Linh Tien Khai - dongcong.net
 
 

Bài của Đức Ông Khải, Roma


CHƯƠNG II
KẾT CẤU NỘI DUNG VÀ CÁC MẤU ĐIỂM THẦM HỌC THƯ GỬI TÍN HỮU GALÁT (7)
-------------------------------------------

(7) KITÔ HỌC NHƯ NỀN TẢNG THẦN HỌC VỀ ƠN CỨU ĐỘ
TRONG THƯ GỬI GIÁO ĐOÀN GALÁT

 Cách thức đạt ơn cứu độ là vấn đề thần học quan trọng nổi bật gây tranh luận trong giáo đoàn Galát. Các thừa sai kitô gốc do thái chủ trương rằng để được cứu rỗi người theo Kitô giáo phải tuân giữ Luật Lệ Môshê, đặc biệt là luật cắt bì cho nam giới. Thánh Phaolo,â trái lại, khẳng định rằng chỉ có lòng tin vào Chúa Kitô mới có thể đem lại ơn cứu độ cho con người, chứ không phải Luật Lệ. Như thế trọng tâm của cuộc tranh luận thần học về ơn cứu độ liên quan tới kitô học.

Để chứng minh cho thấy việc tuân giữ Lề Luật không đem lại ơn cứu độ cho con người, thánh Phaolô đã theo kiểu diễn tả mang sắc thái kinh thánh cựu ước và do thái. Thánh nhân đặc biệt dùng lại ý niệm công chính hóa. Ngài viết trong chương 2,15-16: ”Chúng ta bẩm sinh là người Do thái, chứ không phải là hạng người tội lỗi gốc dân ngoại. Nhưng vì biết rằng con người được nên công chính không phải nhờ làm những gì Luật dậy, nhưng nhờ lòng tin vào Đức Giêsu Kitô, nên chúng ta cũng tin vào Đức Giêsu Kitô để được nên công chính, vì nhờ lòng tin vào Đức Giêsu Kitô, chứ không phải nhờ làm những gì Luật dậy. Qủa thế, sẽ không có phàm nhân nào được nên công chính vì làm những gì Luật dậy”. Nhưng đâu là ý nghĩa chính xác của từ ”dikaiosýnê”, ”sự công chính” hay ”dikaios”, ”công chính” và ”dikaióô”, ”làm cho nên công chính” hay ”công chính hóa”. Đây là một ý niệm diễn tả sự liên hệ. Nó diễn tả tương quan đúng đắn của con người với Thiên Chúa. Nhưng con người được trở nên ”công chính” theo tiêu chuẩn nào? Thưa theo luận lý của giao kèo. Ý niệm ”công chính” định nghĩa thế đứng đúng đắn của con người như là nhân vật ký kết giao ước với Thiên Chúa. Vậy đâu là điều kiện để con người có thể trở thành người trung thành với Thiên Chúa trong giao ước đã ký kết? Phải tin vào lời loan báo Tin Mừng của Chúa Kitô, Đấng đã chết và sống lại, hay tin vào việc tuân giữ Lề Luật Môshê? Cách đặt vấn đề ở đây vẫn là việc phải quyết định chọn một bỏ một. Và theo thánh Phaolô chỉ có lòng tin vào Chúa Kitô mới khiến cho con người được trở nên ”công chính” trước mặt Thiên Chúa, và qua đó mới được ơn cứu độ mà thôi. Nhưng lòng tin mà thánh Phaolô nói tới ở đây không phải là thứ lòng tin chỉ giản lược vào việc đồng ý hay chấp nhận trên lý thuyết hoặc một loại giáo lý chính truyền khô cằn. Tin ở đây có nghĩa là hoàn toàn chấp nhận biến cố con người của Đức Kitô và sức sinh động nội tại của tình yêu thương đã hướng dẫn toàn cuộc sống của Ngài. Nó là một lòng tin được tình yêu thương thúc đẩy hoạt động một cách cụ thể. Đây là điều được Thánh Phaolô khẳng định một cách rất rõ ràng trong chương 5,6: ”Thật vậy, trong Đức Kitô Giêsu, cắt bì hay không cắt bì đều không có gía trị, chỉ có đức tin hành động nhờ đức ái mới có gía trị mà thôi”.

Cuộc sống lòng tin đích thực là một cuộc lột xác, một cuộc đổi đời sâu đậm khiến cho tín hữu không sống cho chính mình nữa, mà sống cho Chúa Kitô. Hay nói cách khác, nó khiến cho tín hữu được kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô tới độ, họ cảm thấy Ngài hiện diện, sống và hoạt động trong họ và qua họ. Đích điểm tối hậu của lòng tin là cuộc sống kết hiệp hoàn toàn với Chúa Kitô, là cuộc sống bị Chúa Kitô chiếm hữu. Chính kinh nghiệm tuyệt diệu này đã khiến cho thánh Phaolô viết trong chương 2,20: ”Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống trong xác phàm, là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi”, ”Đấng đã chết cho tội lỗi chúng ta” như ngài viết trong chương 1,4. Trong chương 3 thánh Phaolô cũng lại nêu bật sự kiện con người không đươc nên công chính nhờ tuân giữ Luật Lệ, mà nhờ lòng tin vào Chúa Kitô, nên lãnh nhận được ơn cứu độ Thiên Chúa đã hứa ban. (3,21-22).

Qua những gì trình bầy trên đây, chúng ta nhận thấy kitô học và cứu độ học trong thư gửi giáo đoàn Galát cũng bao gồm một nền thần học nhân chủng chính xác. Tín hữu chỉ được trở nên ”công chính” trước mặt Thiên Chúa, là Cha của Đức Giêsu Kitô, khi họ biết sống tình yêu thương tận hiến ”agapé” như chính Chúa Giêsu Kitô đã sống. Nghĩa là yêu thương đến chết cho người khác, chết vì người khác, tuy vô tội nhưng vẫn hiến mạng sống mình để đền bù tội lỗi cho người khác. Chỉ có người biết phó thác hoàn toàn xác hồn cho chương trình cứu độ tập trung nơi con người của Chúa Kitô tử nạn và phục sinh, và sống trong sức sinh động của tình yêu thương tận hiến, mới thực sự bước vào trong niềm hiệp thông với Thiên Chúa. Chứ việc tuân giữ Lề Luật trong thái độ tự mãn kiêu căng cho mình là người toàn vẹn không thiếu sót, không thể khiến cho tín hữu trở nên công chính. Con người không thể gặp gỡ Thiên Chúa và hiệp thông với Ngài khi tự tôn mình lên địa vị người thực hành đạo, đã tuân giữ các luật lệ luân lý đạo đức nên phải là người đối thoại được Thiên Chúa chấp nhận. Quan điểm thần học nhân chủng ở đây cũng được thánh Phaolô xây nền trên kitô học. Chính niềm tin vào Chúa Kitô và nỗ lực sống tinh thần yêu thương tận hiến của Chúa biến đổi bản chất con người của tín hữu, khiến cho họ trở thành một con người mới, một thụ tạo mới, sống theo một luận lý mới: luận lý của tình yêu thương tận hiến.

Nhưng chưa hết, thánh Phaolô còn dùng kitô học để định nghĩa thực tại Giáo Hội nữa. Chỉ có dân mới bao gồm những người tin vào Đức Kitô mới là đồng minh của Thiên Chúa. Nói cách khác, Giáo Hội là cộng đoàn bao gồm những người chọn lựa tin vào Chúa Kitô và sống yêu thương như Chúa Kitô, chứ không phải là cộng đoàn bao gồm những người chăm chỉ tuân giữ luật lệ. Bởi người ta có thể tuân hành mọi thứ luật lệ mà vẫn không tin và không sống tình yêu thương tận hiến. Vì Giáo Hội bao gồm những người tin vào Chúa Kitô và sống tình yêu thương tận hiến nên nó có chiều kích đại đồng. Nghĩa là Giáo Hội rộng mở cho mọi người không phân biệt chủng tộc, mầu da, giai cấp và phái tính. Chính vì thế thánh Phaolô viết trong chương 3,28: ”Không còn chuyện phân biệt người Do thái hay người Hy lạp, nô lệ hay tự do, nam giới hay nữ giới nữa, nhưng anh chị em tất cả chỉ là một trong Đức Kitô Giêsu”. Việc gia nhập cộng đoàn dân Chúa, việc trở thành tín hữu thành phần của Giáo Hội không bị điều kiện hóa bởi bất cứ yếu tố lịch sử văn hóa hay nhân chủng nào. Tất cả mọi người, không phân biệt ai, đều được mời gọi tin vào Chúa Giêsu Kitô để được ơn cứu độ. Không có ai được đặc quyền đặc lợi, cũng không có ai bị khước từ, dù trong qúa khứ họ đã là ai và có làm gì đi nữa. Tin Mừng là lời mời gọi con người như là bản vị tự do, có khả năng quyết định đáp trả lại tiếng Thiên Chúa mời gọi tin vào Đức Giêsu Kitô, và để cho mình bị cuốn hút vào trong cái luận lý tình yêu thương tận hiến của Chúa Kitô, Đấng đã tự hiến mạng sống mình đến chết trên thập giá để đền tội cho loài người và trao ban ơn cứu độ cho tất cả những ai tin vào Ngài. Nói cách khác, Thiên Chúa rộng mở vòng tay yêu thương chờ đón mọi người. Ngài không nhìn qúa khứ của chúng ta. Đối với Chúa mọi sự chỉ bắt đầu khi chúng ta quyết định nghe theo lời Ngài mời gọi bước vào trong liên hệ lòng tin và tình yêu thương tận hiến đó.

Tuy nhiên, thánh Phaolô còn đưa ra hai xác định khác liên quan tới vấn đề Luật Lệ. Thứ nhất, theo thánh nhân Luật Lệ chẳng những không có gía trị cứu rỗi, mà còn nên cớ cho người ta phạm tội. Luật Lệ đã được các thiên thần ban bố qua tay một trung gian, là ông Môshê, trong thời gian giữa lời hứa Thiên Chúa đã thề cùng tổ phụ Abraham 430 năm trước và biến cố Đấng thuộc dòng dõi Abraham là Đức Kitô đến cứu độ trần gian (3,17-19). Cụ thể mà nói, thay vì trao ban ơn cứu rỗi tức sự sống, Lề Luật khiến cho con người vấp phạm nên phải chết, bởi vì lệnh cấm thúc đẩy con người nổi loạn và vi phạm lề luật. Tội lỗi đã hiện diện như là sức mạnh tự mãn ích kỷ, khiến cho con người tự đóng kín trong chính mình và nó tự thể hiện ra ngoài bằng các hành động nổi loạn chống lại ý muốn của Thiên Chúa qua Luật Lệ. Do đó Luật Lệ là dụng cụ đẩy đưa nhân loại tới cái chết đời đời. Vấn đề thần học này sẽ được thánh Phaolô khai triển một cách rộng rãi hơn trong thư gửi giáo đoàn Roma (3,21; 7,7-13). Ở đây cần phải nói ngay rằng tự nó Luật Lệ không phải là điều tiêu cực. Nói cho cùng, có tiêu cực hay không tất cả đều tùy thuộc nơi con người, là mồi ngon của tội lỗi, bị giam cầm dưới ách thống trị của tội lỗi (3, 22; Rm 5,12 tt.). Về phía Lề Luật, nó chứng minh cho thấy nó không có khả năng thay đổi trái tim con người. Vì nó chỉ là một ánh sáng soi chiếu, chứ không phải một sức mạnh tăng dưỡng con người (3,21b).
Xác định thứ hai thánh Phaolô đưa ra ở đây là định nghĩa Luật Lệ trong tương quan với Đức Kitô. Phải định nghĩa Lề Luật như thế nào đây? Thánh Phaolô dùng một hình ảnh tuyệt đẹp để diễn tả liên hệ này. Đó là hình ảnh một đứa bé trước khi tới tuổi trưởng thành phải tuân phục người ”nô lệ” được chủ giao cho nhiệm vụ giám sát nó nghiêm ngặt, dẫn nó tới thầy dậy học và bắt nó tuân giữ kỷ luật cứng rắn. ”Cũng thế, Lề Luật đã trở thành người canh giữ chúng ta cho tới khi chúng ta gặp gỡ Đức Kitô, để được nên công chính nhờ lòng tin” (3,24). Và như thế Lề Luật không có nhiệm vụ tích cực nào. Trái lại nó còn tuyên bố lời chúc dữ của Thiên Chúa đối với con người bị tội lỗi thống trị (3.10). Cho tới khi Đức Kitô tới để ”chuộc chúng ta khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, bằng cách trở thành người bị chúc dữ vì chúng ta. Vì Kinh Thánh có chép: đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị chết treo trên cây gỗ!” (3,13). Nhưng cũng chính nhờ thế mà phúc lành Thiên Chúa đã hứa cùng tổ phụ Abraham đến được với dân ngoại nhờ Đức Giêsu Kitô (3,14a). Vì thế chỉ có lòng tin vào Chúa Kitô mới trao ban ơn cứu độ cho con người, chứ không phải việc tuân giữ Lề Luật.

Đức Ông Linh-Tiến-Khải


Linh Tiến Khải

 

Linh Tiến Khải - Vietvatican.net

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)