CHƯƠNG III
THƯ GỬI GIÁO ĐOÀN PHILIPHÊ: NGUỒN GỐC, KẾT CẤU,
NỘI DUNG VÀ THỜI GIAN BIÊN SOẠN
----------------------------------------------------
BỨC THƯ THÁNH PHAOLÔ VIẾT TỪ TRONG NGỤC
Như chúng ta đã phân tích trong các bài trước, văn bản thư gửi giáo đoàn Philiphê như hiện có gồm ba bức thư nhập một. Hôm nay chúng ta tìm hiểu kết cấu và nội dung bức thư thứ nhất viết từ trong tù gồm các chương 1,1-3,1a cộng thêm chương 4,2-7.21-23.
Phần dẫn nhập tức chương 1,1-11 theo lược đồ quen thuộc trong các thư của thánh Phaolô gồm tên người gửi, người nhận, lời chào, lời cảm tạ Thiên Chúa vì lòng tin sinh động của tín hữu giáo đoàn, một lòng tin được hiện thực ra ngoài bằng các việc lành phúc đức hết sức cụ thể. Thánh nhân viết: ”Chúng tôi, Phaolô và Timôtêô, là những tôi tớ của Đức Kitô Giêsu, kính gửi toàn thể các thánh trong Đức Kitô Giêsu ở Philiphê, cùng kính gửi các vị giám quản và trợ tá. Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta và Chúa Giêsu Kitô ban cho anh chị em ân sủng và bình an. Tôi cảm tạ Thiên Chúa mỗi lần nhớ tới anh chị em, Tôi luôn vui sướng mỗi khi cầu nguyện cho tất cả anh chị em, vì từ ban đầu cho đến nay, anh chị em đã góp phần vào việc rao giảng Tin Mừng....” (1,1-5). Thánh Phaolô đặc biệt cảm tạ Chúa vì sự gắn bó hiệp thông của tín hữu Philiphê đối với ngài trong nhương lúc ngài bị ngục tù cũng như khi ngài rao giảng bênh vực và củng cố Tin Mừng. Và thánh nhân xin Chúa cho lòng tin của họ ngày càng trở nên tinh tuyền, mạnh mẽ, đem lại nhiều hoa trái được thể hiện qua cuộc sống công chính nhờ sự trợ lực của Đức Giêsu Kitô và với mục đích là tôn vinh và ngợi khen Thiên Chúa. Như thế, cuộc sống lòng tin kitô phải luôn luôn là một lời ngợi khen cảm tạ không ngừng và toàn cuộc sống của tín hữu phải là một cử chỉ tôn vinh Thiên Chúa.
Tiếp theo đó là phần chính của thư được sắp xếp theo lược đồ song song A B- A'B'. Trước hết trong phần A chương 1,12-26 thánh Phaolô cho tín hữu Philiphê biết các tin tức liên quan tới ngài và chia sẻ với họ các tâm tình của ngài. Chính vì rao giảng Tin Mừng mà thánh nhân bị xiềng xích và ai ai cũng đều biết rõ điều ấy. Sự kiện này khiến cho một số thừa sai kitô mạnh dạn hơn và không sợ hãi trong việc truyền bá Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô. Tuy nhiên bên cạnh những người rao giảng vì ý ngay lành và lòng bác ái, thì cũng có những thừa sai truyền bá Tin Mừng vì lòng ganh tị, tranh chấp với ngài chứ không có lòng ngay. Nhưng đối với thánh nhân miễn là Tin Mừng được rao giảng cho mọi người là ngài vui mừng rồi. Ngài vui mừng đón nhận mọi sự, mà không buồn phiền vì những cạnh tranh qúa trần tục ấy, vì được sự trợ lực bởi lời cầu của tín hữu Philiphê và nhờ Thần Khí của Chúa Kitô hộ phù. Vì toàn thân xác linh hồn và cuộc sống của thánh nhân tùy thuộc nơi Chúa Kitô. Do đó, đối với thánh Phaolô, sống hay chết, thành công hay thất bại, tự do hay tù tội, không có gì là quan trọng nữa. Sống là Chúa Kitô mà chết đi lại càng lợi hơn v́ thánh nhân sẽ được kết hiệp với Chúa Kitô. Tuy nhiên vì lợi ích của các tín hữu ngài sẵn sàng ở lại trên trần gian này và tiếp tục củng cố lòng tin của các tín hữu và chịu khổ đau vì Tin Mừng của Chúa.
Trong phần B chương 1,27-2,18 thánh Phaolô đưa ra các lời khuyên nhủ cụ thể và chỉ cho tín hữu Philiphê thấy con đường phải theo. Ngài đặc biệt khuyên họ sống trung thực với Tin Mừng của Chúa, tin tưởng vững vàng, gắn bó hiệp nhất khắng khít với nhau, đồng tâm nhất trí, một lòng một dạ chiến đấu vì đức Tin và lấy Chúa Kitô làm điểm tham chiếu duy nhất cho mọi tâm tư và cung cách hành xử của họ (2,1-4). Để đánh phá giáo đoàn những người chống đối thù địch tìm mọi cách gây chia rẽ giữa cách thành phần Giáo Hội. Và không có gì nguy hại đối với sự sống còn của Giáo đoàn cho bằng tình trạng chia rẽ nội bộ. Đó là chiến thuật cổ điển ”chia để trị”, ”trai cò giằng co ngư ông đắc lợi”. Chính vì thế nên thánh Phaolô kêu gọi tín hữu Philiphê phải triệt để duy trì sự hiệp nhất giữa các thành phần trong giáo đoàn: dẹp bỏ hết mọi kiêu căng, ích kỷ, tự ái cá nhân, loại trừ mọi tị hiềm, ghen tương, tham danh, hám lợi, để sống khiêm nhường, hiền lành và bác ái như Chúa Kitô, làm tất cả vì Chúa và vì người khác, chứ không tìm lợi nhuận cho riêng mình. Biết sống thân tình và cảm thương nhau chứ không khích bác, cắn xé nhau và dùng mọi mánh mung kể cả việc dàn xếp với các người thù ngḥch giáo đoàn để bắt bí, hãm hại và khai trừ nhau. Khi sống trong chống đối và thù nghịch nhau, khi duy trì hố sâu chia rẽ nhau, kitô hữu không chỉ phản bội lòng tin, xa rời Chúa Kitô, chà đạp tình bác ái, gây khổ đau và buồn phiền cho nhau, mà còn rơi vào cạm bẫy của ma qủy và trở thành đồ đệ của Satan nữa. Khi sống phản chứng, kitô hữu khước từ Chúa Kitô và trở lại kiếp sống như khi chưa hiểu biết và tin nhận Chúa Kitô, trở lại kiếp sống nô lệ tội lỗi, sự dữ và cái chết. Và như thế họ biến ơn cứu độ của Chúa Kitô trở thành vô ích. Do đó, để có thể duy trì tinh tuyền lòng tin, tình bác ái và hiệp nhất, thánh Phaolô khuyên tín hữu hãy chỉ lấy Chúa Giêsu Kitô làm đích điểm duy nhất cho cuộc đời họ.
Trong chương 2,5-11 thánh Phaolô ghi lại bài thánh ca kitô học tŕnh bầy Đức Giêsu Kitô như mẫu gương tuyệt đẹp cuộc sống lòng tin. Là Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô đaơ hoàn toàn trút bỏ mọi vinh quang để hạ mình sống kiếp người phàm và khiêm tốn tột cùng đến chấp nhận cả cái chết bất công hổ nhục trên thập giá nữa. Nhưng cuơng chính vì thế nên Thiên Chúa đã tôn vinh Đức Giêsu Kitô là Chúa vũ hoàn và qua Đức Kitô phục sinh trao ban ơn cứu độ cho toàn nhân loại. Sống các tâm tình của Chúa Giêsu Kitô, khiêm tốn, hiền ḍu, nhẫn nhục và trở thành của lễ sát tế vì yêu thương mỗi ngày, đó là sống lòng tin kitô đích thực. Đó là ”linh đạo thập giá”, mà chỉ có lòng tin mới giúp con người hiểu và sống với các tâm t́nh của Chúa Giêsu Kitô. Chỉ có linh đạo thập giá mới giúp kitô hươu sống giữa thế giới gian tà sa đọa này mà vẫn trong sạch, tươi vui và sáng ngời như những vì sao lấp lánh trên vòm trời đen tối. Chính linh đạo thập giá khiến cho thánh Phaolô sẵn sàng đổ máu vì đức tin và vui sướng trở thành của lễ sát tế dâng lên Thiên Chúa Cha theo gương Đức Giêsu Kitô.
Từ chương 2,19-30 thánh Phaolô lại cho tín hữu biết tin tức về mình và các dự tính của ngài. Thánh nhân hy vọng có thể gửi Timôtêô tới với tín hữu Philiphê để biết tin tức chính xác về họ, và sẽ đích thân đến thăm họ sau này. Trong khi chờ đợi ngài gửi trả anh Epafrodito về với họ. Anh Epafrodito đã được tín hữu Philiphê đề cử mang số tiền quyên góp cho giáo đoàn mẹ Giêrusalem tới cho thánh Phaolô cũng như đem qùa cho thánh nhân và ở lại trợ giúp ngài một thời gian. Epafrodito đã ốm nặng nhưng bình phục và giờ đây được thánh nhân gửi trả cho tín hữu Philiphê đem theo lá thư ngài viết cho họ.
Chương 3,1a cộng với chương 4,2-7 gồm các lời khuyên dành riêng cho hai nữ cộng sự viên đắc lực của thánh Phaolô là chị Evodia và Sintiche đang bất hòa với nhau không hiểu vì lý do gì. Thánh nhân khuyên hai người sống hòa thuận với nhau trong Chúa và nhắn nhủ tín hữu cộng đoàn hãy sống hiền hòa, quảng đại và vui luôn trong Chúa, không lo lắng gì nhưng hãy cầu nguyện và tín thác mọi sự cho Chúa. Và bức thư kết thúc ở chương 4,21-23 gồm các lời hỏi thăm từng người một và cầu chúc tín hữu có tâm hồn tràn đầy ân sủng của Chúa Giêsu Kitô.
Khi đọc nội dung của bức thư trên đây chúng ta có thể nghe được nhịp đập trong con tim của thánh nhân. Thật thế, mối dây liên hệ thân tình giữa thánh Phaolô và tín hữu giáo đoàn tỏ lộ trong mọi phần của thư. Chẳng hạn thánh nhân viết trong chương 1,7-8: ”Thật là điều hợp lý khi tôi có các tâm tình đó với tất cả anh chị em, vì tôi mang anh chị em trong lòng tôi. Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi: tôi hết lòng yêu qúy anh chị em tất cả với tình thương của Đức Kitô Giêsu”. Ngài mau mắn cho họ biết tin tức về ngài và mong nhân được tin tức của họ để được an ủi (2,12.19). Tuy muốn chết để được kết hiệp với Chúa Kitô (2,23) nhưng vì ích lợi của tín hữu ngài sẵn sàng tiếp tục sống (1,24-25). Tuy nhiên, sự gắn bó đó không dựa trên tình cảm riêng tư, mà dựa trên Tin Mừng. Tuy thánh nhân bị ngồi tù, nhưng từ trong ngục ngài vẫn tiếp tục bênh vực và củng cố Tin Mừng (1,7.16). Sự kiện ngài bị giam giữ lại trở thành yếu tố quảng cáo (1,13) để Tin Mừng được tín hữu Ephêxô loan báo rộng rãi hơn (1,14-18). Mặt khác tín hữu Philiphê đã luôn gắn bó với ngài (1,5) giờ đây họ cũng chung hưởng ân sủng với ngài là người đang bị tù nhưng vẫn bênh vực và củng cố sứ điệp Tin Mừng (1,7). Thánh nhân khuyến khích họ chiến đấu cho Tin Mừng họ đã nhận lãnh (1,27). Vì Tin Mừng thánh Phaolô bị tù và chờ ngày ra tòa, trong khi tín hữu Philiphê cũng bước đi trên con đường thập giá khổ đau vì bị các thù địch dễ sợ chống đối (1,27-28). Nhưng những khổ đau đó đều là ân sủng của Chúa (1,29). Thánh nhân và tín hữu cộng đoàn đều đang chiến đấu trong cùng một trận chiến (1,30). Nhưng thánh Phaolô rất vui tươi và luôn nhớ tới tín hữu trong lời cầu (1,4). Ngài vui sướng vì các thừa sai có ý ngay lành hay với ác ý, vẫn loan báo Tin Mừng của Chúa Kitô, như thế là đủ (1,18).
Ác ý của vài thừa sai tại Ephêxô không dập tắt được niềm vui trong con tim thánh nhân (1,17), cả viễn tượng cuộc tử đạo cũng không khiến cho thánh nhân nản lòng, trái lại còn khiến cho ngài tràn ngập niềm vui và mời gọi tín hữu chung vui với ngài (2,17-18) và sống tươi vui (3,1a; 4,4). Và niềm vui đó sẽ trọn vẹn hơn, nếu tín hữu tìm lại được sự hiệp nhất và hòa thuận với nhau (2,2). Khi tín hữu hiệp nhất với nhau, họ và thánh Phaolô hiệp nhất trong Chúa Kitô và thuộc về Chúa. Thánh Phaolô dùng nhiều kiểu nói để diễn tả sự hiệp nhất đó: ”trong Đức Kitô” (1,13), ”trong Đức Kitô Giêsu” (1,1; 2,5; 4,7.21), ”trong Chúa” (1,14; 2,24.28; 3,1a; 4,2.4), ”trong Chúa Giêsu Kitô” (2,19). Chúa Kitô là môi trường sinh sống và hoạt động của thánh nhân và tín hữu Philiphê. Chúa Kitô là cuộc sống của thánh nhân (1,21), trong hiện tại cũng như trong tương lai, trong ”ngày của Chúa Kitô” (Giêsu) (1,6.10; 2,16), nghĩa là ngày Chúa Kitô trở lại trong vinh quang. Và thánh Phaolô xác tín rằng ”Ngày của Chúa đã gần” (4,5). Vì thế cần phải chuẩn bị sẵn sàng cho thời điểm hẹn hò ấy (1,10;2,16), để được ”ở với Chúa Kitô” (1,23).
Đức Ông Linh Tiến Khải
Có một sự phát triển sau này của chu kỳ khôn ngoan, trong đó người ta nhìn thấy việc Sự Khôn Ngoan tự hạ mình xuống để sau đó được nâng lên mặc dù bị khước từ, được tìm thấy trong bài thánh thi thời danh trong Thư gửi tín hữu Philiphê (x. 2:6-11). Điều này liên hệ đến một trong những bản văn được đề cao nhất của Tân Ước. Hầu hết các nhà chú giải Thánh Kinh cho rằng đoạn Thánh Kinh này được soạn thảo trước khi có bản văn của Thư gửi tín hữu Philipphê. Đây là một sự kiện rất quan trọng bởi vì sự kiện này có nghĩa là trước Thánh Phaolô, Kitô giáo gốc Do Thái đã tin vào thiên tính của Chúa Giêsu. Nói cách khác, Đức Tin vào thiên tính của Đức Kitô không phải là một sáng kiến Hy Lạp, nảy sinh sau cuộc đời dương thế của Đức Kitô, một sáng kiến quên đi nhân tính của Người, đã thần thánh hóa Người. Trên thực tế chúng ta thấy rằng Kitô giáo gốc Do Thái thời sơ khai đã tin vào thiên tính của Chúa Giêsu. Hơn nữa, chúng ta có thể nói rằng chính các Tông Đồ trong những giây phút huy hoàng của cuộc đời Thầy mình, đã hiểu rằng Người là Con Thiên Chúa, như Thánh Phêrô nói tại Cêsarê Philipphê: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16:16). (Bài giáo lý IX của Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI: THÁNH PHAOLÔ và KITÔ HỌC, trích từ Huấn Từ tại Triều Yết chung ngày 22.10.2008)