi đã nói:
Người đến sau tôi,
nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.”
Từ nguồn sung mãn của Người,
tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.
Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môsê,
còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Ðức Giêsu Kitô mà có.
Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ;
nhưng Con Một là Thiên Chúa
và là Ðấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha,
chính Người đã tỏ cho chúng ta biết.
Suy niệm:
Ông Soren Kierkegaard, một triết gia người Đan Mạch, kể chuyện sau.
Một vị vua bỗng dưng đem lòng thương cô thôn nữ nghèo.
Ông tin rằng mình có thể dùng quyền vua để cưới cô ấy làm vợ.
Nhưng ông lại sợ cô lấy ông chỉ vì nể phục chứ không yêu.
Như thế tương quan giữa hai người không được trọn vẹn.
Sau khi suy nghĩ, ông thấy chỉ có cách là thực sự từ bỏ ngai vàng,
trở thành một anh nông dân nghèo, và bày tỏ tình yêu mình cho cô.
Vị vua biết làm thế là liều lĩnh, vì ông có thể mất cả cô lẫn ngôi báu.
Cô có thể chê chàng nông dân, hay chê quyết định dại dột của vị vua.
Nhưng nhà vua vẫn dám liều, vì ông quá yêu cô thôn nữ,
và ông muốn đây là một mối tình thực sự.
Câu chuyện cảm động trên đây đưa ta vào chuyện tình
đã xảy ra giữa Ngôi Lời Thiên Chúa và nhân loại.
Ngôi Lời còn cao trọng hơn vị vua kia bội phần.
Ngài là Thiên Chúa Con Một, dựng nên vạn vật (cc. 3. 18).
Ngài là Đấng duy nhất thấy Thiên Chúa và ở trong lòng Thiên Chúa,
nên chỉ Ngài mới có thể bày tỏ Thiên Chúa cho nhân loại (c.18).
Ngài tràn đầy ân sủng và sự thật, sự sống và ánh sáng (cc. 3. 14).
Tất cả những điều ấy là quà tặng của Ngôi Lời cho con người.
Nhưng quà tặng lớn lao và bất ngờ nhất làm ta ngỡ ngàng, reo vui,
đó là biến cố Ngôi Lời trở nên người phàm và ở giữa chúng ta (c. 14).
Con Thiên Chúa trở nên con của loài người và mang tên Giêsu (c. 17).
Ngài mang khuôn mặt của ta, đứng chung một dòng tiến hóa với ta.
Ngài dựng lều trên trái đất, một hành tinh bé xíu nhưng tuyệt vời,
vì đã được ghi dấu chân Con Thiên Chúa.
Ông Luther viết: “Ngài đã ăn, uống, ngủ, thức;
Ngài đã cảm thấy chán nản, biết buồn, biết vui.
Ngài khóc, cười, đói, khát; Ngài đổ mồ hôi; Ngài vất vả, cầu nguyện,
đến nỗi giữa Ngài với ta không có dị biệt nào, tuyệt nhiên không,
ngoại trừ Ngài là Thiên Chúa và Ngài vô tội.”
Khác với vị vua không muốn làm vua nữa để thành nông dân,
Ngôi Lời khi thành người vẫn là Con Thiên Chúa dưới dạng tự hủy.
Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật.
Nếu Ngài chỉ là một con người hay một bậc vĩ nhân,
thì Ngài chỉ đáng ta kính trọng chứ không phụng thờ.
Nếu Ngài chỉ là một Thiên Chúa đội lốt người, chứ không là người thật,
thì Ngài không thể cứu độ và thần hóa con người.
Lễ Giáng sinh là lễ hội của mọi người trên mặt đất
vì Con Thiên Chúa đã muốn chia sẻ phận người của chúng ta.
Ngài đã đến với thế giới này như nhà của Ngài (cc. 9. 11).
Chỉ cần nhận biết, tin vào Ngài, đưa Ngài vào nhà (cc. 10-12)
là chúng ta được trở nên con cái Thiên Chúa.
Hơn hai ngàn năm đã trôi qua, Đức Giêsu vẫn đứng ngoài để chờ.
Có ai mở cửa cho Ngài không? (Kh 3, 20).
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa,
Chúa đã muốn trở nên con của loài người,
con của trái đất, con của một dân tộc.
Chúa vẫn yêu mến dân tộc của Chúa
dù họ từ khước Tin Mừng
và đóng đinh Chúa vào thập giá.
Xin cho chúng con biết yêu mến quê hương,
một quê hương còn nghèo nàn lạc hậu
sau những năm dài chiến tranh,
một quê hương đang mở ra trước thế giới
nhưng lại muốn giữ gìn bản sắc dân tộc
và bảo vệ nền đạo lý của cha ông.
Xin cho chúng con đừng nhắm mắt ngủ yên
trong sự an toàn và tiện nghi vật chất,
nhưng biết trăn trở trước nỗi khổ đau,
và làm một điều gì đó thật cụ thể
cho những đồng bào quanh chúng con.
Ước gì chúng con biết phục vụ đất nước
bằng khối óc, quả tim và đôi tay.
Và ước gì chúng con biết khiêm tốn
cộng tác với muôn người thiện chí.
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
30-12-2016