Linh Tien Khai - dongcong.net
 
 

Bài của Đức Ông Khải, Roma


CHƯƠNG I
THƯ GỬI GIÁO ĐOÀN ROMA

----------------------------------------------------

 BỐI CẢNH, CẤU TRÚC VÀ NỘI DUNG

GƯƠNG MẶT CỦA GIÁO ĐOÀN ROMA

Trong các thư của thánh Phaolô thư gửi giáo đoàn Roma quan trọng hơn cả, vì nhiều lý do. Trước hết nó là bức thư dài nhất, có kết cấu chặt chẽ và cân đối nhất. Tiếp đến nó có nội dung thần học súc tích và sâu sắc mà không thư nào khác có thể sánh kịp. Trên bình diện lịch sử, thư gửi giáo đoàn Roma quan trọng vì ảnh hưởng sâu rộng của nó trong nghĩa tiêu cực cũng như trong nghĩa tích cực. Marcione đã dùng thư gửi giáo đoàn Roma như lý cớ để biện minh cho lập trường lạc giáo của ông là chủ trương tách rời Kitô giáo khỏi gia tài cựu ước và Do thái giáo. Thánh Agostino thì dùng giáo huấn của thư để chống lại lạc thuyết của Pelagio. Pelagio là một thầy dòng người Anh sống giữa các năm 360-422. Ông giảm thiểu tầm quan trọng của ơn thánh và đề cao quyền tối thượng và sự hữu hiệu của cố gắng cá nhân trong việc thực hành các nhân đức. Với các sách chú giải của Luther, Calvin và Melanton, thư gửi giáo đoàn Roma trở thành kinh điển của phong trào phản đối yêu cầu cải cách làm phát sinh ra Giáo Hội Tin Lành hồi thế kỷ XVI. Trong thời cận đại, tác phẩm do thần học gia Tin Lành Karl Barth xuất bản năm 1919 chấm dứt ách thống trị của khuynh hướng tự do và khai mào khuynh hướng biện chứng trong nền thần học tin lành Đức. Sau cùng, việc canh tân cuộc đối thoại đại kết ngày nay đã lấy thư gửi giáo đoàn Roma làm điểm tựa thần học tái tạo sự hiệp nhất. Năm 1965 bản dịch Kinh Thánh đại kết tiếng Pháp, tức bản TOB, đã bắt đầu với thư gửi giáo đoàn Roma. Trong dịp này mục sư Boegner đã tuyên bố rằng: ”Văn bản đã chia rẽ chúng ta phải trở thành văn bản của sự gặp gỡ” (TOB, 442).

Gương mặt của giáo đoàn kitô Roma đã như thế nào? Vào thời thánh Phaolô Roma thủ đô của đế quốc có tới 1 triệu dân thuộc nhiều chủng tộc khác nhau đến từ Phương Đông, trong đó có một cộng đoàn do thái với đông đảo tín hữu. Bắt đầu từ năm 139 trước Công Nguyên chúng ta có được các di tích lịch sử chứng minh cho thấy sự hiện diện của cộng đoàn do thái tại Roma. Hồi đó cộng đoàn có tới 50 ngàn tín hữu. Và lịch sử còn cho biết trong thủ đô có tới 10 hội đường do thái, nơi các tín hữu thường lui tới cầu nguyện. Phong trào bài do thái tại Roma cũng khá mạnh mẽ khiến cho tín hữu phải gánh chịu nhiều xúc phạm và các biện pháp hạn chế sinh hoạt. Tuy Do thái giáo bị người Roma gọi là ”mê tín mọi rợ”, nhưng cũng có nhiều người theo đạo. Giáo đoàn kitô Roma phát sinh từ lòng cộng đoàn do thái nói trên.

Trong cuốn sách kể lại cuộc đời hoàng đế Claudio, sử gia Roma Svetonio cho biết hoàng đế đã trục xuất khỏi thủ đô các người do thái thường xuyên náo loạn vì ông Chresto. Svetonio viết: ”Judaeos assidue tumultuantes impulsore Chresto Roma expulit”. Rõ ràng là sự hiện diện của các kitô hữu đã làm nảy sinh ra nhiều vụ tranh luận và náo loạn trong khu phố do thái tại thủ đô. Sử gia Svetonio tưởng tượng ra sự hiện diện thực sự của một ông Chresto nào đó, nên đã chỉ cho thấy là ông ghi nhận được các sự kiện này một cách phỏng chừng vậy. Thật ra, câu chuyện liên quan tới Đức Kitô, mà các tín hữu tin vào Ngài qủa quyết là Ngài đã phục sinh và vẫn sống. Đây là lý do đã gây ra các vụ bất đồng ý kiến và tranh luận sôi nổi trong các hội đường do thái dẫn đến các vụ lộn xộn gây rối trật tự công cộng bên ngoài. Vì thế nên hoàng đế Claudio mới ra sắc lệnh trục xuất người do thái khỏi thủ đô Roma.

Liên quan tới sắc lệnh của hoàng đế ban hành hồi năm 49 chúng ta cũng tìm thấy dấu vết trong sách Công Vụ. Chương 18,1-3 cho biết hai vợ chồng Prisca và Aquila đã phải rời Roma để sang Côrintô và hai người gặp thánh Phaolô tại đây. Trong thủ đô Roma còn lại nhóm tín hữu gốc ngoại giáo, tức không phải do thái, theo Kitô giáo. Nhưng lệnh cấm không được tụ họp trong các hội đường do thái khiến cho họ phải tìm các nơi hội họp mới, nghĩa là tại tư gia, trong nhà của các tín hữu, nay trong nhà người này, mai trong nhà người khác. Nghĩa là trong các tư gia khá rộng rãi có đủ chỗ đón tiếp mọi người. Sự tách rời khỏi hội đường do thái không chỉ liên quan tới nơi hội họp, mà nó khai mào cho sự hiện hữu của một giáo hội tại gia, chỉ bao gồm các tín hữu kitô không phải gốc do thái. Sau này dưới thời hoàng đế Neron, sắc lệnh nói trên mới được thu hồi, và nhiều tín hữu do thái mới lục tục kéo nhau trở lại thủ đô, trong đó có các tín hữu kitô gốc do thái. Nhưng họ tìm thấy trước mắt một cộng đoàn kitô thuần nhất chỉ gồm các anh chị em không phải là gốc do thái, đã gia tăng đông số và hoàn toàn vượt thoát khỏi truyền thống do thái.

 Bên cạnh một vài chứng từ và dữ kiện thu lượm được ngoài thư gửi giáo đoàn Roma như kể trên đây, cần phải thêm những gì chúng ta có thể tìm thấy trong chính bức thư này của thánh Phaolô. Trước hết khi thánh Phaolô đọc thư cho Terzo viết vào các tháng cuối năm 50, như thánh nhân cho biết trong chương 16,22, tại Roma đã có một giáo đoàn kitô sinh sống từ lâu trước đó. Đây cũng là lý do khiến thánh nhân cho tín hữu biết đã từ lâu ngài có ý định tới Roma thăm họ, như viết trong chương 15,23. Nhưng thư không cho tin tức gì liên quan tới sự phát sinh của giáo đoàn. Sự kiện thư gửi giáo đoàn Roma không nêu danh tánh nhân vật nổi bật nào của Giáo hội kitô tiên khởi tại đây, gián tiếp chứng minh cho thấy nguồn gốc vô danh của giáo đoàn. Và nó cũng cho phép chúng ta kết luận rằng hồi đó thánh Phêrô cũng chưa tới thủ đô Roma.

 Liên quan tới các thành phần của cộng đoàn kitô Roma và sự hiện hữu của các vấn đề chung sống nội bộ, thư gửi giáo đoàn Roma cống hiến cho chúng ta ít dữ kiện, nhưng chắc chắn và chính xác. Thật ra thánh Phaolô viết cho các người ngoại giáo theo Kitô giáo, chứ không phải cho các kitô hữu gốc do thái. Ngài viết trong chương 1,5-6: ”Nhờ Chúa Kitô chúng tôi đã nhận được đặc ân và chức vụ Tông Đồ, làm cho hết thảy các dân ngoại vâng phục Tin Mừng hầu danh Người được rạng rỡ. Trong số đó có cả anh chị em, là những người đã được kêu gọi để thuộc về Đức Giêsu Kitô”. Mục đích chuyến viếng thăm giáo đoàn Roma mà thánh nhân đã dự tính là để chia sẻ với các tín hữu phần nào ân huệ của Thánh Thần, nhờ đó họ được vững mạnh, nghĩa là để cùng khích lệ nhau, bởi vì tất cả cùng chung một niềm tin, cũng như để mong thâu lượn được kết qủa nào đó nơi họ, như đã thâu lượm được nơi các dân ngoại khác, như thánh nhân viết trong chương 1,10-13. Điều này này cho phép chúng ta nghĩ rằng đa số các tín hữu trong cộng đoàn kitô Roma là những kitô hữu không cắt bì, tức không phải gốc do thái. Tuy nhiên, trong giáo đoàn này cũng có các kitô hữu gốc do thái, bởi vì trong chương 15,7-13 thánh Phaolô kuyến khích tín hữu giáo đoàn đón tiếp nhau như Chúa Kitô đã tiếp đón họ là những người cắt bì và không cắt bì. Rất tiếc là chúng ta không có chứng tá lịch sử chắc chắn liên quan tới nhiều nhân vật qua đó thánh Phaolô gửi lời chào thăm tín hữu giáo đoàn Roma như nhắc tới trong chương 16. Bởi vì chương này bị giới học giả coi là được thêm vào sau này và không thuộc nội dung bức thư nguyên thủy. Trong chương 16 thánh Phaolô nhắc tới một số các cộng sự viên đã trợ giúp ngài một cách đắc lực trong công tác rao giảng Tin Mừng (16,3.7.11). Ngài nhắc tới các giáo hội tại gia (16,5.15) và ca ngợi một vài phụ nữ dấn thân trong các sinh hoạt của cộng đoàn (16,6.12). Tên của các tín hữu này chứng minh cho thấy giáo đoàn gồm các tín hữu thuộc nhiều chủng tộc khác nhau. Một vài người chắc chắn gốc hy lạp như: Apelle, Epeneto, Narcisso, Trifena và Trifosa. Những người khác như Giulia, Rufo, và Urbano là người Roma. Trong khi các tín hữu như Andronico, Giunia, Prisca và Aquila, Aristubo và Maria là người do thái. Bên cạnh đó là các anh chị em nô lệ theo Kitô giáo hay nô lệ đã được tự do như Ampliato, Asincrito, Erma, Erodione, và Nereo.

Chúng ta cũng không có tin tức chắc chắn liên quan tới hình ảnh một giáo đoàn gặp khó khăn và có các căng thẳng chia rẽ nội bộ như được nhắc tới trong hai chương 14-15. Chỉ biết rằng trong giáo đoàn đã xảy ra tình trạng không nhân nhượng giữa nhóm tín hữu ”yếu đuối” chủ trương tuân giữ các thói quen khổ hạnh và nhóm tín hữu ”mạnh mẽ” chủ trương sống tự do. Cụ thể mà nói, nhóm thứ nhất là những người chỉ ăn rau trái, không uống rượu và tuân giữ một loại lịch đặc biệt (14,2-5). Có thể coi sự khác biệt giữa hai nhóm phát xuất từ phe bảo thủ gồm các tín hữu kitô gốc do thái, và phe cấp tiến gồm các kitô hữu gốc ngoại giáo. Dầu sao đi nữa sự thực là có sự đổ bể liên hệ giữa hai bên. Nhóm ”yếu đuối” chỉ trích cung cách sống của nhóm ”mạnh mẽ”. Trong khi nhóm ”mạnh mẽ” khinh rẻ nhóm ”yếu đuối” (14,3.10). Hai bên không chấp nhận sự khác biệt văn hóa tôn giáo của nhau (15,7). Do đó cuộc sống trong cộng đoàn kitô thiếu tình liên đới và yêu thương huynh đệ. Có thể nói tình hình giáo đoàn Roma giống tình trạng chia rẽ của cộng đoàn Côrintô (x. 1 Cr 8-10). Chương 12,3-8 đề cập tới hiện tượng đề cao các đặc sủng một cách thái qúa, lấy các đặc sủng làm lý do khoe khoang và tôn thờ cá nhân, mà quên rằng mọi ơn Chúa ban nhằm mưu ích cho toàn cộng đoàn. Thánh Phaolô đã cảnh cáo tín hữu: ”Anh chị em đừng đi qúa mức khi đánh giá mình, nhưng hãy đánh giá mình cho đúng mức, mỗi người tùy theo lượng đức tin Thiên Chúa đã ban phát cho” (12,3). Tình trạng tại Roma cũng tựa như tại Côrintô (x. 1 Cr 12-14). Sau cùng là sự kiện các tín hữu có các liên hệ khó khăn với chính quyền dân sự. Trong chương 13,1-7 thánh Phaolô nhắn nhủ họ tuân phục chính quyền và đặc biệt là nộp thuế trực tiếp và gián tiếp, nghĩa là chu toàn bổn phận dân sự của mình.


Đức Ông Linh-Tiến-Khải

 

Linh Tiến Khải - Vietvatican.net

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)