Suy Niệm Hàng Ngày
của Huệ Minh
19-12 trước lễ giáng sinh
*19/12/2016
DUNG MẠO MẸ MARIA TRONG TRÌNH THUẬT TRUYỀN TIN
Thánh Luca là tác giả để lại nhiều dữ liệu nhất về Đức Maria trong tất cả các các tác giả sách Tân Ước. Ngài có nhiều đoạn trình thuật về những biến cố cụ thể trong cuộc lự hành đức tin của Mẹ Maria. Cả năm biến cố trong “Mầu nhiệm 5 sự vui” của Kinh Mân Côi đều nằm trong số những trình thuật của thánh Luca.
Các biến cố : Truyền tin; Đức Maria đi viếng chị họ Elisabet; Đức Mẹ sinh Đức Giê-su trong hang đá; Đức Mẹ dâng Đức Giêsu trong đền thánh và Đức Mẹ tìm gặp Đức Giêsu trong đền thánh. Trong từng biến cố ấy, thánh Luca đều phác họa lên những nét đẹp rất riêng về Đức Mẹ Maria. Và rồi, ta dừng lại một chút để ta nhìn thấy những nét đẹp của Đức Maria trong trình thuật “Truyền Tin” (Lc 1,26-38).
Phải nói rằng “biến cố Truyền Tin” là biến cố hết sức trọng đại cho cuộc đời Đức Maria cách riêng và cho Giáo Hội nói chung bởi lẽ chính qua biến cố ấy mà Thiên Chúa thực hiện lời hứa cứu độ từ ngàn đời, đánh dấu bằng việc Nhập Thể, nhập thế của Ngôi Hai Thiên Chúa. Hẳn nhiên, có rất nhiều ý nghĩa thần học được nói đến trong trình thuật “Truyền Tin” nhưng ở đây chỉ xin để ý đường nét làm nên chân dung tuyệt vời của Mẹ Maria.
Trong trình thuật này, ta thấy chân dung Mẹ Maria vẽ lên với ít nhất các đặc tính về Mẹ.
Đại diện cho dân thánh, Mẹ là thiếu nữ Sion được đón nhận ân sủng của Thiên Chúa.
Mở đầu với biến cố “Tuyền tin” thiên cứ vào nhà của Đức Maria và chào rằng: “Mừng vui lên”. Đây là cụm từ đượng Kinh Thánh Cựu Ước sử dụng ít nhất 3 lần (Xp 3,14; Dcr 9,9; Ge 2,21) khi mời gọi Thiếu Nữ Sion hãy vui lên vì thời Đấng Mêsia đã gần đến. Lời mời gọi này nhắm đến niềm vui cánh chung khi Thiên Chúa cứu độ dân Ngài. Sau này, các giáo phụ thường xem Đức Maria chính là thiếu nữ Sion ấy, người đại diện cho toàn dân Israel để đón nhận lời mời gọi của thiên sứ và mở ra kỷ nguyên cứu độ cho dân Israel và toàn thể nhân loại.
“Bà được sủng ái, nghĩa là Thiên Chúa đã ban cho bà cách vĩnh viễn ân sủng của Người, sự sủng ái của Người, sự bằng lòng của Người. Tình yêu đầy nhân ái của Người được ngỏ với bà”. Thiên thần nói tiếp: “Vì bà đẹp lòng Thiên Chúa” (1, 30); câu này diễn tả ý nghĩa của cụm từ “bà đầy ân sủng”. Đặc điểm này nơi Đức Maria nổi bật đến nỗi thiên thần đã chào người không bằng tên riêng “Maria”, mà bằng “Bà-được-sủng-ái” như một tên riêng mới. Quan hệ của Thiên Chúa với Mẹ được diễn tả ra như thế. Nền tảng ơn gọi của Đức Maria và của mọi niềm vui được xác định như thế. Hầu như có thể nói “Maria” là tên Mẹ đã nhận được từ cha mẹ; còn “Bà-đầy-ân-sủng được-sủng-ái” là tên đã được Thiên Chúa ban cho Mẹ.
Với quyền năng của Chúa và trong quyền năng của Chúa, Mẹ là Đấng đầy ân sủng. Lời sứ thần chào Mẹ lúc truyền tin, lời mời Mẹ vui lên vì ơn cứu độ nay đã đến. Mẹ đầy ân sủng vì được Thiên Chúa đặc biệt yêu thương. Tình thương Chúa chở che Mẹ ngay từ lúc chưa chào đời, và tình thương ấy còn bao bọc Mẹ mãi mãi.
Mẹ được tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế, nên Mẹ được giữ gìn khỏi vết nhơ nguyên tội.
Mẹ Maria chắc hẳn đã không khỏi ngỡ ngàng vì tên gọi mới mà thiên sứ đặt cho mình: “Đấng đầy ân sủng”. “Đấng đầy ân sủng” là cụm từ được bản dịch Vulgata sử dụng. Đây là tên gọi rất đẹp và rất đặc biệt. Theo nguyên ngữ “kêkharitômênê” có nhiều nghĩa khác nhau như: duyên dáng, dễ thương, vừa lòng Thiên Chúa… Động tính từ “kêkharitômênê” được chia ở thì hoàn thành cho thấy Đức Maria đã, đang và sẽ là người tràn đầy ân sủng Chúa ban và đẹp lòng Thiên Chúa trong mọi việc.
Niềm hạnh phúc vô bờ vì Mẹ được Thiên Chúa ở cùng.
“Đức Chúa ở cùng bà”, câu này nhắm tới sự giúp đỡ của Thiên Chúa. Đây không phải là một sự hiện diện tổng quát (và mơ hồ) của Thiên Chúa, nhưng là sự trợ giúp thực sự, hữu hiệu. Lời đảm bảo này chỉ được ban cho những vĩ nhân được kêu gọi trong lịch sử dân Thiên Chúa (Giacóp, Môsê, Giôsuê, Ghít-ôn, Đavít). Thiên Chúa không chỉ giới hạn vào việc kêu gọi, rồi bỏ mặc người ta, nhưng đồng hành với họ và làm cho họ có khả năng chu toàn nhiệm vụ. Người đảm bảo là Người hiện diện và trợ giúp họ thường xuyên. “Đức Chúa ở cùng bà” sẽ được chứng thực bằng cuộc chào đời của con trẻ.
Lời của sứ thần “Thiên Chúa ở cùng bà” vừa diễn tả thực tiễn vừa là lời chúc. Thiên Chúa ở cùng là một ân sủng nhưng cũng kèm theo một trách vụ. Trong Cựu Ước khi các ngôn sứ nhận lãnh một trách vụ thì đồng thời họ cũng được bảo đảm là Thiên Chúa ở cùng họ. Như thế, Thiên Chúa ở cùng Mẹ để Mẹ đủ sức mang trọng trách làm Mẹ Đức Giê-su, Con Thiên Chúa làm người. Đức Chúa ở cùng nên Mẹ mới tràn đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng thì Mẹ mới dám can đảm đón nhận sứ mạng và Đức Chúa ở cùng thì Mẹ mới đủ sức cho sứ mạng tương lai.
Điều tuyệt diệu mà ta thấy là Mẹ đẹp lòng Thiên Chúa, Mẹ làm vừa lòng Thiên Chúa. Cụm từ này xác nhận lại tên gọi “Đấng đầy ân sủng” mà sứ thần đã gọi Đức Maria trước đó. Mẹ đẹp lòng Thiên Chúa, vừa lòng Thiên Chúa hay Thiên Chúa ưng ý về Mẹ. Đức Maria thực sự đẹp lòng Thiên Chúa không phải do chính công đức của Mẹ nhưng trên hết là do ân sủng mà Thiên Chúa ban cho. Thiên Chúa đã chọn lựa và đã làm cho Mẹ trở nên xứng đáng để mang thai Con Thiên Chúa làm người.
Và hết sức khiêm tốn, Mẹ nhận Mẹ là nữ tỳ của Thiên Chúa. Đây chính là tước hiệu mà Đức Mẹ tự nhận về mình trước thiên sứ, trước một sứ mạng cao cả Thiên Chúa trao ban cho Mẹ. Truyền thống Giáo Hội dựa vào điểm này để tôn vinh sự khiêm hạ của Mẹ Maria hay nói đúng hơn là Mẹ đã nhìn nhận đúng thân phận và vị trí của mình. Trong “năm mầu nhiệm vui” của Kinh Mân côi, khi suy gẫm mầu nhiệm thứ nhất: “thiên thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai” thì lời cầu xin là: “cho được ở khiêm nhường”. Có thể hơi khập khiểng khi lấy lời cầu nguyện của Kinh Mân Côi minh giải cho ý tưởng của Kinh Thánh. Tuy nhiên, quả thật truyền thống Giáo Hội đã thừa nhận sự khiêm nhường của Đức Maria trong lời bộc bạch: “Tôi là tôi tớ Chúa” và đã lấy đó làm mẫu gương cho đời sống khiêm nhường của mình.
Tuyệt đỉnh của lời xin vâng mà Mẹ thưa với sứ thần : “Xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói” Sau khi nhìn nhận mình là “tôi tớ” là nữ tỳ, Đức Maria đã thưa lên cùng Chúa: “Xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói”. Đây là câu nói khá lạ lùng vì mạch văn đang kể lại cuộc đối thoại giữa Đức Maria và sứ thần nhưng trong câu này thì Đức Maria lại thưa lên cùng Thiên Chúa. Điều này chứng tỏ rằng Đức Maria đặt mình trong tương quan với chính Chúa trong cuộc gặp gỡ này. Cuộc đối thoại của thiên sứ và Đức Maria kết thúc, giờ đây Đức Maria đã sẵn lòng hướng lên Thiên Chúa, mở lòng đón nhận sứ mạng Ngài trao gởi mặc cho những uẩn khúc trong lòng và khó khăn trước mắt.
Tiếng xin vâng khó khăn nhất của Mẹ Maria là tiếng xin vâng dưới chân thập giá. Những lời thiên thần nói ngày xưa có còn đáng tin không? Chỉ khi Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra với Mẹ tất cả những tiếng xin vâng trong đời mới bừng sáng trọn vẹn và rực rỡ ý nghĩa.
Đây là đoạn đỉnh điểm và cũng là đoạn kết tuyệt vời nhất của trình thuật về biến cố “truyền tin” cho Đức Mẹ. Đức Mẹ khiêm tốn xin Thiên Chúa thi hành thánh ý Ngài trên cuộc đời Mẹ. Đó là ưu phẩm tuyệt vời nhất của Đức Mẹ. Ưu phẩm ấy có tên là “Xin Vâng”. Ngoài Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa là cội nguồn và kiểu mẫu duy nhất cho sự vâng lời khi Ngài vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá thì chỉ có Đức Maria, thụ tạo duy nhất có được bản “copy” vâng lời giống với bản chính, rõ ràng, sáng sủa nhất.
Lời xin vâng của Mẹ Maria có ý nghĩa đặc biệt không phải cho riêng cuộc đời Mẹ nhưng khi đặt trong viễn ảnh Mầu Nhiệm Cứu Độ. Chính sự xin vâng ấy đã khởi đầu cho hành trình làm người của Con Thiên Chúa. Qua đó, Thiên Chúa thực hiện lời hứa, biểu lộ lòng thành tín của Ngài thực thi công trình cứu độ của Ngài trên nhân loại. Mẹ xin vâng không phải vì chính Mẹ nhưng mang lấy vận mạng của toàn nhân loại.
Huệ Minh
Chuẩn bị sẵn sàng
Lời Chúa: Lc 1, 5-25
Thời vua Hêrôđê cai trị miền Giuđê, có một vị tư tế thuộc nhóm Avia, tên là Dacaria; vợ ông là bà Elisabét cũng thuộc dòng tộc tư tế Aharon. Cả hai ông bà đều là người công chính trước mặt Thiên Chúa, sống đúng theo mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa, không ai chê trách được điều gì. Nhưng họ lại không có con, vì bà Êlisabét là người hiếm hoi. Vả lại, cả hai đều đã cao niên.
Sau đây là chuyện xảy ra trong lúc ông đang lo việc tế tự trước nhan Thiên Chúa theo phiên của nhóm ông. Trong cuộc bắt thăm thường lệ của hàng tư tế, ông đã trúng thăm được vào dâng hương trong Ðền Thờ của Ðức Chúa, còn toàn dân đông đảo thì cầu nguyện ở bên ngoài, trong giờ dâng hương. Bỗng một sứ thần của Chúa hiện ra với ông, đứng bên phải hương án. Thấy vậy, ông Dacaria bối rối, và nỗi sợ hãi ập xuống trên ông. Nhưng sứ thần bảo ông: “Này ông Dacaria, đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin: bà Êlisabét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gioan. Ông sẽ được vui mừng hớn hở, và nhiều người cũng được hỷ hoan ngày con trẻ chào đời. Vì em bé sẽ nên cao cả trước mặt Chúa. Rượu lạt rượu nồng em sẽ đều không uống. Và ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần. Em sẽ đưa nhiều con cái Ítraen về với Ðức Chúa là Thiên Chúa của họ. Ðược đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Êlia, em sẽ đi trước mặt Chúa, để làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, để làm cho tâm tư kẻ ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay, và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa.” Ông Dacaria thưa với sứ thần: “Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy? Vì tôi đã già, và nhà tôi cũng đã lớn tuổi.” Sứ thần đáp: “Tôi là Gáprien, hằng đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, tôi được sai đến nói với ông và loan báo tin mừng ấy cho ông. Và này đây, ông sẽ bị câm, không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ông đã không tin lời tôi, là những lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời đúng buổi.” Dân chúng đợi ông Dacaria, và lấy làm lạ sao ông ở lại trong cung thánh lâu như thế. Lúc đi ra, ông không nói với họ được, và dân chúng biết là ông đã thấy một thị kiến trong cung thánh. Còn ông, ông chỉ làm hiệu cho họ và vẫn bị câm.
Khi thời gian phục vụ ở Ðền Thờ đã mãn, ông trở về nhà. Ít lâu sau, bà Êlisabét vợ ông có thai, bà ẩn mình năm tháng. Bà tự nhủ: “Chúa đã làm cho tôi như thế đó, khi Người thương cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu trước mặt người đời.”
Suy niệm:
Ở nước Do Thái, vợ chồng lấy nhau mà không con nối dõi
là một điều bất hạnh, thậm chí là một hình phạt của Thiên Chúa.
Chúng ta không rõ hai ông bà Dacaria và Êlisabét
đã sống với nhau bao lâu mà không có con.
Chỉ biết bây giờ ông đã cao niên rồi, và bà đã quá tuổi sinh sản (c. 7).
Hai vợ chồng già đã kiên nhẫn cầu xin và chờ đợi trong nhiều năm.
Có vẻ Đức Chúa ngoảnh mặt đi, không nghe lời họ,
dù cả hai đều thuộc dòng tộc tư tế Aharon và rất mực đạo đức (cc. 5-6).
Bây giờ họ có còn hy vọng nữa không?
Chính khi ta thất vọng, thì Chúa đến loan báo Tin Vui (c. 19).
Tư tế Dacaria may mắn trúng thăm, nên ông được vào Nơi Thánh
để lau hương án và dâng hương mới.
Tại nơi thâm nghiêm này, khi ông lo việc tế tự,
ông được sứ thần Chúa báo tin về đứa con sắp chào đời của mình.
Gioan, nghĩa là Đức-Chúa-thi-ân, sẽ là món quà ông được tặng.
Nhưng Gioan sẽ còn là món quà cho nhiều người Ítraen,
vì Gioan có sứ mạng giải hòa dân tộc ông với nhau và với Chúa.
Một con người chưa được mang thai và chào đời,
nhưng về người ấy, Thiên Chúa đã có bao ước mơ và dự tính.
Ngài cho Gioan được đầy Thánh Thần từ trong lòng mẹ (c. 15).
“Làm cho kẻ ngỗ nghịch trở về nẻo chính đường ngay,
và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa” (c. 17).
Đó là những việc Gioan sẽ làm sau này trong tư cách là Êlia mới.
Dacaria có vẻ không tin vào lời sứ thần,
Có vẻ ông không còn nuôi hy vọng có một đứa con (c. 18).
Ông quên mất chuyện Ápraham đã sinh con trong lúc tuổi già.
Là một tư tế hẳn ông phải biết có nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn
đã sinh con làm thủ lãnh đất Ítraen (Tl 13, 2; 1Sm 1-2; St 16, 1).
Việc ông bị câm là một hình phạt, nhưng ông không bị loại trừ.
Thinh lặng chín tháng là thời gian ông chờ đợi để lời hứa nên trọn.
Từ khi bà Êlisabét có thai, bà ẩn mình một thời gian.
Bà chưa muốn cho ai hay biết chuyện này.
Niềm vui bất ngờ đến với bà, người được hưởng hạnh phúc làm mẹ.
“Chúa đã làm cho tôi như thế đó,
khi Ngài đoái thương cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu trước mặt người đời.”
Mỗi một trẻ thơ chào đời đều có nét của Gioan.
Chẳng người nào thấy ánh mặt trời mà lại nằm ngoài ý Thiên Chúa.
Như Gioan, ngay từ khi tôi chưa hiện hữu trong lòng mẹ,
Thiên Chúa đã nghĩ đến tôi, và biết tên tôi.
Tôi có chỗ rất riêng trong chương trình của Chúa.
Chúa có một sứ mạng rất riêng cho tôi hôm nay.
Thời nào cũng cần Gioan, cần những người kêu gọi hoán cải.
Nhân loại thời nay cần những người dọn đường sáng tạo,
có khả năng mở những con đường mới đi vào lòng thế nhân.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa,
Chúa đã làm người như chúng con,
nên Chúa hiểu gánh nặng của phận người.
Cuộc đời đầy cạm bẫy mời mọc
mà con người lại yếu đuối mong manh.
Hạnh phúc thường được trộn bằng nước mắt,
và giữa ánh sáng,
cũng có những bóng mờ đe dọa.
Lạy Chúa Giêsu,
nếu có lúc con mệt mỏi và xao xuyến,
xin nhắc con nhớ rằng trong Vườn Dầu
Chúa đã buồn muốn chết được.
Nếu có lúc con thấy bóng tối bủa vây,
xin nhắc con nhớ rằng trên thập giá
Chúa đã thốt lên: Sao Cha bỏ con ?
Xin nâng đỡ con, để con đừng bỏ cuộc.
Xin đồng hành với con, để con không cô đơn.
Xin cho con yêu đời luôn
dù đời chẳng luôn đáng yêu.
Xin cho con can đảm
đối diện với những thách đố
vì biết rằng cuối cùng
chiến thắng thuộc về người
có niềm hy vọng lớn hơn. Amen.
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
Hai vụ thụ thai cách lạ nhưng không phải "bởi Thánh Linh"
Ngày 19/12 trong Tuần Bát Nhật trước Giáng Sinh hôm nay, bài Phúc Âm theo Thánh ký Luca ghi lại biến cố truyền tin về sự kiện thụ thai cách lạ của một con người đươc tiền định đóng vai trò làm tiền hô cho Đấng Thiên Sai Cứu Thế, một con người thuộc giòng dõi Levi có cha mẹ sống công chính trước mặt Chúa cho dù các vị son sẻ không con:
"Vào thời Hêrôđê làm vua xứ Giuđêa, có một tư tế tên là Giacaria, thuộc phiên ban Abia, và vợ ông bởi dòng dõi Aaron, tên là Elisabéth. Cả hai là người công chính trước mặt Thiên Chúa, ăn ở theo mọi giới răn và lề luật của Chúa, không ai trách được điều gì. Nhưng họ lại không con, vì Elisabéth son sẻ, và cả hai đã đến tuổi già".
Tình trạng son sẻ của cặp vợ chồng công chính này cũng không ngoài ý định của Thiên Chúa trong việc xuất hiện một con người cao trọng nhất được người nữ sinh ra, như được chính Chúa Giêsu khẳng định trong bài Phúc Âm Thứ Năm Tuần II Mùa Vọng tuần trước. Vì nhân vật lịch sử này sẽ đóng vai trò trung gian giữa Cựu Ước và Tân Ước như một vị "tiên tri của Đấng Tối Cao" được sai đến để dọn đường cho Chúa Kitô xuất hiện (xem Luca 1:76), Đấng cao trọng hơn ngài nhưng lại xin ngài làm phép rửa cho, chẳng khác nào như làm cha thiêng liêng của Người.
Vì vai trò cao trọng này khiến nhân vật tiền hô trở thành đệ nhất thiên hạ ấy cần phải được xuất thân một cách lạ lùng, bắt đầu bằng biến cố truyền tin tương tự như trường hợp truyền tin của Đấng đến sau ngài, với cùng một vị tổng thần Gabiên, như được bài Phúc Âm hôm nay thuật lại:
"Xảy ra khi Giacaria chu toàn chức vụ tư tế trước mặt Thiên Chúa, theo lượt của phiên mình như tục lệ hàng tư tế, ông bắt thăm và trúng việc vào cung thánh Chúa mà dâng hương. Ðang lúc toàn thể đám đông dân chúng cầu nguyện bên ngoài, trong giờ dâng hương. Bấy giờ Thiên Thần Chúa hiện ra cùng ông, đứng bên phải hương án. Giacaria thấy vậy hoảng hốt, sự kinh hoàng đột nhập vào ông. Nhưng Thiên Thần nói với ông rằng: 'Giacaria, đừng sợ, vì lời ngươi cầu nguyện đã được nhậm rồi. Elisabéth vợ ngươi sẽ hạ sinh cho ngươi một con trai, và ngươi sẽ gọi tên trẻ là Gioan. Ngươi sẽ được vui mừng hân hoan, và nhiều người cũng sẽ vui mừng, vì việc trẻ sinh ra".
Thật vậy, vì được tiền định đóng vai tiền hô cho chính Đấng Thiên Sai Cứu Thế, một vai trò có thể nói còn cao trọng hơn cả vai trò làm dưỡng phụ của Người, vị dưỡng phụ dù sao cũng không được truyền tin trước khi được thụ thai một cách long trọng như vị tiền hô này, với những lời lẽ tiên báo thật trịnh trọng về một thiên chức hầu như không ai bằng:
"Vì trẻ nầy sẽ nên cao trọng trước mắt Chúa, sẽ không uống rượu và thức có men, sẽ được tràn đầy Thánh Thần ngay từ lòng mẹ, sẽ đem nhiều con cái Israel trở về cùng Chúa là Thiên Chúa. Trẻ nầy sẽ đi trước Người, trong thần trí và quyền lực của Elia, để đổi lòng dạ cha ông về với con cháu, kẻ ngổ nghịch về lại với lương tri của những người công chính, dọn cho Chúa một đoàn dân chuẩn bị'".
Không biết có phải vì lời lẽ có vé "quá đáng" và thái độ có vẻ quá "trịnh trọng" của vị thiên sứ bấy giờ đã khiến cho người cha tư tế Giacaria này cảm thấy hồ nghi không thể nào tin được rằng mình lại diễm phúc đến như thế hay chăng, nên mới xẩy ra chuyện chính ông trở thành chứng cớ về những gì chân thật liên quan đến con ông đúng như lời sứ thần truyền:
"Giacaria thưa với Thiên Thần rằng: 'Làm sao tôi biết được, vì tôi đây đã già, và vợ tôi cũng đã cao niên?' Thiên Thần liền đáp: 'Ta là Gabriel, ta đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, ta được sai đến nói với ngươi, và báo cho ngươi tin lành nầy. Thì đây, ngươi sẽ nín câm và không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra; bởi vì ngươi đã không tin lời ta, là những lời sẽ nên trọng khi đến thời của chúng'".
So với trường hợp của Mẹ Maria trong biến cố truyền tin Ngôi Lời Nhập Thể thì thực sự là vị tư tế Giacaria này đã vì không tin mà bị phạt câm. Ở chỗ, thứ nhất, ông và vợ ông xin cho được một người con, trong khi đó Mẹ Maria lại muốn giữ mình đồng trinh, không hề ham ước muốn làm Mẹ Đấng Thiên Sai như các phụ nữ Do Thái thời Cựu Ước khác. Ấy thế mà khi được thiên sứ hiện ra trong đền thờ linh thiêng để cho ông biết rằng lời nguyện cầu của ông đã được nhận lời thì ông lại ngờ vực, ở chỗ đòi dấu hiệu rõ ràng, trong khi đó, cũng vị thiên sứ này hiện ra với Mẹ Maria, ở một căn phòng thô sơ nghèo khó, để truyền tin việc nhập thể của Con Đấng Tối Cao, và trinh nữ Nazarét này chỉ hỏi xem việc thụ thai làm sao có thể xẩy ra với một trinh nữ không biết đến nam nhân như mình thôi.
Đúng thế, sau biến cố truyền tin xẩy ra trong đền thờ khi thân phụ của mình đang làm phận vụ tư tế bấy giờ và sau khi ông câm nín trở về nhà, vị tiền hô của Đấng Thiên Sai Cứu Thế đã được thụ thai: "Khi những ngày thánh vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà. Sau những ngày ấy, Elisabéth vợ ông thụ thai, và bà ẩn mình trong năm tháng, bà nói rằng: 'Chúa đã làm cho tôi thế nầy, trong những ngày Người đoái thương, cất nổi khổ nhục tôi khỏi người đời'".
Bài Đọc 1 hôm nay cũng thuật lại một nhân vật đặc biệt khác là Samson, vị anh hùng cứu tinh của dân Do Thái vào thời Các Quan Án, cũng được thiên thần hiện ra báo tin thụ thai bởi một người mẹ son sẻ:
"Ngày ấy có một người đàn ông, bởi đất Sara và thuộc chi họ Ðan, tên là Manuel, có người vợ son sẻ. Thiên Thần Chúa hiện ra nói với bà ấy rằng: 'Ngươi son sẻ không con; nhưng sẽ được thụ thai, và hạ sinh một con trai. Vậy ngươi hãy cẩn thận, đừng uống rượu và thức có men, cũng đừng ăn món gì không thanh sạch. Vì ngươi sẽ được thụ thai, và hạ sinh một con trai. Lưỡi dao cạo sẽ không chạm đến đầu nó; nó là người được hiến dâng cho Thiên Chúa từ thuở nhỏ và từ lòng mẹ; chính nó sẽ bắt đầu giải phóng Israel khỏi tay người Phi-li-tinh'... Bà đã hạ sinh một con trai, và gọi tên là Samson. Hài nhi lớn lên, và Chúa đã chúc phúc cho nó. Và thần tri Chúa bắt đầu ở với nó".
Hai sự kiện thụ thai bởi hai người đàn bà son sẻ trong cả bài Phúc Âm lẫn Bài Đọc 1 hôm nay có thể nói là thụ thai "cách lạ", vì theo tự nhiên đã son sẻ thì không thể sinh con mà nay lại thụ thai và sinh nở sau khi được báo tin cho biết trước. Tuy nhiên, hai chuyện thụ thai "cách lạ" này vẫn không thể nào giống như sự kiện của chính Đấng Thiên Sai Cứu Thế là Đấng được thụ thai sau khi mẹ Người được truyền tin.
Bởi vì, Đấng Thiên Sai Cứu Thế được thụ thai bởi chính Thánh Linh và trong lòng của một trinh nữ chứ không phải của một người đàn bà đã có chồng và đã từng ăn nằm với chồng song bị son sẻ không thể sinh con như hai trường hợp trên đây (xem Luca 1:34-35), trong khi đó hai thai nhi kia có thể được thụ thai bởi việc giao hợp vợ chồng sau khi họ được truyền tin, và lần giao hợp vợ chồng của họ sau khi họ được truyền tin đó đã được Chúa mở lòng dạ của người mẹ ra để bà có thể thụ thai như thường.
Bài Đáp Cahôm nay như đã chất chứa tâm tình của thai nhi Gioan Tẩy Giả, một thai nhi đã có thể nhẩy mừng trong lòng mẹ khi được Đấng Thiên Sai Cứu Thế đến thăm viếng qua sự xuất hiện và lời chào tràn đầy thần lực của mẹ Người (xem Luca 1:40-44):
1) Lạy Chúa, xin hãy nên núi đá trú ẩn và thành trì kiên cố cho tôi, để cứu tôi: Vì Chúa là núi đá và thành trì của tôi. Lạy Chúa, xin giựt tôi khỏi bàn tay gian ác.
2) Vì Chúa là Ðấng tôi mong đợi, lạy Thiên Chúa của tôi! Lạy Chúa là Ðấng tôi cậy trông, từ thời còn niên thiếu. Từ lòng mẹ, tôi nương tựa nơi Chúa, từ dạ mẹ, Chúa là Ðấng bảo vệ tôi.
3) Tôi sẽ thuật lại quyền năng Thiên Chúa, lạy Chúa, tôi ghi nhớ sự công chính của một mình Chúa, lạy Chúa, Chúa đã dạy tôi từ thời còn niên thiếu, các kỳ công Chúa, tôi cao rao đến bây giờ.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
December 21, 2016