CHƯƠNG I
CHÂN DUNG GIÁO ĐOÀN GALÁT VÀ CUỘC KHỦNG HOẢNG CỦA TÍN HỮU
NHÓM THỪA SAI XÚI BẨY KITÔ HỮU CÁC GIÁO ĐOÀN VÙNG GALÁT
PHẢN BỘI CHÚA KITÔ VÀ TIN MỪNG CỦA NGÀI GỒM NHỮNG AI?
Như đã biết, cuộc khủng hoảng trong các giáo đoàn vùng Galát không phải là một tiến trình độc lập, mà là một hiện tượng được đưa vào từ bên ngoài. Trong thư thánh Phaolô rất chú ý phân biệt tín hữu các cộng đoàn này, mà ngài gọi là ”anh chị em”, với nhóm người len lỏi vào cộng đoàn để gây rối loạn và kéo tín hữu xa rời tinh thần Tin Mừng của Chúa Giêsu, nhóm người mà thánh nhân gọi là ”họ”. Tuy nhiên, trong thư chúng ta không thấy các kiểu miêu tả trực tiếp, mà chỉ thấy các kiểu nói ám chỉ. Do đó, khó có thể xác định tông tích của nhóm người này.
Mặc dầu không có các nét xác định rõ ràng, nhưng thư Galát cũng cống hiến cho chúng ta nhiều dữ kiện liên quan tới hoạt động của nhóm thừa sai chống đối thánh Phaolô. Trước hết họ là những người phá rối cộng đoàn. Thánh Phaolô khẳng định với tín hữu trong chương 1,7 như sau: ”Không có Tin Mừng nào khác đâu, mà chỉ có một vài kẻ phá rối anh chị em và muốn làm xáo trộn Tin Mừng của Đức Kitô đó thôi!” (1,7). Trong chương 5,10 thánh nhân viết thêm: ”Một chút men làm cả khối bột dậy lên. Đối với anh chị em trong Chúa tôi tin tưởng rằng, anh chị em sẽ không nghĩ khác. Còn kẻ phá rối anh chị em thì phải chuốc lấy án phạt, bất cứ người ấy là ai” (5,9-10). Cung cách hành động của họ được so sánh với đôi tay ảo thuật của thầy phù thủy, thôi miên và mê hoặc tín hữu Galát (3,1). Cụ thể mà nói, họ bắt buộc tín hữu Galát phải chấp nhận lễ nghi cắt bì do thái (6,12), là lễ nghi họ coi là rất quan trọng. Nhưng khi làm như thế, tín hữu Galát đã đảo lộn Tin Mừng của Chúa Kitô, mà thánh Phaolô đã nhọc công rao giảng cho họ (1,7; 5,7). Để đạt mục đích này, nhóm người nói trên tìm mọi cách để phân rẽ, tách rời tín hữu Galát khỏi thánh Phaolô là người cha tinh thần đã sinh ra họ trong lòng tin. Thánh Phaolô thấy rất rõ điều đó khi viết trong chương 4,17: ”Họ nhiệt thành với anh chị em không phải vì mục đích tốt, mà chỉ vì muốn ly gián anh chị em với tôi, để anh chị em nhiệt thành với họ”.
Trong bối cảnh xung khắc như thế, kiểu thánh Phaolô miêu tả họ cũng ít nhiều thiên vị và nhất là mang sắc thái chế nhạo. Vì thánh nhân muốn lôi họ ra ánh sáng và vạch trần mưu kế xảo quyệt của họ. Ngài không sợ phải đối chất với họ trước tòa án lương tâm. Đây là lý do giải thích tại sao thánh Phaolô lại có giọng điệu rất là pháp lý. Ngài viết trong chương 6,12: ”Tất cả những ai muốn chiếm hữu cảm tình của anh em theo tính xác thịt, ép buộc anh em phải chịu cắt bì, với mục đích duy nhất là để không còn bị bắt bớ vì thập giá Đức Kitô nữa”. ”Thật thế, chính những người cắt bì cũng không tuân giữ Lề Luật, nhưng họ muốn anh em cắt bì để có lý do mà khoe khoang nơi thân xác anh em” (6,13). Dưới con mắt của thánh Phaolô họ là những người lạc giáo, và phải đối xử với họ như là những kẻ rối đạo. Đó là lý do giải thích lời thánh nhân đe dọa họ phải bị án phạt đời đời: ”Các kẻ phá rối anh chị em thì phải lãnh lấy án phạt, bất kỳ kẻ đó là ai” (5,10). Thánh Phaolô cũng công khai nói lên lời chúc dữ họ nữa. Ngài viết trong chương 1,9: ”Như tôi đã nói và nay tôi xin lập lại: nếu có ai loan báo cho anh chị em một Tin Mừng khác với Tin Mừng mà anh chị em đã nhận lãnh, thì xin Thiên Chúa loại trừ kẻ ấy đi!”.
Dầu sao đi nữa, có một sự kiện lịch sử, đó là nhóm người gây rối loạn trong cộng đoàn Galát coi trọng gía trị của lễ nghi cắt bì. Chính vì thế họ muốn áp đặt tập tục này của người Do thái trên các tín hữu gốc ngoại giáo theo Kitô giáo thuộc các cộng đoàn Galát. Họ cũng áp đặt lịch phụng vụ do thái trong cuộc sống cộng đoàn, với các lễ nghi theo thứ tự ngày, tháng, năm (4,10). Điểm thứ ba có thể rút tiả ra từ những gì nói trên đây, đó là nhóm gây rối, nói chung, là những người vị luật lệ, chủ trương tuân giữ tỉ mỉ Luật Môshê. Đây cũng là lý do giải thích tại sao thánh Phaolo lại trách các tín hữu Galát là muốn trở lại cuộc sống nô lệ luật (4,21). Xem ra nó trái nghịch với lời thánh nhân khẳng định trong chương 6,13, nói rằng chính những người được cắt bì và vị luật lệ ấy lại cũng không tuân giữ Lề Luật. Nhưng đây chỉ là nhận xét chủ quan của người viết, chứ không phải là lập trường của nhóm đối lập với thánh Phaolô. Đàng khác sự kiện thánh Phaolô nhấn mạnh trên việc loại trừ mọi giá trị cứu rỗi của luật lệ chỉ có thể hiểu được như là câu trả lời cho khuynh hướng đối nghịch của tín hữu Galát (5,4) và trước đó nữa là khuynh hướng đối lập của nhóm gây rối loạn.
Như thế nhóm người kể trên là những người đã gieo rối loạn trong các cộng đoàn Galát. Họ rao giảng một thứ Tin Mừng có thể thích ứng với đòi buộc phải cắt bì và Luật Lệ Môshê. Đồng thời họ cũng là những người đã phát động chiến dịch nói xấu, bôi nhọ Phaolô. Những lời tự biện minh của thánh Phaolô cho chúng ta biết họ đã thi hành chiến dịch hạ uy tín thánh nhân như thế nào. Trước hết họ tố cáo Phaolô không phải là Tông Đồ đích thực, và không thể so sánh với các Tông Đồ của giáo hội mẹ Giêrusalem. Cùng lắm chỉ có thể coi Phaolô như là một người được giáo đoàn Antiokia sai phái đi (x. 1,1). Tiếp đến họ chỉ trích giáo lý Phaolô rao giảng. Nó là thứ giáo thuyết học được từ người khác (x. 1,11-12), mang tính chất phàm nhân, không uy tín như lời rao giảng của thánh Phêrô và hàng lãnh đạo giáo đoàn mẹ tại Giêrusalem (2,1 tt.). Sau cùng họ cũng dùng cả thủ đoạn hèn hạ vu khống thánh Phaolô là kẻ xu thời. Tin Mừng của sự tự do mà Phaolô rao giảng cho người ngoại giáo, cho phép họ khỏi phải cắt bì và tuân giữ Lề Luật Môshê, chỉ là một mánh lới, nhằm mục đích lôi cuốn người nghe chấp nhận và tin theo một cách qúa dễ dàng (x. 1,10).
Dựa trên tất cả các nét đặc thù kể trên, giới học giả kinh thánh đã đưa ra nhiều giả thuyết trong việc xác định căn cước của nhóm người đối nghịch với thánh Phaolô. Người thì cho rằng họ là các kitô hữu gốc do thái chủ trương tuân giữ Luật Lệ Môshê và lễ nghi cắt bì. Kẻ khác nói họ là các kitô hữu theo cùng chủ trương nhưng là gốc ngoại giáo, tức không phải người do thái. Có học giả khác nữa lại cho rằng họ là các kitô hữu gốc do thái theo thuyết ngộ đạo. Người khác nữa lại nghĩ rằng họ là các kitô hữu ngộ đạo, hay theo khuynh hướng ngộ đạo nhưng gốc ngoại giáo. Cũng có học giả cho rằng họ đại điện một phong trào trộn lẫn Do thái giáo với Kitô giáo và thuyết ngộ đạo. Sau cùng có người nghĩ rằng họ gồm hai nhóm khác nhau và chống đối nhau: nhóm chủ trương tuân giữ luật lệ do thái, và nhóm hứng khởi chủ trương sống tự do buông thả.
Trước hết phải nói ngay rằng không có hai nhóm thù nghịch thánh Phaolô, bởi vì trong thư, thánh nhân chỉ luôn luôn nhắm tới cùng một đối thủ. Đoạn thư chứa đựng những lời khuyến dụ 5,13-6,10 cho thấy thánh nhân không có ý đả phá các tín hữu chủ trương sống tự do buông thả cho bằng cảnh cáo tín hữu Galát đề phòng chống lại các hiểu lầm có thể xảy ra. Giả thuyết sự hiện diện của phong trào ngộ đạo tại Galát giống như tại Côrintô và Philiphê cũng không đứng vững, bởi vì trọng tâm của cuộc tranh luận ở đây là lập trường sai lầm coi Luật Lệ Môshê có giá trị cứu rỗi. Như thế giải pháp duy nhất còn lại là nhóm người xúi bẩy tín hữu Galát phản bội Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài là các kitô hữu gốc do thái chủ trương tái lập một nền thần học do thái và sống các gía trị do thái giáo trong cuộc sống lòng tin kitô. Chắc chắn họ từ ngoài tới chứ không phải là tín hữu thuộc cộng đoàn. Cũng có thể khẳng định rằng họ thuộc một phong trào kitô gốc do thái rộng lớn hơn, chủ trương trả lời cho nhóm tín hữu palestine nhiệt tình tố cáo kitô hữu lơ là với Luật Lệ Môshê. Nhưng gốc gác palestine của họ không cho phép đồng hóa họ với ”các anh em giả” mà thánh Phaolô nói tới trong chương 2,4 thư gửi tín hữu Galát, hay với ”những người thuộc vòng thân cận của Giacôbê”, như nói tới trong câu 12 cùng chương 2. Những người này đã gây ra cuộc khủng hoảng tại Antiokia hay vụ đụng độ giữa thánh Phaolô và thánh Phêrô, khi họ lôi kéo thánh Phêrô về phía họ, khiến cho Phêrô e dè không dùng bữa với các tín hữu kitô gốc ngoại giáo nữa. Sư kiện họ tuân giữ các lễ nghi phụng tự tỉ mỉ như ghi trong lịch phụng vụ, cho phép chúng ta nghĩ rằng họ có liên hệ với các tín hữu do thái thuộc phong trào khải huyền. Sau cùng việc nhấn mạnh trên lễ nghi cắt bì khiến cho họ khác hẳn với nhóm kitô hữu gốc do thái mà thánh Phaolô đả phá trong thư thứ II gửi tín hữu Côrintô.
Trong số các lý cớ thần học họ đưa ra để biện minh cho lập trường riêng, phải kể tới uy tín của các Tông Đồ và hàng lãnh đạo cộng đoàn Giêrusalem, đặc biệt là Tông Đồ Phêrô. Thánh Phaolô chứng minh cho họ thấy ngài cũng đã được giới lãnh đạo và kỳ mục Giêrusalem chấp thuận và đặc biệt là lập trường rõ ràng của ngài trong vụ tranh luận với thánh Phêrô tại Antiokia (2,1-10; 2,11-14). Lý cớ thần học thứ hai được họ trưng dẫn là sự kiện thuộc dân riêng Chúa chọn: ”Chúng ta sinh ra là người do thái chứ không phải là dân ngoại” (2,15). Và lý cớ thứ ba là các dẫn chứng kinh thánh mà họ đưa ra để biện minh cho việc trung thành tuân giữ luật lệ cựu ước. Chẳng hạn tổ phụ Abraham đã đẹp lòng Thiên Chúa vì thái độ vâng lời và trung thành với luật lệ, biểu lộ ra trong việc sẵn sàng hiến tế Igiaác cho Thiên Chúa. Tín hữu Galát cũng phải noi gương sống đó (x. 3,6 tt). Luật lệ Môshê là do Thiên Chúa ban, nên ai khước từ nó là kẻ gian ác (x. 3,19 tt). Chỉ có những ai cắt bì và trung thành tuân giữ luật lệ mới thật là con cái của tổ phụ Abraham và Sara (x. 4,22tt). Giêrusalem là mẹ chúng ta. Và sau cùng, có thể nhóm thừa sai đã chọn khẩu hiệu thần học này: ”Con người chỉ công chính trước mặt Thiên Chúa nếu tuân giữ luật lệ”.
Đức Ông Linh-Tiến-Khải
Linh Tiến Khải