NIỀM HY VỌNG KITÔ
Đề tài thần học quan trọng cuối cùng được thánh Phaolô đề cập tới trong chương 15 thư thứ I gửi tín hữu Côrintô là sự sống lại của Chúa Kitô. Nó là lập trường thánh Phaolô đưa ra chống lại khuynh hướng kitô giáo hứng khởi ngự tri trong giáo đoàn Côrintô, nhưng nói chung nó liên quan tới niềm hy vọng Kitô bao gồm nhiều mấu điểm thần học đã được phân tích trước đây. Tín hữu Côrintô đã lệch lạc đánh gía qúa cao kinh nghiệm hiểu biết sâu xa các mầu nhiệm về Thiên Chúa, thế giới và con người (gnôsis và sophía), sự tự do vô hạn đối với các thực tại trần thế, việc tham dự bí tich và đặc sủng vào các sức mạnh thiên linh của thế giới thiên quốc. Nói cách khác, họ cảm thấy ḿinh đã đạt đích ơn cứu độ. Họ cho họ là những người bị Thần Khí chiếm hữu, được ánh sáng thiên linh của Thiên Chúa soi chiếu và mạc khải cho biết các bí nhiệm sâu thẳm dấu ẩn của thực tại. Họ nghĩ rằng cái tôi nội tại của họ đã được giải thoát khỏi các hạn hẹp và mâu thuẫn của ḷich sử. Do đó họ còn có gì nữa đâu mà chờ đợi nơi tương lai? Còn có ước mong và khát vọng nào lôi cuốn được họ nữa? Hiện tại giờ đây chẳng phải là mực thước duy nhất đo bản thể của họ hay sao? Nếu nhin từ góc cạnh này, có thể định nghĩa chương 15 là trung tâm điểm của thư thứ I gửi giáo đoàn Côrintô và sự sống lại là đề tài nòng cốt hiệp nhất toàn thư.
Thánh Phaolô đi thẳng vào đề tài mà không dùng công thức chuyển tiếp hay dẫn nhập. Chỉ ở câu 12 thánh nhân mới nhắc tới lập trường của tín hữu Côrintô: ”... làm sao một vài người trong anh cḥi em lại có thể nói rằng người chết không sống lại?” (c. 12b). Các thắc mắc trong câu 35 cũng là của các tín hữu: ”Người chết sống lại làm sao? Họ đến với thân xác nào?”. Văn bản chương 15 không cho biết ai đã kể lại cho thánh Phaolô nghe các thắc mằc này của tín hữu. Giọng văn cho phép nghĩ rằng các tín hữu đã viết thư nêu vấn nạn với thánh nhân. Nhưng có lẽ cũng đã có người tới thăm nói cho thánh Phaolô biết. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn vẫn là xác đ̣nh thắc mắc đã nảy sinh trong cộng đoàn Côrintô. Sự kiện một số tín hữu từ chối tin vào sự sống lại có ý nghĩa gí? Tại sao họ lại nghi ngờ sự sống lại và lại muốn biết chi tiết liên quan tới trạng thái của thân xác phục sinh? Chúng ta có thể loại bỏ ba ý kiến sau đây: thứ nhất ý kiến cho rằng tín hữu Côrintô không tin vào viễn tượng cuộc sống mai sau; thứ hai, ý kiến cho rằng họ khước từ sự sống lại, nhưng chấp nhận sự bất tử của linh hồn; và thứ ba, cũng giống như tín hữu Thêxalônica, họ tin rằng những kitô hữu đã chết trước khi Đức Kitô quang lâm, không được tham dự vào ơn cứu độ.
Trả lời rằng tín hữu Côrintô không tin vào bất cứ viễn tượng cuộc sống tương lai nào là điều vô lý, ví khi nghe lời rao giảng của thánh Phaolô và các sộng sự viên, họ đã tin vào Chúa Kitô tử nạn và phục sinh, nghĩa là tin vào sự sống lại. Cũng không thể chấp nhận giả thuyết do học giả Bultmann đưa ra cho rằng thánh Phaolô đã giải thích lập trường này của tín hữu Côrintô nhưng làm sai lạc nó đi. Thật ra trong lập luận của ḿnh đôi khi xem ra thánh Phaolô muốn chứng minh cho thấy không thể từ chối sự sống bên kia cái chết, cũng như khi thánh nhân nhắc tới cuộc sống kitô và cuộc đời nhiều gian lao vất vả của ngài, thánh Phaolô cho thấy chúng không thể nào hợp với giả thuyết cho rằng mọi sự đều kết thúc với cái chết (cc. 19.30-32). Nhưng nếu thánh Phaolô đã biết tới thói quen của các tín hữu Côrintô lãnh phép rửa tội thay cho những người đã chết để cho họ được ơn tha tội (c. 29), chắc chắn thánh nhân đã không thể gán cho họ là khước từ cuộc sống bên kia cái chết.
Giả thuyết thứ hai cho rằng tín hữu Côrintô không tin vào sự phục sinh nhưng chấp nhận linh hồn bất tử cũng chỉ là một dự phóng ảnh hưởng của triết lý Platon trên giáo đoàn Côrintô. Và sau cùng giả thuyết thứ ba cho rằng t́nh trạng của giáo đoàn Côrintô song song với tính trạng của giáo đoàn Thêxalônica cũng không vương ví câu trả lời của thánh Phaolô trong hai thư khác nhau.
Ý kiến cho rằng các tín hữu Côrintô bị rơi vào t́nh trạng hoàn toàn trống rỗng tương lai, ví qúa chú ý tới hiện tại, xem ra đáng tin cậy hơn cả. Thật vậy, họ cho rằng sự sống lại đã được hiện thực trong kinh nghiệm đặc sủng, bí tích và hiểu biết các mầu nhiệm mạc khải mà họ đang có trong hiện tại. Lập trường của họ sau này sẽ bị thánh Phaolô tố cáo trong chương 2,18 thư gửi cho Timôtêô: ”...những người ấy đã lạc xa sự thật, khi chủ trương rằng sự phục sinh đã xảy ra rồi”. Gần đây học giả J. D. Doughty (The presence and Future of Salvation in Corinth in ZNW 66(1975) 61-69) đã chuyển sự chú ý từ phản đề hiện tại và tương lai sang bản chất của ơn cứu độ. Các tín hữu Côrintô chối bỏ cuốc sống tương lai, bởi ví họ theo thuyết duy linh. Theo đó tín hữu được ơn cứu độ nhờ kinh nghiệm hiện tại giải phóng họ khỏi các ràng buộc của trần gian và khỏi các xung khắc lịch sử, giải thoát cái tôi nội tại của họ khỏi nô lệ trái đất. Xem ra hai kiểu giải thích bổ túc cho nhau. Sở dĩ tín hữu Côrintô khước từ chấp nhận sự phục sinh v́i họ tuyệt đối hóa gía tṛ của kinh nghiệm về ơn cứu độ trong hiện tại, đồng thời có quan niệm duy linh về ơn cứu độ đó. Sự kiện trong giáo đoàn Côrintô có các tín hữu được soi sáng xác tín rằng họ đã đạt thực tại cứu độ vĩnh viễn lộ hiện trong lời thánh Phaolô mỉa mai họ ở chương 4,8: ”Anh chị em đã no nê rồi mà! Anh chị em đã trở thành giầu có rồi mà! Không có chúng tôi anh chi em đã thống trị rồi mà!”. Thánh Phaolô cũng đã nhiều lần ghi nhận khuynh hướng của các tín hữu Côrintô hứng khởi giảm thiểu kinh nghiệm lòng tin kitô vào quan niệm thiên quang luận. Những gí nói trong chương 7 là bằng chứng rõ ràng nhất. Trong viễn tượng đó chúng ta hiểu tại sao họ lại khước từ tin vào sự sống lại của thân xác. Nghĩa là có thể tóm tắt lập trường của họ như sau: ơn cứu độ kitô là một thực tại thiêng liêng và hiện tại. Ví thế phải loại bỏ sự phục sinh của thân xác trong tương lai.
Ở đây cũng có thể nhận ra khuynh hướng coi thường cái chết. Cái chết không được là một thực tại thê thảm đối với con người, mà chỉ là sự kiện võng mô mỏng manh cuối cùng còn gắn liền con người với thế giới và ḷich sử rơi xuống, mặc dù mối dây ràng buộc đó chỉ hoàn toàn ngoại tại và không đinh đoạt ǵi trên con người. Thật ra cái chết chính là cánh cửa dẫn đưa cái tôi thiêng liêng của kitô hữu vào trong thế giới thiên quốc, tách lìa họ một cách hoàn toàn khỏi thế giới này và khỏi phạm vi của tính chất xác thể. Tắt một lời, cái chết là chặng toàn vẹn cuối cùng của sự giải thoát tín hữu. Như thế nó hết là một vấn đề đối với lòng tin kitô. Cũng không thể nói tới chuyện vượt lên cái chết hay chiến thắng cái chết, dựa trên nền tảng của một niềm hy vọng vững vàng vào sự sống lại. Sự kiện tín hữu Côrintô khước từ chấp nhận sự sống thật không phải là chuyện t́inh cờ, nhưng có chương tŕnh phù hợp với ý thức hệ tôn giáo riêng của họ.
Câu trả lời của thánh Phaolô chia làm hai phần. Phần thứ nhất gồm 34 câu đầu của chương 15 đi thẳng vào vấn nạn chính, khẳng đ̣inh cũng như dẫn lý lẽ cho tín hữu thấy tại sao kitô hữu lại hy vọng vào sự sống lại. Phần thứ hai gồm các câu từ 35 tới 58 trình bày sự khác biệt của thân xác phục sinh với điều kiện sống trên trần gian này. Điểm khởi hành diễn văn của thánh Phaolô là Tin Mừng cô đọng trong cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô (cc. 1-11). Nghĩa là thánh nhân lấy lại một dữ kiện trong truyền thống rao giảng của cộng đoàn kitô tiên khởi. Đó là điều mà nhóm tín hữu Côrintô nói trên cũng đã chấp nhận khi tin vào Chúa Kitô. Nhưng viễn tượng thánh Phaolô đưa ra ở đây là viễn tượng kitô học. Chính lòng tin vào Đức Kitô phục sinh là nền tảng niềm hy vọng vào sự sống lại của chúng ta. Thánh Phaolô không tùy thuộc các quan niệm khải huyền hay thái độ trông chờ chung liên quan tới số phận cuối cùng của thế giới và của nhân loại. Sự phục sinh mà thánh nhân nói tới ở đây chỉ liên hệ tới những người tin vào Đức Kitô mà thôi. Chính nhờ sự liên đới với Đức Kitô mà kitô hữu đạt được niềm hy vọng cứu độ vĩnh viễn liên quan tới hồn xác toàn vẹn của con người (cc. 12-13.20-22.23.44-49).
Từ nền tảng kitô học vững chắc này thánh Phaolô khai triển một suy tư thần học rộng rãi và phức tạp (cc.12-56) nhằm chứng minh cho thấy không thể nào chấp nhận lập trường khước từ sự sống lại của các tín hữu (cc. 12-34). Ngoài ra cũng là để cho thấy sự khác biệt phân rẽ thế giới của những người sống lại với tính chất xác thể trần gian (cc.35-49) và miêu tả quang cảnh chiến thắng của kitô hữu trên cái chết (cc. 50-57). Và thánh Phaolô dùng mọi thứ lý lẽ để chứng minh thực tại này: từ nền thần học do thái, cho tới tư tưởng triết lý hy lạp, cho tới các thí dụ trong thiên nhiên. Sự chuyển tiếp từ lòng tin vào Chúa Kitô tử nạn và phục sinh sang niềm hy vọng vào sự sống lại của các tín hữu dựa trên nguyên tắc liên đới giữa tín hữu và Đức Kitô. Đã xảy ra cho Đức Kitô làm sao thí cũng sẽ xảy ra cho các tín hữu như vậy. Có sự tiếp nối liên tục giữa số phận của Đức Kitô tử nạn và phục sinh và số phận của các tín hữu sẽ đựơc sống lại như Ngài. Tuyên xưng rằng nơi Đức Kitô ơn cứu độ Thiên Chúa Cha ban trở thành ơn cống hiến cho các tín hữu có nghĩa là tin vào sức nặng đ̣inh đoạt của cuộc sống Đức Kitô đối với số phận của toàn nhân loại. Hay nói cách khác có nghĩa là tin vào Đức Kitô phục sinh như là hoa trái đầu mùa (c. 20), và là nguyên lý của thế giới những người được sống lại (cc. 21-22.45). Sự liên đới của Đức Kitô với các tín hữu nằm trên b́nh diện ḷich sử cứu độ. Nó tùy thuộc nơi chương tŕnh của Thiên Chúa và hiện thực trong lịch sử của từng người, nghĩa là trong sự quyết đ̣inh tự do của từng người có tin vào Đức Kitô hay không. Cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu nằm trong chương tŕinh của Thiên Chúa Cha trao ban ơn cứu độ cho con người qua lòng tin vào Đức Kitô Con Ngài đã được báo trước trong Kinh Thánh Cựu Ước. Do đó khi chối bỏ sự sống lại là tín hữu Côrintô đặt vấn nạn đối với một dữ kiện lòng tin. Khi nhín Đức Kitô phục sinh như một anh hùng được tán tụng và thần linh hóa như trong bối cảnh văn hóa hy lạp và cho rằng họ được tham dự vào sự thần linh hóa ấy qua tiến tŕinh duy linh, giải thoát khỏi các ràng buộc trần gian và biến họ thành con người thiên quốc, qủa thật tín hữu Côrintô đã giải thích sai lạc cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô.
Đức Ông Linh - Tiến - Khải - 2/2009