Suy Niệm Hàng Ngày

của Huệ Minh

24-12 trước lễ giáng sinh

*Thứ Bảy tuần IV Mùa Vọng
2 Sm 7, 1-5. 8b-12. 16; Lc 1, 67-79

ĐÓN CHỜ CHÚA ĐẾN TRONG TĨNH LẶNG
Dù con người bất tín bất trung, nhưng Thiên Chúa vẫn một lòng trung tín. Lời Thiên Chúa hứa với các tổ phụ, giờ đây Người thực hiện cách viên mãn: Dù là con một Thiên Chúa cũng không tiếc nhưng đã ban tặng cho con người. Thiên Chúa là tình yêu, nên Ngài không thể không yêu tạo vật của Ngài. Thiên Chúa là sự sáng, nên Ngài không thể để bóng tối làm chủ vũ trụ của Ngài.
Trong ngày cuối cùng của mùa Vọng trước lễ Giáng Sinh hôm nay, chúng ta được mời gọi suy niệm về lời chúc tụng của Giacaria trong ngày người con trai của ông là Gioan Tiền Hô chào đời. Lời chúc tụng này được Hội Thánh lặp lại hằng ngày trong giờ Kinh Sáng bởi tính cách đặc biệt quan trọng của nó. Lời kinh Benedictus diễn tả rõ công trình cứu chuộc mà Thiên Chúa đã chuẩn bị từ ngàn xưa cho con người, một lời kinh tràn ngập niềm vui của hồng ân Cứu Độ.
Chúc tụng Thiên Chúa. Bài ca của Giacaria được gọi là kinh Benedictus theo tiếng La tinh nghĩa là “chúc tụng”. Đây còn là bài ca tạ ơn Thiên chúa vì Chúa đã tín trung giữ lời hứa ban con một Ngài để cứu chuộc nhân loại khỏi cạm bẫy tội lỗi và sự chết.
Phần thứ nhất đó là lời chúc tụng của ông Giacaria, ông đã tóm gọn lịch sử cứu độ mà khởi đầu bằng biến cố Thiên Chúa kêu gọi ông Abraham. Ông ca khen chúc tụng Chúa đã đoái thương nhìn đến dân tộc của ông, dân tộc được tuyển lựa để rồi từ dân tộc này sẽ xuất hiện Vị Cứu Tinh cho toàn thể địa cầu. Ngài đến cứu muôn dân khỏi tội và sự chết.
Ông Giacaria bắt đầu chúc tụng Thiên Chúa bởi vì Chúa đã viếng thăm và cứu chuộc dân Người (Lc 1, 68).  Người đã thiết lập cho chúng ta một vị Cứu Tinh quyền thế từ dòng dõi nhà Đavít, tôi tớ của Người (Lc 1, 69), như Người đã dùng miệng các ngôn sứ của Người phán hứa từ ngàn xưa (Lc 1, 70).  
Và ông mô tả những gì mà ơn cứu rỗi quyền năng này bao gồm:  rằng Người sẽ giải phóng chúng ta khỏi tay địch thù và thoát tay mọi kẻ hằng ghen ghét chúng ta (Lc 1, 71).  Ơn cứu rỗi này là kết quả, chẳng phải từ những nỗ lực của chúng ta, mà chính là bởi lòng thương xót nhân hậu của Thiên Chúa là Đấng nhớ lại Giao Ước thánh của Ngài và lời thề của Chúa với Ábraham, tổ phụ chúng ta (Lc 1, 72).  Thiên Chúa là Đấng thành tín. Đây là nền tảng cho sự bình an của chúng ta.
Phần còn lại là lời chúc tụng, là lời mang sứ vụ mà ông nhắn nhủ cho con trai của mình là Gioan vừa mới chào đời. Con trẻ Gioan sẽ nên vị ngôn sứ cao cả, có sứ mạng khai đường mở lối cho Vị Cứu Tinh sẽ đến. Người con này sẽ giới thiệu Chúa Giêsu – Đấng mà muôn dân đang mong đợi theo lời hứa. Khi Đấng Cứu Tinh đến, người sẽ ban ơn cứu độ cho toàn thể dân tộc của ông và cho cả nhân loại của chúng ta hôm nay.
Ông Giacaria tiếp tục mô tả những gì trong lời thề của Thiên Chúa với tổ phụ Ábraham gồm có:  đó là niềm hy vọng rằng “được giải thoát khỏi tay địch thù, và cho ta chẳng còn sợ hãi, để ta có thể phụng thờ Người trong thánh thiện và công chính, trước nhan Người, suốt cả đời ta.”  Đây là ước muốn lớn nhất của mọi người trong tất cả mọi thời đại:  sống trong bình an, không sợ hãi, phụng thờ Thiên Chúa và phục vụ tha nhân, trong sự thánh thiện và công chính, mọi ngày suốt đời chúng ta.  Đây là đỉnh của ngọn núi, điển hẹn, hiện ra ở chân trời cùng với sự chào đời của Gioan Tẩy Giả (Lc 1, 73-75).
Ông Giacaria mừng vui vì đứa con trai của mình sắp sinh ra là Gioan sẽ dọn đường cho Đấng Mesia. Hơn nữa, Gioan sẽ giới thiệu Đức Giêsu cho những ai đang mong chờ Đấng Cứu chuộc đã được Thiên Chúa hứa ban.
Cảm nghiệm của Giacaria trong lời kinh chúc tụng là cảm nghiệm của một tư tế chuyên chăm cầu nguyện. Đó cũng là cảm nghiệm của người trải qua một biến cố trọng đại đòi hỏi ơn đức tin phải siêu vời. Lời kinh của Giacaria là lời kinh của người đã có lần chậm tin Lời Chúa mà nay thấy Lời Chúa được thực hiện cách nhãn tiền. Lời kinh của Giacaria là hoa trái của thinh lặng trong một thời gian dài đau xót vì yếu tin.
Trong ngày chuẩn bị áp lễ Giáng Sinh hôm nay, mọi sự mọi vật bên ngoài đều náo động, réo rắt. Việc chuẩn bị cho ngày lễ thật ồn ào vất vả. Giacaria dạy chúng ta “giá trị của cầu nguyện và việc suy niệm mọi sự trong lòng” như Mẹ Maria và như bà Elisabeth.
Ta được mời gọi trở lại cõi lòng trong thinh lặng khi suy niệm Tin Mừng hôm nay, khi dọn lòng đón mừng Chúa Giáng Sinh đến trong đêm hồng phúc này. Cuộc sống hôm nay đầy dẫy những tiếng ồn và những hoạt động náo nhiệt. Lễ Giáng Sinh là một biến cố mời gọi chúng ta đi vào chiều sâu nội tâm chiêm niệm cho dù bối cảnh bên ngoài rất náo động. Chúng ta hãy để Thiên Chúa thăm viếng chúng ta trong niềm vui và hy vọng. Chúng ta hãy mở lòng để ơn Cứu Độ đến cho chúng ta.
Để làm sống với Chúa, để nhận ra sự điều khiển của Chúa trong mọi sự, để có thể ca vang lời chúc tụng, để tuyên xưng niềm tin vào Chúa cách xác quyết như Giacaria, đòi hỏi phải thinh lặng, phải tin và cảm nghiệm lâu dài.
Phần ta, ta có đủ thời gian thinh lặng để cầu nguyện và để suy niệm màu nhiệm Giáng Sinh, để cảm nghiệm hồng phúc cứu độ đang đến với chúng ta không ? Đêm nay, đêm Giáng Sinh chúng ta có mừng biến cố này cách sống động đích thực cách riêng cho chúng ta hay không ? Và rồi ta có đủ ơn đức tin để nhìn ngắm và cảm nghiệm Chúa trong đêm đen đức tin mà có lúc nào đó đã đến trong đời ta không ? Trong những lúc đen tối của cuộc đời, ta có tìm Chúa và trông đợi Chúa không ?
Huệ Minh

Huệ Minh

 

24 tháng 12

Thiên Chúa viếng thăm
Lời Chúa: Lc 1, 67-79


Khi ấy, ông Dacaria, được đầy Thánh Thần, liền nói tiên tri rằng:
“Chúc tụng Ðức Chúa là Thiên Chúa Israel
đã viếng thăm cứu chuộc dân Người.
Từ dòng dõi trung thần Ðavít,
Người đã cho xuất hiện
Vị Cứu Tinh quyền thế để giúp ta,
như Người đã dùng miệng các vị thánh ngôn sứ
mà phán hứa tự ngàn xưa:
sẽ cứu ta thoát khỏi địch thù,
thoát tay mọi kẻ hằng ghen ghét;
sẽ trọn bề nhân nghĩa với tổ tiên
và nhớ lại lời xưa giao ước;
Chúa đã thề với tổ phụ Ápraham
rằng sẽ giải phóng ta khỏi tay địch thù,
và cho ta chẳng còn sợ hãi,
để ta sống thánh thiện công chính trước nhan Người,
mà phụng thờ Người suốt cả đời ta.
Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu
là ngôn sứ của Ðấng Tối Cao:
con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người,
bảo cho dân Chúa biết: Người sẽ cứu độ
là tha cho họ hết mọi tội khiên.
Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn,
cho Vầng Ðông tự chốn cao vời viếng thăm ta.
Soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối
và trong bóng tối tử thần,
dẫn ta bước vào đường nẻo bình an.”


Suy niệm:
Sau hơn chín tháng bị câm, khi Gioan đã sinh được tám ngày,
lời nói đầu tiên của ông Dacaria là một bài ca chúc tụng.
Ông chúc tụng Đức Chúa, Thiên Chúa của Israel
vì Ngài đã viếng thăm và cứu chuộc dân Ngài (c. 68).
Mọi việc Thiên Chúa sắp làm cho đoàn dân riêng
được gói gọn trong một động từ rất đơn sơ: viếng thăm.
Thiên Chúa đi thăm dân Ngài để cứu độ và ban ơn tha tội (c. 77).
Gioan, con của ông, được hân hạnh là người đi trước mở đường (c. 76).
Dacaria vui vì niềm vui của cả dân tộc và của riêng gia đình ông. 
Thiên Chúa đi thăm dân qua Đức Giêsu, Người Con Một.
Đó là Vị Cứu Tinh quyền thế đến từ dòng dõi Đavít (c. 69).
Do lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa,
Đấng Mêsia đã được sai đến như Vừng Đông tự chốn cao vời (c. 78).
Vừng sáng này đến thăm những ai ngồi trong bóng tối sự chết
và đưa dắt dân Ngài vào con đường bình an (c. 79).
Bình an là được giải thoát khỏi tay kẻ thù (c. 71), khỏi tội lỗi (c. 77),
là được tự do phụng thờ Thiên Chúa trên quê hương (cc. 74-75). 
Cả đời sống Đức Giêsu là một cuộc viếng thăm của Thiên Chúa.
Đây là cuộc viếng thăm độc nhất vô nhị,
vì là cuộc viếng thăm của đích thân Con Thiên Chúa.
Ngài không chỉ thăm như người khách ghé qua.
Ngài đã thăm và ở lại, dựng lều cư ngụ với loài người (Ga 1, 14).
Khi Đức Giêsu hoàn sinh người con của bà góa thành Nain,
đám đông reo lên: Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài (Lc 7, 16).
Nhưng trong thực tế dân Ngài đã khước từ cuộc thăm viếng ấy.
Ngôi Lời đã đến nhà mình,
nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận (Ga 1, 11).
Mãi mãi con người có tự do để ở lại trong bóng tối và sự chết,
và cũng có quyền khước từ bình an thật của trời cao (Lc 19, 42). 
Giêrusalem đã bị sụp đổ vào năm 70 dưới tay kẻ thù,
vì đã từ khước sự thăm viếng chở che của Thiên Chúa (Lc 19, 44).
Đó là một bi kịch và hơn nữa, là một thảm kịch.
Tiếc thay thảm kịch ấy vẫn tiếp diễn trên thế giới.
Hôm nay Thiên Chúa từ ái, bao dung vẫn đến thăm con người,
và nhiều người trong chúng ta vẫn giữ thái độ chối từ, khép kín.
Ơn cứu độ, ơn giải phóng, ánh sáng, và bình an của trời cao,
là những điều còn xa lạ với bao người, kể cả các Kitô hữu.
Bóng tối của sự chết, của hận thù ghét ghen vẫn thống trị địa cầu.
Mừng lễ Giáng Sinh là mừng cuộc viếng thăm của Thiên Chúa.
Cách duy nhất để mừng là mở cửa lòng cho Con Thiên Chúa vào.
Hãy tiếp đón Ngài đến với ta dưới những hình thái bất ngờ:
một trẻ thơ nghèo hèn, yếu đuối; một Mêsia không tấc sắt trong tay;
một ông thợ mộc ở vùng quê Nadarét; một tử tội bị đóng đinh thập tự.
Hãy thắp lên một ngọn nến trong đêm Noel để chào mừng Ánh Sáng.
Cầu nguyện:

Giữa giá rét của mùa đông,
xin cho con gặp Chúa.
Giữa những long đong
và bấp bênh của phận người,
xin cho con gần Chúa.
Giữa cảnh nghèo khó và trơ trụi,
xin cho con thấy Chúa đi với con và hiểu con.
Lạy Chúa Giêsu bé thơ nằm trong máng cỏ,
xin cho con cảm được sự bình an của Chúa,
ngay giữa những âu lo hằng ngày.
Xin cho con đón lấy cuộc đời con
với bao điều không như ý.
Và cuối cùng,
xin cho con dám sống như Chúa
vì Chúa đã dám sống như con.

–––––––––––

(Lễ đêm)

TIN MỪNG TRỌNG ĐẠI 
Lời Chúa: Lc 2, 1-14
Thời ấy, hoàng đế Augustô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Ðây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyria. Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. Bởi thế, ông Giuse từ thành Nadarét, miền Galilê, lên thành Bêlem, miền Giuđê, là thành vua Ðavít, vì ông thuộc về nhà và gia tộc vua Ðavít. Ông lên đó khai tên cùng với người đã đính hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai. Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.
Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Và kìa sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Ðấng Cứu Ðộ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Ðavít, Người là Ðấng Kitô Ðức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ.” Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:
“Vinh danh Thiên Chúa trên trời.
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.”
Suy niệm:
Thiên Chúa vẫn cứ làm con người ngỡ ngàng.
Để cứu độ nhân loại, Thiên Chúa sai Con Ngài sinh bởi một phụ nữ,
làm người Do Thái, sống dưới thời đế quốc Rôma đô hộ (cc. 1-2).
Như thế Đấng Tuyệt Đối đã từ trời xuống,
chấp nhận thân phận hữu hạn của con người.
Ngài không khoác lớp áo người, nhưng là người trọn vẹn.
Ngài được cưu mang trong dạ mẹ, được sinh ra như mọi trẻ thơ.
Đêm Con Thiên Chúa chào đời là một đêm lạ lùng.
Ngài không được chào đời tại mái nhà thân yêu ở Nadarét.
Ngài cũng không được chào đời
nơi một căn phòng tử tế dành cho lữ khách ở Bêlem.
Đơn giản là vì không có chỗ (c. 7).
Nhưng tại sao lại không có, thì ta không rõ câu trả lời.
Ngài đã phải sinh ra nơi máng cỏ, nơi để đồ ăn cho súc vật.
Phải mất bao lâu Giuse mới tìm được chỗ này trong đêm?
Hãy hình dung khung cảnh âm thầm của máng cỏ ngày xưa.
Có một ngọn đèn nào để chiếu sáng không?
Có ngọn lửa nào để xua đi giá lạnh không?
Hãy cảm nếm nỗi lo sợ, vất vả, lúng túng của đôi vợ chồng trẻ.
Họ đang phải đối diện với những rắc rối lớn lao và bất ngờ.
Điều cần nhất là hoàn toàn tín thác nơi Thiên Chúa.
Khi tiếng khóc đầu tiên của Hài Nhi cất lên giữa đêm khuya,
ơn cứu độ đã mỉm cười với nhân loại.
Lạ lùng thay cách thức Con Thiên Chúa làm người!
Nhóm người chăn chiên, những kẻ sống bên lề xã hội,
chứ không phải là những nhà lãnh đạo tôn giáo hay trần thế,
mới là những người đầu tiên được sứ thần loan báo Tin Mừng.
Họ sống ngoài đồng, chia phiên nhau thức đêm để canh giữ đoàn vật.
Bất ngờ họ bị bao trùm bởi vinh quang rực rỡ của Thiên Chúa (c. 9).
“Hôm nay, Đấng Cứu độ, Đấng Kitô, Đức Chúa được sinh ra cho anh em.”
Đấng dân tộc anh em chờ mong từ lâu, nay đã đến.
Đây là Tin Mừng! Đây là Niềm Vui cho mọi người!
Nhưng dấu hiệu để nhận ra vị Tân Vương thuộc nhà Đavít
thì vừa bình thường: “một trẻ sơ sinh được quấn tã”,
vừa lạ thường: “nằm trong máng cỏ” (c. 12).
Đấng Mêsia mới được sinh ra không ngự nơi cung vua.
Dấu hiệu sứ thần cho ông Dacaria là bị câm.
Dấu hiệu sứ thần cho Maria là bà chị Êlisabét mang thai lúc đã già.
Dấu hiệu sứ thần cho các anh chăn chiên là trẻ thơ quấn tã nơi máng cỏ.
Các anh chăn chiên cần có đức tin để dám tin vào dấu hiệu ấy.
Thiên Chúa vẫn đến với con người bằng những nẻo đường bất ngờ.
“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (c. 14).
Hoàng đế Augustô được ca ngợi là đấng cứu độ.
Ông được coi là người đem lại hòa bình,vì ông đã chấm dứt chiến tranh.
Hôm nay, Thiên Chúa muốn ban cho chúng ta bình an thật qua Đức Kitô.
Ngài muốn ban cho chúng ta Đấng Cứu Độ thật là Đức Giêsu.
Xin cầu cho hòa bình trên mặt đất, bình an trong lòng người.
Ước gì chúng ta biết được rằng mình là những người được Chúa thương.
Cầu nguyện:

Giữa giá rét của mùa đông,
xin cho con gặp Chúa.
Giữa những long đong
và bấp bênh của phận người,
xin cho con gần Chúa.
Giữa cảnh nghèo khó và trơ trụi,
xin cho con thấy Chúa đi với con và hiểu con.
Lạy Chúa Giêsu bé thơ nằm trong máng cỏ,
xin cho con cảm được sự bình an của Chúa,
ngay giữa những âu lo hằng ngày.
Xin cho con đón lấy cuộc đời con
với bao điều không như ý.
Và cuối cùng,
xin cho con dám sống như Chúa
vì Chúa đã dám sống như con.
 
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

 


January 2, 2017