Suy Niệm Hàng Ngày

của Huệ Minh

22-12 trước lễ giáng sinh

*22-12 Tuần IV Mùa Vọng

1 Sm 1, 24-28; Lc 1, 46-56

CÙNG MẸ HÁT LÊN BÀI CA MAGNIFICAT

Đức Maria vừa được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế mà muôn dân trông đợi hàng bao nhiêu thế kỷ nay. Người hay tin bà chị họ là Êlisabét cũng đã mang thai trong lúc tuổi già, nên Người vội vã lên đường đến thăm và giúp đỡ người chị họ ấy. Khi hai người gặp nhau, Bà Êlisabét chức mừng Đức Maria “Em có phúc hơn mọi người phụ nữ”; còn bà Êlisabét thì tràn ngập vui mừng “Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến thăm tôi”; ngay cả bào thai trong bụng bà Êlisabét cũng vui mừng đến nỗi nhảy lên! Trong bầu khí tràn ngập vui mừng ấy, Đức Maria đã hát lên bài ca này để tán dương và tạ ơn Thiên Chúa vì đã thương đến những người hèn mọn khiêm nhu.

Thực ra bài ca này không phải do Đức Mẹ đã một mình sáng tác. Nó là cô đọng cả một trào lưu suy tư của những người hèn mọn trải suốt lịch sử cứu độ. Từ xưa đến nay và mãi tới muôn đời, hễ ai hèn mọn nhưng biết khiêm tốn nương nhờ nơi Thiên Chúa thì Ngài sẽ bênh vực che chở. Còn những người “lớn” và “mạnh” mà kiêu căng ỷ sức mình hay cậy vào những thứ mình đang có thì Thiên Chúa sẽ hạ bệ. Đức Maria chỉ làm công việc đúc kết tất cả những cảm nghiệm ấy trong bài ca Magnificat này.

Bài ca của Đức Maria cũng được gọi là bài ca Magnificat theo những chữ đầu tiên của bài ca này trong tiếng La tinh. Mẹ hát khen ca tụng Thiên Chúa. Mặc dù Mẹ là con người yếu đuối và mọn hèn nhưng Thiên Chúa đã làm những điều kỳ diệu nơi Mẹ để kiện toàn lời hứa ban Đấng cứu độ.

Bài ca ngợi của Mẹ Maria cũng là bài ca ngợi của Giáo Hội dâng lên Thiên Chúa qua bài Thánh ca Tin Mừng trong giờ kinh chiều hàng ngày. Những gì Chúa để cho xảy đến với Mẹ, dù Mẹ không hiểu, dù gây cho Mẹ nhiều khổ đau, nhưng Mẹ vẫn không than trách, không bi luỵ, không tuyệt vọng. Trái lại Mẹ dâng lời tạ ơn Chúa, và nhận ra đó là việc Chúa làm. Mẹ đã đón nhận tất cả như quà tặng ân ban của Chúa từ khi đón nhận lời Thiên sứ truyền tin cho đến khi Mẹ đứng dưới chân thập giá.

Khi Mẹ Maria tới thăm người chị họ là bà Elizabeth, ngay giờ phút đầu tiên mới gặp nhau, bà Elizabeth đã cất lời ca ngợi Mẹ là Người có phúc nhất trong giới phụ nữ; Mẹ Maria đã hân hoan vui sướng ca ngợi và cảm tạ Thiên Chúa vì Mẹ đã cảm nghiệm sâu sắc tình thương Thiên Chúa dành cho Mẹ: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi.”

Mẹ đã vui mừng hớn hở vì Mẹ cũng như mọi người thời đó đang hết sức chờ mong “Đấng Cứu Thế”. Không vui sướng sao được vì  nay không những Đấng Cứu Thế đã đến, mà còn đến ngay trong cung lòng của Mẹ. Mẹ tuyệt vời vui sướng, nhưng không phải vì thế mà Mẹ tỏ ra vênh vang, lên mặt với mọi người, ngược lại với lòng khiêm nhượng thẳm sâu, Mẹ nói mình không xứng đáng được ơn trọng đại này (ơn làm Mẹ Đấng Cứu Thế) qua lời : “Phận Nữ tỳ hèn mọn Người đoái thương nhìn tới”. Người mẹ của một vị vua trần thế, họ tỏ vẻ sang trọng và cung cách của họ tỏ ra quí phái biết chừng nào thế nào.

Mẹ Maria thì ngược lại, Mẹ suy nghĩ : ơn trọng đại này là hoàn toàn do tình thương của Thiên Chúa ban cho Mẹ:“Đấng Toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại”. Suốt cuộc đời Mẹ luôn là bài ca ngợi và cảm tạ Thiên Chúa. Còn chúng ta, khi được ai khen ngợi một chút đã vênh vang và coi đó là tài năng của mình. Chúng ta thường quên những gì chúng ta có được là hoàn toàn do lòng thương yêu Thiên Chúa dành cho mình. Chúng ta cần học nơi Mẹ lòng khiêm tốn thẳm sâu, nhất là những khi được người khác khen ngợi; để chúng ta luôn khiêm tốn ca tụng Thiên Chúa vì những ơn huệ đó.

Mẹ Maria còn giới thiệu cho chúng ta lòng thương xót Chúa dành cho mỗi người, nếu mỗi người trong chúng ta biết tỏ lòng kính tôn Thiên Chúa :“Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người”. Chúng ta tỏ lòng kính tôn Thiên Chúa qua việc chúng ta tuân giữ Lời Chúa và các giới răn cũng như các huấn lệnh Chúa truyền qua Giáo Hội.

Cuộc sống bon chen với nhiều lo toan ngày nay làm cho ta khó nhận ra tất cả những gì xảy đến là quà tặng yêu thương của Chúa. Dừng lại ít phút mỗi ngày để nhận ra những ơn ban của Chúa, để thấy mình thật diễm phúc vì được Chúa đoái thương nhìn tới, và nhất là để bạn dâng lời tạ ơn Chúa.

Một tấm gương nữa chúng ta học được nơi Mẹ là Mẹ luôn quan tâm đến nhu cầu của những người chung quanh, như việc Mẹ đến thăm bà Elizabeth và còn ở lại giúp đỡ bà ba tháng nữa; Cũng như trong tiệc cưới tại Cana, Mẹ đã can thiệp kịp thời khi chủ tiệc hết rượu, mà duy chỉ mình Mẹ nhận ra, Mẹ nói với Chúa Giesu: “Họ hết rượu rồi”. Chúng ta cần học nơi Mẹ sự quan tâm đến nhu cầu của những người sống chung quanh và sẵn sàng đưa tay giúp họ với một tình yêu vô vị lợi. Xã hội ngày nay người ta chỉ phục vụ khi có lợi nhuận hay chức quyền chứ khó tìm thấy người phục vụ một cách vô vị lợi.

Kinh Magnificat chúc tụng và tạ ơn Thiên Chúa vì lòng trung thành của Thiên Chúa đối với dân Ngài. Bài ca còn ca ngợi những việc làm cứu độ của Thiên Chúa để nâng dậy kẻ yếu đuối và làm no thỏa kẻ đói nghèo bằng những điều tốt lành. Bài ca đề cao lòng thương xót vô bờ bến của Thiên Chúa.

“Chúa giơ tay biểu dương quyền lực, diệt trừ hạng kiêu căng, đề cao kẻ khiêm nhường”. Mỗi người hãy cảm nghiệm tình yêu thương Thiên Chúa đã, đang thực hiện trong cuộc đời mình và học nơi Đức Maria tâm tình ca ngợi tạ ơn Chúa và luôn phó thác cuộc đời mình cho bàn tay Chúa quan phòng: “Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư”. Khi đã cảm nghiệm được tình thương Chúa dành cho mình, chúng ta hãy vui tươi, phấn khởi và luôn nhớ rằng chúng ta có Mẹ là mẫu gương và là Người dẫn dắt cuộc đời chúng ta.

Mỗi Kitô hữu cũng được mời gọi để không ngừng hát lên và sống bài ca Magnificat: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, thần trí tôi hớn hở trong Đấng cứu độ tôi.” Đó phải là bài ca trong từng phút giây cuộc đời chúng ta. Không vui sao được khi biết rằng mình được Thiên Chúa yêu thương và cứu chuộc bằng chính Máu của Con Một Ngài; không vui sao được khi biết rằng trong Người Con Một ấy chúng ta tìm được ánh sáng chân lý, bình an và hy vọng; không vui sao được khi biết rằng trong hành trình về nhà Cha, có biết bao người cùng tiến bước với ta.

Huệ Minh

 

Nữ tỳ hèn mọn


Lời Chúa: Lc 1, 46-56
Bấy giờ bà Maria nói:
“Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa,
thần trí tôi hớn hở vui mừng
vì Thiên Chúa, Ðấng cứu độ tôi.
Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới;
từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc.
Ðấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả,
Danh Người thật chí thánh chí tôn !
Ðời nọ tới đời kia,
Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.
Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
người giàu có, lại đuổi về tay trắng.
Chúa độ trì Ítraen, tôi tớ của Người,
như đã hứa cùng cha ông chúng ta,
vì Người nhớ lại lòng thương xót
dành cho tổ phụ Ápraham
và cho con cháu đến muôn đời.”
Bà Maria ở lại với bà Êlisabét độ ba tháng, rồi trở về nhà.


Suy nim:
Bài ca ngợi khen Đức Chúa bật ra trên môi Maria
sau khi bà Êlisabét cất tiếng ca ngợi Mẹ.
Êlisabét ca ngợi Maria là người được chúc phúc hơn mọi phụ nữ
vì Mẹ đang cưu mang trong dạ Đấng Cứu Tinh.
Bà còn ca ngợi Maria có phúc vì đã dám tin vào lời Chúa phán,
và dám liều để cho lời ấy dẫn dắt đời mình.
Nhờ được tràn đầy Thánh Thần, Êlisabét mới biết được Tin Vui
mà Maria tưởng rằng đó là bí mật chỉ riêng mình biết.
Khi đứng trước bà chị cao niên đang mang thai,
Maria xác tín hơn vào những lời sứ thần nói,
và vào mầu nhiệm đang âm thầm lớn lên nơi cung lòng mình.
Khi bà chị Êlisabét ca ngợi Mẹ, thì Mẹ hân hoan ca ngợi Thiên Chúa.
Maria nhìn nhận Ngài là Đấng Cứu Độ của Mẹ (c. 47).
Nếu Mẹ được đầy ân sủng, được Chúa ở cùng và được đẹp lòng Ngài,
nếu Mẹ được thụ thai Con Đấng Tối Cao nhờ Thánh Thần (Lc 1, 28-35),
thì đó không phải là do công của Mẹ, nhưng là ơn của Chúa.
“Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả” (c. 49).
Maria không có một sự khiêm nhường giả tạo về mình.
Khiêm nhường thực sự là nhìn nhận sự thật.
Mẹ nhìn nhận những điều độc nhất vô nhị Chúa làm cho đời mình.
Ngài đã nhìn xuống đời Mẹ, cuộc đời thấp hèn của một tỳ nữ.
Và cái nhìn cúi xuống của Ngài đã nâng Mẹ lên cao,
khiến cho muôn thế hệ phải ngợi khen, tôn kính (c. 48).
Nhưng Maria không phải là người duy nhất được Thiên Chúa thi ân.
Ngài thương xót những ai hèn mọn, đói nghèo, biết kính sợ Chúa.
Ngược lại, Ngài giơ cánh tay biểu dương sức mạnh (cc. 50-53),
để dẹp tan kẻ kiêu căng, hạ bệ người quyền thế, đuổi đi kẻ giàu sang.
Thiên Chúa đầy thương xót, nên cũng mạnh tay để tạo lại sự công bằng,
để đem lại sự no đủ cho người nghèo và sự tự do cho người bị áp bức.
Thiên Chúa ấy cũng trung tín giữ lời hứa với Dân Ítraen (cc. 54-55).
Maria đã ở lại với bà chị họ độ ba tháng mới trở về nhà.
Ba tháng mang thai đầu tiên của một người mẹ trẻ đâu có dễ.
Maria đã ở lại để phục vụ cho bà Êlisabét gần ngày sinh.
Mẹ quên gánh nặng của mình để mang gánh nặng của người khác.
Êlisabét hẳn là vui vì được hầu hạ bởi Thân Mẫu Chúa.
Gioan trong bụng mẹ sung sướng vì được gần Đấng Thiên Sai.
Ít khi ta suy niệm chuyện Đức Maria mang thai hơn chín tháng.
Thai Nhi Giêsu lớn dần lên từng ngày trong dạ mẹ, chờ ngày chào đời.
Tình Mẹ-Con cũng lớn lên, thân thiết, gần gũi.
Mang thai và sinh con là niềm vui, nhưng đòi bao hy sinh nhọc nhằn,
nhất là vào thời xưa, khi vệ sinh và tiện nghi không có.
Để sinh Đức Giêsu cho thế giới hôm nay, vẫn cần có những Maria
chấp nhận cưu mang, chấp nhận vượt cạn,
chấp nhận kiên nhẫn chờ đợi để sinh những Giêsu cứng cáp cho thế giới.


Cầu nguyn:

Con tạ ơn Cha vì những ơn Cha ban cho con,

những ơn con thấy được,
và những ơn con không nhận là ơn.
Con biết rằng
con đã nhận được nhiều ơn hơn con tưởng,
biết bao ơn mà con nghĩ là chuyện tự nhiên.
Con thường đau khổ vì những gì
Cha không ban cho con,
và quên rằng đời con được bao bọc bằng ân sủng.
Tạ ơn Cha vì những gì
Cha cương quyết không ban
bởi lẽ điều đó có hại cho con,
hay vì Cha muốn ban cho con một ơn lớn hơn.
Xin cho con vững tin vào tình yêu Cha
dù con không hiểu hết những gì
Cha làm cho đời con.
 
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

 

Vị Thiên Chúa Cứu Độ nơi Ca Vịnh Ngợi Khen của Mẹ Maria



Hôm nay là ngày 22/12 trong Tuần Bát Nhật trước Đại Lễ Giáng Sinh. Vẫn theo Phúc Âm của Thánh ký Luca cho 6 ngày còn lại của tuần bát nhật tiền Giáng Sinh này, mầu nhiệm cứu độ nơi "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14) được tiếp tục với Ca Vịnh Ngợi Khen của Mẹ Maria.

Thật vậy, sau khi được "thụ thai Con Đấng Tối Cao... Con Thiên Chúa" (Luca 1:32,35) trong cung dạ trinh nguyên của mình từ biến cố truyền tin, và sau khi được thai mẫu "đầy Thánh Linh" (Luca 1:41) của thai nhi Gioan Tiền Hô Tẩy Giả nhận biết cùng khen tặng, thì người thôn nữ Nazarét được Sách Diễm Tình Ca trong Bài Đọc 1 hôm qua diễn tả như "Bồ câu trong hốc đá, trong kẹt ghềnh", đã "cho thấy mặt mình", với "tiếng thánh thót... êm ái" cùng với "nét mặt mình xinh tươi'" trong Ca Vịnh Ngợi Khen Magnificat như sau:

"Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ tôi, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Chúa. Từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi có phước, vì Ðấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại, và danh Ngài là thánh. Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia dành cho những ai kính sợ Chúa. Chúa đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai lòng trí kiêu căng. Chúa lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng, và nâng cao những người phận nhỏ. Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phước, và để người giàu có trở về tay không. Chúa săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng thương xót của Ngài. Như Chúa đã phán cùng các tổ phụ chúng tôi, cho Abraham và dòng dõi Người đến muôn đời!"

Nơi bài Ca Vịnh Ngợi Khen Magnificat quen thuộc này, một ca vịnh được Giáo Hội chọn đọc trong Tuần Bát Nhật tiền Giáng Sinh này, cũng như nơi Ca Vịnh Chúc Tụng Benedictus của tư tế thân phụ hài nhi Tiền Hô Gioan Tẩy Giả bao giờ cũng vào ngày 24/12, chất chứa một niềm trông mong và tin tưởng vào Vị Thiên Chúa cứu độ, cách riêng của dân Do Thái.

Đúng thế, nội dung của Ca Vịnh Ngợi Khen Magnificat của Mẹ Maria trong Bài Phúc Âm hôm nay đã chú trọng đến Vị Thiên Chúa cứu độ, thứ tự như sau: Vị Thiên Chúa đã cứu độ chính cá nhân Mẹ (1); Vị Thiên Chúa cứu độ những ai đáng thương (2), và là Vị Thiên Chúa đặc biệt cứu độ dân Do Thái của Ngài (3).

1- Vị Thiên Chúa đã cứu độ chính cá nhân Mẹ: "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ tôi, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Chúa". Qua câu này, Mẹ Maria đã công nhận là Mẹ cũng được Thiên Chúa cứu độ, như thể chính Mẹ nhận biết Mẹ được đặc ân vô nhiễm ngay từ lúc Mẹ được hoài thai trong lòng thai mẫu của Mẹ, như chúng ta vẫn tin theo tín điều được Chân Phước Giáo Hoàng Piô IX tuyên bố ngày 8/12/1854. 

Mẹ được Thiên Chúa cứu độ ở đây, trong trường hợp chuyên biệt duy nhất của Mẹ, không phải vì Mẹ "khi còn là những tội nhân" (Roma 5:8) như tất cả loài người là giòng dõi của Mẹ, mà Mẹ được Thiên Chúa cứu độ ở chỗ Ngài đã gìn giữ riêng một mình Mẹ khỏi nhiễm lây nguyên tội, cùng các tì vết và hậu quả của nguyên tội, ở chỗ, Ngài đã cho Mẹ được hưởng trước Ơn Cứu Độ của Chúa Giêsu Kitô Con Mẹ, cho dù Người chưa nhập thể giáng sinh, bởi Mẹ đã được Thiên Chúa từ đời đời tuyển chọn làm Mẹ Thiên Chúa. 

2- Vị Thiên Chúa cứu độ những ai đáng thương: "Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia dành cho những ai kính sợ Chúa. Chúa đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai lòng trí kiêu căng. Chúa lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng, và nâng cao những người phận nhỏ. Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phước, và để người giàu có trở về tay không".

Những ai đáng Thiên Chúa cứu độ được Mẹ Maria cảm nghiệm thấy và liệt kê trong Ca Vịnh Ngợi Khen Magnificat này, thứ tự như sau: 

Trước hết là "những ai kính sợ Chúa", chứ không phải "những ai lòng trí kiêu căng", thành phầnđầy những tự phụ tự đắc cho mình là nhất, ở chỗ kỹ càng tuân giữ lề luật, và tỏ ra khinh người, theo khung hướng tự nhiên của đa số hay hầu hết thành phần biệt phái và luật sĩ trong dân Do Thái.

Sau nữa là "những người phận nhỏ" trước tôn nhan Chúa, chứ không phải "người quyền thế", thành phầnlạm dụngquyền bính trời ban của mình để hưởng thụ hơn là phục vụ, điển hình như một quận vương Hêrôđê trong việc sát hại Tiền Hô Gioan Tẩy Giả hay tìm giết hài nhi Giêsu. 

Sau hết là "người đói khát", cảm thấy mình nghèo hèn thiếu thốnchỉ biết tìm kiếm chân lý và tin tưởng và Đấng Tối Cao,chứ không phải "người giàu có", thành phầntự cho mình viên mãn và tự mãn, chẳng cần gì, có thể "tự độ", tự cứu được bản thân mình, chẳng cần đến Thiên Chúa cứu độ. 

Tuy nhiên, vì là Vị Thiên Chúa cứu độ, Ngài muốn cứu tất cả mọi người, kể cả thành phần "lòng trí kiêu căng", "quyền thế" và "giàu có" nữa, mà càng như vậy thì Ngài càng cần phải cứu họ và tìm hết cách để cứu họ, như Ngài đã từng thực hiện trong suốt giòng lịch sử cứu độ của dân Do Thái của Ngài.

3- Vị Thiên Chúa đặc biệt cứu độ dân Do Thái của Ngài: "Chúa săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng thương xót của Ngài. Như Chúa đã phán cùng các tổ phụ chúng tôi, cho Abraham và dòng dõi Người đến muôn đời!"

Dân Do Thái nói chung, qua giòng lịch sử cứu độ của mình, một lịch sử cho thấy tình yêu thương vô cùng nhân hậu của Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ, đã liên lỉ tỏ ra bất trung với Ngài, bằng những thái độ bất xứng của họ, được tiêu biểu nơi "con bò vàng" (Xuất Hành đoạn 32), một thứ ngẫu tượng cho thấy họ vừa "kiêu căng" (ở chỗ từ bỏ và hoàn toàn bất tuân phục Vị Thiên Chúa đã tỏ tường cứu họ ra khỏi thân phận nô lệ ở Ai Cập), vừa "quyền thế" (ở chỗ ngang nhiên truất phế quyền bính của vị Thiên Chúa chân thật duy nhất nơi họ), và vừa "giầu có" (vì "con bò vàng" được làm nên bởi chính vàng bạc của họ đóng góp, như ám chỉ họ tự độ hay tự có thể cứu độ họ mà không cần Thiên Chúa). Thế nhưng, "dù chúng ta có bất trung, Ngài vẫn trung thành, vì Ngài không thể chối bỏ chính mình Ngài" (1Timôthêu 2:13).

Đó là lý do, Ca Vịnh Ngợi Khen Magnificat đã kết luận ở câu then chốt và chính yếu nhất làm nên lịch sử cứu độ của dân Do Thái, cũng là câu phản ảnh chính bản chất của Đấng đã xưng mình với Moisen: "Ta là Ta - I am who am" (hay) "Ta là hiện hữu" (hoặc) "Ta là Đấng Có" (Xuất Hành 3:14), tức là "Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac và Thiên Chúa của Giacóp" (Xuất Hành 3:15), Vị Thiên Chúa bất biến, Vị Thiên Chúa luôn hiện hữu, Vị Thiên Chúa luôn ở với dân Ngài, Vị Thiên Chúa thủy chung trước sau như một, đã hứa là làm, bất chấp con người có bất trung và bất xứng: "Chúa săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng thương xót của Ngài. Như Chúa đã phán cùng các tổ phụ chúng tôi, cho Abraham và dòng dõi Người đến muôn đời!"

Theo tinh thần của Bài Ca Vịnh Ngợi Khen Magnificat về thành phần "kính sợ", "nhỏ bé" và "đói khát" đáng được Thiên Chúa cứu độ ấy, có một người nữ điển hình trong Bài Đọc 1 hôm nay, đó là thân mẫu của bé Samuel, một bà mẹ luôn "kính sợ" Thiên Chúa, nhưng lại bị Ngài để cho son sẻ, nhưng bà vẫn "đói khát" tin tưởng cầu xin cùng Chúa bằng tất cả thân phận "nhỏ bé" của mình, để rồi khi được nhận lời, bà đã giữ lời hứa dâng con mình cho Chúa:

"Ngày ấy, sau khi đã cho Samuel dứt sữa, bà Anna liền bắt một con bò ba tuổi, lấy ba cân bột, một vò rượu, và dẫn con đến nhà Chúa ở Silô. Con trẻ lúc đó còn nhỏ bé. Họ tế lễ con bò và dâng con trẻ cho ông Hêli. Anna thưa: 'Kính lạy ngài, chúc ngài khang an! Tôi là người đàn bà nọ đã đứng cầu xin Chúa nơi đây trước mặt ngài. Tôi đã cầu xin vì trẻ này, và Chúa đã cho tôi được như tôi xin. Vậy tôi xin dâng lại cho Chúa, trót mọi ngày nó thuộc về Chúa'. Và họ thờ lạy Chúa ngay ở đó".

Bài Đáp Ca hôm nay được trích trong đoạn Sách Samuel, tiếp ngay sau Bài Đọc 1 trên đây, một Ca Vịnh Ngợi Khen Magnificat Cựu Ước được vang lên từ môi miệng mẹ của hài nhi Samuel, cũng chất chứa và bộc lộ tâm tình tương tự như trong Ca Vịnh Ngợi Khen Magnificat Tân Ước của Mẹ Maria ở Bài Phúc Âm hôm nay, một tâm tình tin tưởng cậy trông vào Thiên Chúa và chúc tụng ngợi khen cảm tạ Lòng Thương Xót của Vị Thiên Chúa cứu độ:

1) Lòng tôi nhảy mừng trong Chúa, khí phách tôi hướng lên Thiên Chúa của tôi, miệng tôi rộng mở chống quân thù, tôi vui mừng vì Chúa cứu độ tôi. 

2) Cung nỏ người hùng bị bẻ tan, người kiệt sức lại nai nịt dũng khí; kẻ no đầy nay làm thuê vì miếng bánh, người đói lả nay lại được no nê. Người son sẻ lại con đàn cháu đống, kẻ nhiều con lại trở nên héo tàn. 

3) Chúa cho chết và Chúa làm cho sống, cho đi xuống mồ rồi lại đem lên, làm cho nghèo rồi cho nên giàu có, hạ xuống thấp rồi lại nhắc lên cao. 

4) Cho kẻ bần cùng đứng dậy khỏi bụi tro, nâng cao kẻ nghèo khỏi phân nhơ rác rến, cho ngồi chung với vua quan tướng lãnh, đặt cho họ một ngai báu vinh quang.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

December 22, 2016