Hành trình từ đau khổ sau phá thai đến nhận ơn tha thứ của Katherine White
Vào năm 1974, một năm sau khi việc phá thai được hợp pháp hóa tại Hoa kỳ, Katherine White lúc bấy giờ đang học năm cuối đại học. có những dấu hiệu khác thường của người có thai. Cô đến một dưỡng đường điều hòa sinh sản để làm xét nghiệm máu và đã nhân kết quả dương tính; cô có thai. Điều này đến thật bất ngờ! Khi biết mình có thai, White muốn phủ nhận sự thật. Cô hoảng sợ và quá xấu hổ, không dám nói với cha mẹ cô, những người đang rất hãnh diện chờ ngày đứa con đầu tiên trong gia đình tốt nghiệp. Tuy thế, White cũng còn hy vọng là bạn trai của cô sẽ ủng hộ cô, rồi hai người sẽ làm đám cưới và sẽ có con. Nhưng trái với suy nghĩ của cô, bạn trai cô đã từ chối và không muốn có trách nhiệm gì với bào thai cô đang mang trong bụng.
Ngày đó, còn khác với bây giờ rất nhiều; trong xã hội lúc ấy việc các bà mẹ đơn thân bị kỳ thị là chuyện có thật; Giáo hội Công giáo cũng không nói cách công khai rộng rãi đến việc phá thai; rồi cũng không có những giảng dạy giúp người ta hiểu rằng một phôi thai hay một thai nhi thực sự là một sự sống. Thời đó các máy siêu âm cho phép các phụ nữ thấy được sự sống đang lớn lên trong họ cũng chưa có, còn phá thai thì không còn phải lén lút đàng sau các hành lang nhưng là một chọn lựa hợp pháp thay thế cho việc sinh con. Phá thai được diễn tả như một quá trình đơn giản để người nữ trở lại chu kỳ sinh lý bình thường của mình. Và White đã phá thai tại một dưỡng đường ở Pittsburgh và không bao giờ nói đến từ “em bé”. Tự sâu trong tâm lòng White có lẽ biết, nhưng để thuyết phục mình phá thai, cô tự nhủ: đó không thực sự là một đứa trẻ; và cũng không ai thuyết phục cô khác đi.
Sau khi phá thai, cô trở về ký túc xá của trường và cuộn mình như một trái banh trong suốt 2 ngày. White đã giữ sự thật đau đớn này trong lòng suốt 40 năm. Nó đã thay đổi White mãi mãi. Cô đã xa rời Giáo hội Công giáo trong một ít năm bởi vì cô cảm thấy xấu hổ và ác cảm với Thiên Chúa vì tin là Người không còn yêu thương cô. Sợ hãi sự đoán phạt của Thiên Chúa White đã rơi vào nghiện ngập rượu chè và bị trầm cảm nhiều năm trong thời gian 40 năm này. White cũng cố gắng không đọc bất cứ thứ gì viết về phá thai vì nó thật sự quá đau khổ.
Rồi trong một thời điểm đen tối năm 2015, bà White đã có một ơn soi sáng. Lúc đó bà đang sinh hoạt với nhứng ngừơi ủng hộ cuộc sống và nghe về sứ điệp của năm Từ bi thương xót, bà nhận ra vấn để của mình bắt nguồn từ sự không thể đôi diện với những gì bà đã làm mấy chục năm trước. Cuối cùng bà đã đối diện với nó, khi nhận ra rằng bà đã thực sự tước đoạt một sự sống. Bà biết là mình cần xưng tội. Bà đã tìm đến một linh mục khôn ngoan và cảm thông và bà đã nhận bí tich thống hối và hòa giải. Trước đó bà cũng sợ khi nghĩ đến những điều mà linh mục giải tội nghĩ về bà, tuy vậy bà đã đi xưng tội. Điều này đã đưa bà vào con đường được chữa lành. Bà cho biết việc bà xưng tội thật là đẹp. Khi bà đến với vị lInh mục, bà thấy bàn tay của Chúa Kitô và nghe thấy tiếng nói của ngài. Bà thật sự tin Chúa đã gừi linh mục đến với bà vì bà đã đau khổ quá nhiều.
Tuy thế việc chữa lành không xảy ra ngay lập tức, bà phải chiến đấu để đón nhận sự tha thứ cho tội lỗi không thể tha thứ của bà. Bà nói: “Phá thai không chỉ là giết một đứa bé mà còn gây thương tổn tinh thần nơi linh hồn của người phụ nữ. Bà White tiếp tục xin cha giải tội của bà hướng dẫn, và vị linh mục này đã giúp bà nhận ra điều bà cần là khiêm nhường quy phục Thiên Chúa và đón nhận quà tặng nhưng không – ơn tha thứ từ Thiên Chúa, Đấng tha thứ mọi tội lỗi, ngay cả tội phá thai. Cha giải tội cũng giúp bà bắt đầu nhận ra đứa trẻ, con bà đang ở trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa. Cha cũng khuyên bà tham dự vào chương trình cuối tuần “Vườn nho của Rachel”, một chương trình tĩnh tâm giúp các người nam nữ có cơ hội chấp nhận và than khóc về mất mát của họ từ việc phá thai và cuối cùng hướng họ đến hòa giải và binh an.
Bà White chia sẻ: “Tôi không bao giờ nghĩ là tôi có thể nói với một ai về một điều quá riêng tư và đau đớn như thế. Tôi muốn thương khóc cho con của tôi nhưng tôi đã cảm thấy mình không xứng đáng. Chương trình “Vườn nho của Rachel” cho phép tôi chia sẻ nỗi đau của tôi với những phụ nữ khác, những người cũng đã có cùng nỗi đau mất con vì phá thai. Các câu chuyện của chúng tôi khác nhau nhưng sự đau khổ thì giống nhau. Chúng tôi không chỉ xứng đáng than khóc, nhưng nó còn là một bước cần thiết trong việc phục hồi, chữa lành của chúng tôi”. Các buổi tĩnh tâm chữa lành cuối tuần đầy nước mắt đã cho phép bà White chấp nhận cách chân thành rằng bà là một bà mẹ và đã có một đứa con. Trước đó bà thường nói về đứa trẻ như một đồ vật nhưng bây giờ bà cầu nguyện cho con của bà và xin con cầu nguyện cho mình. Bà hình dung con mình sẽ đón chào mình trên thiên đàng. Bà White cũng đã thật sự cảm nhận và hiểu thế nào là lòng thương xót. (CNS 04/8/2016)
Hồng Thủy
Kinh nghiệm cầu nguyện trong lúc đau khổ của bà Jennifer Hubbard
Đối với nhiều người, cầu nguyện thật là khó khăn trong những giờ phút đau khổ cùng cực tuyệt vọng. Lúc đó người ta thường không nhớ đến Thiên Chúa, hoặc có nhớ đến Ngài thì thường là kêu than oán trách, tại sao Chúa lại để điều này xảy ra với tôi. Nhưng đối với bà Jennifer Hubbard, một cộng tác viên của báo Magnificat, chính việc cầu nguyện đã giúp bà vượt qua được những giây phút khó khăn nhất trong cuộc đời của bà. Bà Hubbard và gia đình đã thật sự sống những giây phút thảm kịch vào tháng 12 năm 2012. Hai em bé con của bà Hubbard đang học tại trường tiểu học Sandy Hook ở Newtown bang Connecticut. Một ngày, dân cư tại Newtown nhận tin báo, có một kẻ cầm súng vào trường tiểu học. Một vụ nổ súng đã xảy ra tại trường. Đã có 20 trẻ em và 6 người lớn bị thiệt mạng trong vụ nổ súng. Catherine Violet, con gái của bà Hubbard, là một trong số các nạn nhân; cô bé khi ấy mới chỉ 8 tuổi.
Khi nghe tin vụ nổ súng xảy ra tại trường học các con của mình đang theo học, bà Hubbard và chồng, giống như thân nhân của các học sinh và nhân viên của trường, vội vàng chạy đến trạm cứu hỏa và chờ đợi để nghe tin tức về các người thân yêu của họ. Trong lúc chờ nhận tin về hai con, bà Hubbard đã cầu nguyện xin Chúa đưa con gái Catherine của bà về nhà; bà cầu xin Chúa mà bà yêu kính gìn giữ con gái bà được bình an. Bà đã cầu nguyện để con gái bà sẽ xuất hiện tại trạm cứu hỏa bà đang chờ, nhưng sự việc không xảy ra như lời cầu xin của bà. Con gái Catherine của bà là một trong số các nạn nhân bị thảm sát. Thời gian dần qua, bà Hubbard nhận thấy là mình đã được Chúa đáp lời. Catherine đã về nhà. Chúa đã nhận lời cầu nguyện của bà và đưa con gái bà trở về nhà. Bà đã có hy vọng được nhìn thấy lại đứa con gái bé bỏng yêu quý của mình.
Bà Hubbard chia sẻ: “Tất cả chúng ta đều gặp phải những thử thách, tất cả chúng ta đều đối mặt với những thảm kịch. Thảm kịch của tôi là con gái của tôi bị giết. Thảm kịch của người khác có thể là kết luận của bác sĩ là ung thư đã ở giai đoạn cuối và không thể chữa trị. Khi chúng ta thực sự ở trong bóng tối của khó khăn đau khổ đó, việc cầu nguyện hướng sự chú ý của chúng ta về Thiên Chúa và cho phép sự bình an cư ngụ trong tâm hồn chúng ta bất chấp hỗn loạn cỡ nào đang vây quanh chúng ta.”
Theo bà Hubbard, những người đang gặp khó khăn về cầu nguyện thường là vì họ lo lắng là họ không thể làm được điều gì cụ thể, họ cảm thấy cầu nguyện không đủ giúp vượt qua khó khăn. Nhưng bà Hubbard nhận thấy là cầu nguyện chuẩn bị cho chúng ta quy hướng về Thiên Chúa và tình yêu của Người dành cho chúng ta, chống lại thử thách và khó khăn. Bà nói: "Bạn cầu nguyện với lòng tin tưởng rằng lời cầu nguyện của bạn sẽ được đáp lời, nhưng bạn cũng cầu nguyện với sự nhận thức là ý Chúa sẽ là điều tốt nhất”. Lời cầu nguyện không luôn được đáp trả như chúng ta chờ đợi.
Đối với bà Hubbard, lời cầu nguyện chân thành diễn tả một niềm hy vọng rằng một điều gì đó sẽ thay đổi. Đối với người cầu nguyện, có một vẻ đẹp là sự thay đổi diễn ra trong trái tim của người đó. Cầu nguyện và hy vọng đi đôi với nhau. Cầu nguyện là tiếp tục mối liên hệ đâm rễ sâu và cuộc đối thoại với người duy nhất có thể mang lại cho bạn sự hướng dẫn, ý nghĩa và bình an trong cuộc sống. Bà Hubbard cũng cảnh giác về sự nguy hiểm của không cầu nguyện: “Khi chúng ta không lắng nghe Thiên Chúa, khi chúng ta tự giải quyết vấn đề hay tìm câu trả lời mà chúng ta muốn Thiên Chúa đáp trả cho chúng ta, tôi nghĩ nó nguy hiểm. Khi chúng ta không lắng nghe Thiên Chúa, chúng ta chỉ hiếu chiến. Chúng ta đang đặt chúng ta trên Thiên Chúa. Không lắng nghe Thiên Chúa, tự giải quyêt vấn đề, chúng ta cảm thấy như chúng ta tự làm được. Người ta cố gắng và nhúng tay vào giải quyết một tình cảnh nhưng chỉ làm cho nó thành một mớ hỗn độn khủng khiếp. Không cầu nguyện, không lắng nghe Thiên Chúa, hay chỉ đầu hang trước bất cứ điều gì mình gặp phải, nó sẽ nắm giữ bạn lại, ngăn bạn nhìn thấy mục đích và đau khổ đó, bạn sẽ thất bại. Cầu nguyện là một lời đáp trả chứng tỏ bạn biết Thiên Chúa có một điều gì đó sẵn sàng cho bạn. (CNA 21/07/2016)
Hồng Thủy
Động lực đàng sau cử chỉ đẹp của Abbey D’Agostino tại Thế vận hội 2016
Abbey D’Agostino và Nikki Hamblin - RV
Trong khi huy chương vàng Olympic là một thành công mà các vận động viên mơ ước, thì có một giải thưởng khác được trao cho một số nhỏ được chọn lựa. Hai vận động viên điền kinh Nikki Hamblin (người New Zealand) và Abbey D’Agostino (người Mỹ) không đạt huy chương vàng, đồng hay bạc, nhưng đã được trao huy chương Pierre de Coubertin, là huy chương được trao cho các vận động viên và nhân viên tiêu biểu cho tinh thần thể thao tại Thế vận hội mùa hè và mùa đông. Đó là huy chương về “fair play” – tinh thần thượng võ. Đây là huy chương được ví là khó đạt hơn cả huy chương vàng, vì chỉ riêng Michael Phelps, kình ngư của thế giới, đã đạt được tất cả 23 huy chương vàng, thì hai vận động viên này mới là người thứ 18 và 19 nhận huy chương này. Cặp đôi này đã trở thành đề tài trên báo chí tuần qua.
Mọi chuyện diễn ra vào ngày thứ 3, 17 tháng 8 vừa qua, trong cuộc thi chạy vòng loại 5000 mét. Khi chỉ còn 2000 mét là đến đích thì hai vận động viên Hamblin và D’Agostino va chạm, cùng vấp và ngã xuống đất. D’Agostino đã đứng dậy trước nhưng cô không tiếp tục cuộc chạy ngay; thay vì đó, cô đã quay lại giúp Hamblin. Rồi khi D’Agostino quá đau không thể tiếp tục cuộc thi, đến lượt Hamblin đã đứng lại với D’Agostino một lúc để giúp cô đứng dậy. Cả hai đã kết thúc cuộc đua, nhưng D’Agostino phải đi khập khễnh trong 5 vòng cuối. D’Agostino và Hamblin đã ôm nhau cách thân thiết khi kết thúc vòng đua, và sau đó D’Agostino phải lên xe lăn rời vòng đua. Dù cả 2 thất bại trong vòng loại nhưng Ủy ban Olympic phán quyết là cả 2 được vào thi vòng chung kết do tinh thần thể thao của họ. Nhưng vào phút cuối D’Agostino đã không thể tham dự vòng chung kết vì chân vẫn còn đau.
Câu chuyện đẹp được khán giả trường đua chứng kiến và các khán giả khắp thế giới theo dõi qua các mạng truyền thông ngưỡng mộ, và các hãng tin toàn thế giới cũng đã tốn giấy mực cho cử chỉ đẹp đầy tinh thần thể thao này. Sau đó, D’Agostino đã chia sẻ về việc làm của mình: động lực và sức mạnh của hành động của cô chính là Thiên Chúa. Cô nói: “Dù hành động của tôi lúc đó là bản năng, cách duy nhất tôi có thể và lý luận đó chính là Thiên Chúa đã chuẩn bị trái tim tôi phản ứng theo cách đó. Cả thời gian ở đây Người cho tôi biết rõ là kinh nghiệm của tôi ở Rio sẽ có giá trị hơn là cuộc thi của tôi, và khi Nikki đứng lên tôi đã biết điều đó.”
Abbey D’Agostino 24 tuổi, lớn lên trong một gia đình Công giáo. Cô đã chia sẻ trong cuộc phỏng vấn dành cho podcast “Running On Om” về việc chạy đua của cô, về những lo lắng chấn thương và về đời sống cầu nguyện. D’Agostino cho biết, cô thường dùng thời gian cầu nguyện của mình để suy gẫm về những điều Thiên Chúa đã làm trong cuộc sống của cô. Cô lắng nghe thánh ca, đọc Kinh thánh và viết nhật ký. Những điều này đưa cô đến một nơi khiêm nhường, nơi cô nhận ra vị trí của mình trước nhan Chúa. Khi vào cuộc thi chạy, cô nghĩ rằng sự tin cậy vào Chúa và sự hiện diện của Chúa Thánh Thấn sẽ thêm “năng lượng” cho cô, cách ý thức hay vô thức. Cô nói: “Tôi cảm thấy bình an khi nhận biết là mình không đang chạy với sức mạnh của mình”. Cô kết thúc cuộc thi chỉ với việc đón nhận Chúa Giêsu và nhận ra điều có ý nghĩa trong cuộc sống của cô.
Như các vận động viên khác, D’Agostino cũng lo sợ những chấn thương trong các cuộc thi. nhưng chính sự tín thác vào Thiên Chúa giúp cô vơi bớt những lo lắng trước các cuộc thi quan trọng. Cô nói: “Cho dù kết quả cuộc thi thế nào tôi sẽ chấp nhận nó. Tôi rất biết ơn và chỉ rút lấy những điều mà tôi cảm thấy nó bày tỏ rõ ràng việc làm của Thiên Chúa trong cuộc sống của tôi.” D’Agostino cho biết những lần chấn thương trước đã thúc đẩy cô cậy dựa vào Thiên Chúa trong cách thế mà cô chưa bao giờ có trước đó. Trên lý thuyết, cô biết tín thác vào Thiên Chúa là cách duy nhất mình có thể cảm thấy bình an, vui mừng và thỏa mãn mà Người ban cho, nhưng kinh nghiệm điều này và rơi vào trong một tình trạng mà đức tin bị thử thách thì lại là một vấn đề khác. Sau những chấn thương, những lần cảm thấy cô đơn và mất tự tin đã làm cô phải xét mình; mình có thực sự tin cậy vào Thiên Chúa, để Thiên Chúa kiểm soát và làm vinh danh Thiên Chúa qua thể thao hay không. Nếu thời gian có thể quay lại, cô muốn được trò chuyện với Mẹ Têrêsa, một người rất đặc biệt với cô. (CAN 17/8/2016)
Hồng Thủy
September 12, 2016