Suy Niệm

3 mùa vọng

 

*

Chúa nhật 3 mùa vọng, năm A
Chính Tiền Hô Gioan Tẩy Giả sống Mùa Vọng trông đợi Chúa Kitô

Chủ đề chung Mùa Vọng là "Lời đã hóa thành nhục thể" lại càng hiện tỏ hơn vào Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Vọng hôm nay là thời điểm Chúa gần đến, như phụng vụ hôm nay của Giáo Hội mang một mầu hồng tươi vui chứ không còn mầu tím xám hối nữa.
Đúng thế, ngay trong Tuần Ba Mùa Vọng này, Giáo Hội sẽ bắt đầu tuần bát nhật trước Giáng Sinh, từ ngày 17 đến hết 24 tháng 12, một thời điểm với những bài Phúc Âm trực tiếp liên quan đến biến cố nhập thể và giáng sinh của Chúa Giêsu Kitô Thiên Sai Cứu Thế.
Bởi vậy, Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Vọng hôm nay đây chẳng khác gì như một dạo khúc về mầu nhiệm và biến cố "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), Đấng sắp đến với dân của Chúa là thành phần đang trông đợi (thậm chí cho đến bây giờ) Người đến như một Vị Thiên Sai Cứu Độ.
Đó là lý do chúng ta thấy Bài Đọc 1 và 2, kể cả bài Đáp Ca đều có nội dung hân hoan vui mừng và đều kêu gọi dân Chúa hãy vui lên. 
Bài Đọc 1 hôm nay Tiên Tri Isaia đã cho thấy một bầu khí hãy vui lên tràn đầy hy vọng như sau:  
"Nơi hoang địa cằn cỗi sẽ vui mừng, cõi tịch liêu sẽ hân hoan, và nở bông dường như khóm huệ, sẽ nảy chồi non và hoan hỉ vui mừng, và khen ngợi rằng: Ðã ban cho Israel được vinh quang của xứ Liban, huy hoàng của Carmel và Saron. Chính chúng sẽ nhìn thấy vinh quang của Chúa, và huy hoàng của Thiên Chúa chúng ta.... Bấy giờ mắt người mù sẽ nhìn thấy, và tai những người điếc sẽ được nghe. Bấy giờ người què sẽ nhảy nhót như nai, những người được Chúa cứu chuộc, sẽ trở về, và đến Sion với lời khen ngợi; và trên đầu họ mang hoan hỉ triền miên, họ sẽ được vui mừng khoái trá, họ sẽ không còn đau buồn; rên siết sẽ trốn xa".
Bài Đáp Ca hôm nay Thánh Vịnh gia cũng đã vang lên niềm hân hoan bằng lòng xác tín tin tưởng của mình về một Vị Thiên Chúa cứu độ như thế này: 
 1) Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị áp bức, và ban cho những kẻ đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội.
2) Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù; Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục. Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân; Thiên Chúa che chở những khách kiều cư.
3) Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường nẻo đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời. Sion hỡi, Ðức Thiên Chúa của ngươi sẽ làm vua tự đời này sang đời khác.  
Ở Bài Đọc II Thánh Giacôbê Tông Đồ, theo chiều hướng của Bài Đáp Ca, đồng thanh kêu gọi dân Do Thái hãy tin tưởng chờ đợi Vị Thiên Chúa cứu độ đã đến nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng "sẽ xuất hiện lần thứ hai để mang ơn cứu độ cho những ai thiết tha trông đợi Người" (Do Thái 9:28): "Anh em hãy kiên nhẫn chờ ngày Chúa đến. Kìa xem người nông phu trông đợi hoa màu quý báu của đồng ruộng, kiên nhẫn đợi chờ mưa xuân và mưa thu. Vậy anh em hãy bền chí và vững tâm, vì Chúa đã gần đến". 
Bài Phúc Âm hôm nay liên quan đến chính bản thân của Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đang ngồi trong tù sai các môn đệ hỏi Chúa Giêsu là Đấng ngài đã loan báo đến sau ngài nhưng cao trọng hơn ngài, rằng "Thầy có phải là Ðấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Ðấng nào khác?" Qua câu trả lời của Chúa Giêsu cho các môn đệ của vị tiền hô này rằng "Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các ông nghe và thấy: người mù được thấy, người què đi được, người phong hủi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại, và tin mừng được loan báo cho kẻ nghèo khó", Người chẳng những chứng tỏ rằng Người quả thật đúng như những gì vị tiền hô đã làm chứng, là Đấng đúng như Thánh Vịnh gia và các vị tiên tri đã nói đến, như được thấy ngay trong Bài Đọc I và Bài Đáp Ca hôm nay, mà còn củng cố đức tin cho chính vị tiền hô này nữa, khi ngài "ở trong ngục nghe nói về các việc làm của Chúa Kitô", nhưng cảm thấy hình như cũng chẳng cao trọng hay quyền năng hơn ngài gì hết. Đó là lý do ở cuối câu trả lời của mình, Chúa Giêsu đã cảnh giác như thế này: "phúc cho ai không vấp ngã vì Ta".
Chắc là nhờ lời chứng của Chúa Kitô này mà Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã kiên trung cho đến cùng, đã tiếp tục làm chứng cho Chúa Kitô là "chân lý" (Gioan 14:6) bằng chính cái đầu của mình, và cái chết mất đầu của ngài đã ám chỉ cuộc tử nạn của Chúa Kitô là Đầu của ngài, Đấng đến sau nhưng cao trọng hơn ngài, nhờ đó ngài được nên giống Chúa Kitô hơn ai hết.
Thật vậy, nếu ngay từ ban đầu, khi vừa mới được cưu mang trong lòng thai mẫu 6 tháng, vị tiền hô này đã được Chúa Kitô mang ơn cứu độ đến cho ngài, nên ngài đã hân hoan nhẩy mừng trong lòng mẹ thế nào (xem Luca 1:41), thì trước khi chết, ngài cũng được Chúa Kitô mang ơn cứu độ đến cho ngài như vậy, bằng chính chứng từ của Người, giúp ngài thêm tin tưởng vào Đấng đến sau.
Không biết Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả có nghĩ rằng nếu nhân vật Giêsu Nazarét là Đấng Thiên Sai, là Đấng đến sau cao trọng và quyền năng hơn mình mà tại sao không ra tay cứu ngài khỏi bị ngục tù hay chăng, nhưng quả thực Chúa Kitô đã cứu ngài thoát khỏi ngục tù ngờ vực bằng chính lời của Người trong bài Phúc Âm hôm nay. Trong trường hợp này, Chúa Giêsu đã đóng vai trò "quan toà đã đứng trước cửa" ngục thất của vị tiền hô, như Tông Đồ Giacôbê đã đề cập đến trong Bài Đọc II hôm nay.
 Việc Chúa Kitô củng cố niềm tin cho Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đang cảm thấy bối rối về chính Đấng đến sau ngài cũng nên trọn những lời tiên tri Isaia trong Bài Đọc I hôm nay về chung dân Do Thái, trong đó bao gồm cả chính bản thân của vị tiền hô này, như trong Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: "Hãy làm cho mạnh mẽ những bàn tay rời rã, và hãy làm cho tăng sức những đầu gối mỏi mòn. Phải nói cho những người nhát đảm rằng: Hãy can đảm lên, đừng sợ hãi! Kìa Thiên Chúa các ngươi sẽ đem lại điều báo ứng; chính Thiên Chúa sẽ đến và cứu độ các ngươi".
Nhờ được Chúa Kitô củng cố đức tin cho Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả chẳng những tiếp tục sứ vụ làm chứng cho Đấng đến sau ngài bằng mạng sống của ngài mà còn nhờ đó ngài củng cố đức tin cho chung những ai đã đến lãnh nhận phép rửa của ngài ở Sông Jordan cũng như cho riêng thành phần môn đệ của ngài, nhờ đó, với tư cách là một vị tiên tri, vị tiên tri đệ nhất trong các tiên tri, ngài mới xứng đáng trở thành gương mẫu như Tông Đồ Giacôbê đã nêu lên trong Bài Đọc II hôm nay: "Anh em hãy học gương kiên nhẫn và chịu đựng trong gian khổ của các tiên tri, là những người đã nói nhân danh Chúa".
Như thế, chính Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả được sai đến trước Chúa Kitô để dọn đường của Người và cho Người cũng sống trong niềm tin tưởng của Mùa Vọng đợi trông. Tuy ngài đã được tận mắt thấy Đấng đến sau ngài, đã làm chứng về Đấng ấy, và đã làm phép rửa cho Người, theo ơn gọi và sứ vụ tiền hô của mình, nhưng tự bản thân của mình, ngài vẫn phải sống đức tin, bất khả châm chước, như chính Đức Maria Mẹ Chúa Kitô đầy ơn phúc đã phải trải qua cuộc sống đức tin, hay như các tông đồ được sống ngay bên cạnh Chúa Kitô cũng bị thử thách đức tin, một đức tin liên quan đến chính thực tại thần linh nơi nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét, tức đến chính sự thật về con người Giêsu Nazarét này, một sự thật đã được Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả ở trong tù đặt lại vấn đề: "Thầy có phải là Ðấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Ðấng nào khác?", một sự thật đã được vị lãnh đạo tông đồ đoàn Phêrô tuyên xưng vô cùng chính xác: "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16), nhưng vị này vẫn chối bỏ Người 3 lần, một sự thật cuối cùng đã được Tông Đồ Toma tuyên xưng trước Đấng Phục Sinh từ trong cõi chết "là Chúa và là Thiên Chúa" (Gioan 20:28), nhưng là một Thiên Chúa ở cùng chúng ta - Emmanuel.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Chúa nhật 3 mùa vọng, năm A
CÒN PHẢI ĐỢI AI?
Lời Chúa: Mt 11, 2-11
Ông Gioan lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Ðức Kitô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Ðấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” Ðức Giêsu trả lời: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.”
Họ đi rồi, Ðức Giêsu bắt đầu nói với đám đông về ông Gioan rằng: “Anh em ra xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? Thế thì anh em ra xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những người mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Ðúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng:
Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con,
người sẽ dọn đường cho Con đến.
Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông.”
Suy nim:
“Anh em ra xem gì trong hoang địa?”
Ðức Giêsu đã ba lần đặt câu hỏi như thế.
Hẳn không phải để xem một cây sậy bị gió lay,
vì Gioan chẳng phải là người dễ lung lay, khuất phục.
Cũng không phải để xem người mặc lụa là gấm vóc,
vì Gioan chỉ có áo lông lạc đà và dây lưng da.
Nhưng để gặp một vị ngôn sứ cao trọng hơn cả,
vì ông ở đỉnh cao kết thúc Cựu Ước,
đồng thời ông là người giới thiệu Ðức Kitô cho dân Israel.
Ðối với ông, Ðức Kitô là Ðấng mạnh mẽ.
Ngài đến sau ông, nhưng mạnh hơn ông (x. Mt 3,11).
Ngài như người cầm rìu chặt mọi cây không sinh trái
và quăng vào lửa (x. Mt 3,10).
Ngài còn như người cầm nia sàng sảy (x. Mt 3,12),
thóc lép thì cho vào lửa, thóc mẩy thì thu vào kho.
Ngài sẽ thanh tẩy trong Thánh Thần và lửa (x. Mt 3,11).
Quả thực Ngài là vị thẩm phán đáng sợ.
Ngài trừng phạt tội nhân bằng ngọn lửa không hề tắt.
Khi ở tù, Gioan vẫn nghe biết các việc Ðức Giêsu làm.
Thật chẳng có gì giống với những điều ông đã loan báo.
Ngỡ ngàng, hoang mang, ông sai môn đệ đến gặp Ngài.
Ðức Giêsu kín đáo cho thấy Ngài thật là Ðức Kitô,
vì Ngài làm ứng nghiệm những lời ngôn sứ Isaia loan báo.
Ngài không phải là một Mêsia đoán phạt, báo thù,
nhưng là một Mêsia xót thương cúi xuống người đau khổ.
Gioan đứng trước một thách đố.
Ông có chịu đổi quan niệm của mình về Ðấng Mêsia không?
Nếu không đổi, ông chẳng thể nào đón nhận Ðức Giêsu,
Ðấng mà ông đã giới thiệu là Kitô, là Mêsia.
“Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.”
Phêrô cũng đã vấp ngã sau khi tuyên xưng đức tin.
Ông không thể nào chấp nhận một Ðấng Mêsia chịu đau khổ.
Giona cũng nổi giận, vì Thiên Chúa không phạt dân Ninivê
như lời ông loan báo (x. Ga 3,4; 4,1).
Như thế cả Giona, Gioan hay Phêrô
đều phải mở ra để đón lấy Thiên Chúa bất ngờ.
Ngài không như điều ta tưởng,
thậm chí có khi Ngài ngược với điều ta rao giảng.
Gioan đã vượt qua chính mình khi nói:
“Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại” (Ga 3,30).
Ông đã giới thiệu môn đệ và dân chúng đến với Ðức Giêsu.
Nhưng ông còn phải vượt qua chính mình một lần nữa,
khi chấp nhận thanh lọc cái nhìn của mình về Ðấng Mêsia.
Mùa Vọng là thời gian chờ đợi Chúa đến.
Ta nghĩ Chúa đến một cách ồn ào, oai phong lẫm liệt,
thì Ngài lại đến cách âm thầm lặng lẽ.
Ta tưởng Chúa đến qua những đại lộ thênh thang,
thì Ngài lại đến qua ngõ hẹp tăm tối.
Ta chờ Ngài những câu trả lời, còn Ngài lại đặt câu hỏi!
Xin cho chúng ta đừng đi tìm Ngài, khi Ngài đang ở kề bên.
Cầu nguyn:
Chỉ mong tôi chẳng còn gì,
nhờ thế Nguời là tất cả của tôi.
Chỉ mong ý muốn trong tôi chẳng còn gì,
nhờ thế tôi cảm thấy Người ở mọi nơi,
đến với Người trong mọi sự,
và dâng Người tình yêu trong mọi lúc.
Chỉ mong tôi chẳng còn gì,
nhờ thế tôi không bao giờ muốn tránh gặp Người.
Chỉ mong mọi ràng buộc trong tôi chẳng còn gì,
nhờ đó tôi gắn bó với ý muốn của Người
và thực hiện ý Người trong suốt đời tôi.
R. Tagore
 
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

 

Ngày 11: Thánh Ðamasô I, Giáo Hoàng
Thánh Ðamasô sinh tại La Mã vào khoảng năm 305. Năm 366, sau khi Ðức Thánh Cha Liberiô băng hà, Hội Thánh phải trải qua một cơn khủng hoảng trầm trọng do tình hình chính trị tạo nên. Chính trong hoàn cảnh khó khăn này, thầy phó tế Ðamasô được bầu lên ngôi Giáo Hoàng.
Vừa lên cầm quyền, ngài đem hết tài lực ra để ổn cố Giáo Hội, cổ vũ việc học hỏi Sách Thánh, đặc biệt ngài đã ủy thác cho thánh Hiêronimô dịch bản Thánh Kinh ra La ngữ. Ngài còn tổ chức lại phụng vụ, phổ biến việc đọc và hát thánh vịnh trong toàn Giáo Hội. Ðồng thời cũng thúc đẩy việc khảo cứu và tôn sùng các thánh tử đạo.
Ngoài những công việc cải tổ trên, ngài còn phải đương đầu với các bè rối đang tàn phá Giáo Hội bấy giờ, nhất là phái Ariô. Trong cuộc chiến đấu với đối phương, ngài luôn tỏ ra giàu lòng quảng đại, rộng lượng tha thứ nên đã thức tỉnh được nhiều người lầm lạc trở về. Trong công đồng chung ở Constantinople, ngài được coi như chiến lũy của Ðức Tin vì thái độ cương quyết đối với các bè rối.
Thánh Ðamasô tạ thế năm 384, hưởng thọ 80 tuổi.

December 13, 2016