Tưởng niệm 30 năm Đức Phaolô VI qua đời
Cách đây 30 năm ngày mùng 6 tháng 8 năm 1978 Đức Phaolô VI đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà nghỉ mát Castel Gandolfo, vào đúng chiều ngày lễ Chúa Hiển Dung. Vài ngày trước khi qua đời Đức Phaolô VI đã nói “Tôi đã duy trì lòng tin”. Câu nói này tóm gọn chân dung của một vị Giáo Hoàng khiêm tốn và cứng rắn, say mê Chân Lý và là người đã lèo lái con thuyền Giáo Hội trong những năm sóng gió của thế giới và Giáo Hội thời hậu Công Đồng.
Với thời gian qua đi càng ngày người ta càng nhận ra gương mặt của người như một chứng nhân khiêm tốn và can đảm của sự thật, tông đồ của hòa bình, con người của đối thoại giữa các dân tộc và các nền văn hóa.
Khi được bầu làm Giáo Hoàng Đức Phaolô VI đã tuyên bố ngay lập tức là người muốn tiếp tục Công Đồng bị bỏ dở vì cái chết của Đức Gioan XXIII, tiếp tục công cuộc cải tổ Giáo Luật và theo đuổi con đường đối thoại đại kết.
Sau khi Công Đồng kết thúc, Đức Phaolô VI can đảm bắt đầu công trình áp dụng các quyết định của Công Đồng, giữa đủ mọi chướng ngại, chống đối và phản kháng. Hoạt động đại kết của người đặc biệt quan trọng và sâu rộng, với các gặp gỡ trao đổi phong phú với Giáo Hội Anh Giáo và Giáo Hội Chính Thống. Cuộc gặp gỡ của Đức Phaolô VI với Đức Thượng Phụ Constantinpoli Athenagoras đã là một biến cố lịch sử bắt đầu đánh tan băng giá trong tương quan giữa hai bên.
Đức Phaolô VI đã công bố nhiều Thông Điệp và Tông Huấn quan trọng như ”Ecclesiam suam”, Populorum progressio”, Evangelii nuntiandi”, Humanae vitae”, ”Communio et progressio”, ”Marialis cultus”, ”Gaudete in Domino”. Giai đoạn cuối cùng trong cuộc đời người ghi đậm dấu buồn thương của vụ Lữ Đoàn Đỏ bắt cóc và sát hại người bạn rất thân của người là chính trị gia Aldo Moro thuộc đảng Thiên Chúa Giáo.
Khi được bầu làm Giáo Hoàng Đức Hồng Y Giovan Battista Montini đã tuyên bố: ”Có lẽ Thiên Chúa đã gọi tôi vào việc phục vụ này, không phải để tôi có thái độ nào trong chức vụ đó, mà để tôi đau khổ một chút cho Giáo Hội”. Sự thông minh bén nhậy đã cho phép Đức Phaolô VI trực giác được một cách thực sự ngay từ ban đầu, khía cạnh nặng nề nhất của một sứ mệnh tràn đầy gian truân và bất trắc bất thình lình đổ trên vai người và thử thách tính tình và sức khỏe của người một cách nặng nề.
Đức Phaolô VI sinh tại Concesio thuộc tỉnh Brescia, bắc Italia, năm 1897 trong gia đình trung lưu khá giả, cha là luật sư Giorgio Montini và mẹ là bà Giuditha Alghini. Ngay khi vừa sinh ra bé Giovan Battista đã yếu ởt đến độ các bác sĩ xác tín rằng cậu bé chỉ có thể sống tới ngày hôm sau thôi. Nhưng bé Giovan Battista hồi phục, nhưng lớn lên một cách khó khăn và lúc nào cũng yếu ớt. Cậu bé có tính tình giống mẹ, tế nhị, dễ thương và tràn đầy tình yêu đối với gia đình nhưng dè dặt, không hướng ngoại. Ông thân sinh Giorgio trái lại là người hoạt động, hăng say phổ biến các tư tưởng và tham gia các cuộc chiến đấu chống lại khuynh hướng bài giáo sĩ lan tràn trong xã hội Italia hồi thế kỷ XIX. Năm 1881 ông trở thành giám đốc nhật báo công giáo ”Công dân Brescia” (Il Cittadino di Brescia) cho tới năm 1912. Trong các năm này luật sư Giorgio đưa ra rất nhiều sáng kiến giúp thăng tiến cuộc sống của người dân và củng cố Giáo Hội Công Giáo như thành lập các hiệp hội “Liên minh trắng” trong vùng quê Brescia, ”Hiệp hội lao động” và hội hưu dưỡng học đường. Ông cũng thành lập nhà xuất bản ”Học đường” và dấn thân nắm giữ các chức vụ công cộng và được Đức Giáo Hoàng Biển Đức XV giao việc đặc trách một phân bộ của tổ chức Công Giáo Tiến Hành và là dân biểu ba lần liên tiếp.
Trong nhiều năm trời gia đình Montni đã là nơi gặp gỡ của giới trí thức và chính trị gia, trong đó có Linh Mục Luigi Sturzo, chính trị gia Romolo Murri và Alcide De Gasperi. Cha Sturzo và ông Murri đã cùng ông Giorgio thành lập Đảng Nhân Dân Italia, từ đó năm 1943 nảy sinh ra Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo.
Tất cả các sinh hoạt này của thân phụ đã ảnh hưởng mạnh mẽ trên thiếu niên Giovan Battista. Nhưng bầu khí tươi vui nhộn nhịp của gia đình không thay đổi tính tình của vị Giáo Hoàng tương lai, vốn nghiêm khắc và man mác buồn. Tình hình sức khỏe yếu kém với các cơn sốt bất chợt khiến cho gia đình phải giao thiếu niên Giovan Battista cho một gia đình nông dân nuôi dưỡng trong 14 tháng. Nhưng khi cậu trở về Brescia các bác sĩ vẫn lo lắng cho sự phát triển của cậu. Chính sức khỏe mong manh thời thơ ấu đã khiến cho Giovan Battista sau này có tính tình nhút nhát, qúa nhậy cảm, bất an và lo lắng.
Thời gian theo học tại trường các cha dòng Tên xen kẽ với các ngày đau yếu và giai đoạn phải học tư tại gia. Tuy thế khi thế chiến thứ I bùng nổ thanh niên Giovan Battista cũng tình nguyện nhập ngũ, nhưng bị loại ngay. Chứng bệnh tim bộc phát sau đó lại càng gia tăng sự nhút nhát khiến cho Giovan Battista luôn gầy gò xanh xao. Chỉ có đôi mắt là vẫn luôn tinh anh.
Con đường ơn gọi linh mục của Giovan Battista đã chỉ đến từ từ. Vì lý do sức khỏe thầy Giovan Battista theo học đại chủng viện, nhưng như là sinh viên ngoại trú. Tuy bị kiệt lực một thời gian dài, nhưng ngày 29 tháng 5 năm 1920 thầy cũng được thụ phong Linh Mục. Vì là con của luật sư Montini nổi tiếng trong giới công giáo nên Đức Giám Mục Brescia gửi cha Giovan Battista về Roma tu học. Trước đó chỉ trong vòng 5 tháng cha Montini đã trình luật án tiến sĩ Giáo Luật tại Milano và mùa thu năm 1920 cha đến Roma ghi danh học thần học tại Đại Học Giáo Hoàng Gregoriana, đồng thời ghi danh học văn chương tại đại học nhà nước.
Cha Montini vừa là sinh viên vừa là Tuyên Úy của Liên Hiệp các đại học công giáo Italia, là lò đào tạo các chính trị gia tương lai. Một dân biểu Brescia biết Giovan Battista từ hồi còn nhỏ giới thiệu vị linh mục trẻ đầy khả năng này với Đức Hồng Y Gasparri hồi đó là Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Thế là vài tuần sau cha Montini được gửi vào trường ngoại giao Tòa Thánh. Vào tháng 6 năm 1921 Cha Montini dọn vào ở trong Vaticăng và bắt đầu làm việc trong Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh khi mới 24 tuổi.
Cha đậu tiến sĩ thần học, rồi lấy bằng ngoại giao, nhưng phải bỏ chương trình tiến sĩ văn chương. Trong Phủ Quốc Vụ Khanh cha nổi tiếng là người làm việc không ngưng nghỉ, và được mọi người gọi là ”linh mục bé không bao giờ đi nghỉ hè”. Trong số các bạn bè cùng làm việc có nhiều Đức Ông, Giám Mục và Hồng Y tương lai như Ottaviani, Tardini, Spellman, Maglione, Tedeschini vv... Năm 1922 Đức Giáo Hoàng Biển Đức XV qua đời, Đức Cha Achille Ratti, Tổng Giám Mục Milano, được bầu lên thay thế lấy tên là Pio XI. Cha Montini cũng bắt đầu tiến nhanh trong các chức vụ tại trung ương Tòa Thánh.
Đức Hồng Y Gasparri, người đỡ đầu vị linh mục trẻ nhiều khả năng, gửi cha Montini sang Paris học ba tháng, sau đó sang làm thư ký tòa Sứ Thần Varsava bên Ba Lan 4 tháng. Nhưng khí lạnh Ba Lan khiến cho cha Montini bị đau nên phải trở về Roma. Tại đây cha làm tuyên úy cho giới sinh viên và tổ chức các sinh hoạt, kể cả các cuộc du ngoạn và cắm trại cho họ. Cha Montini rất được người trẻ thương mến. Năm 1925 Đức Pio XI chỉ định cha làm tuyên úy Liên hiệp sinh viên đại học công giáo toàn nước Italia cho tới năm 1933.
Chính trong thời gian này cha Montini quy tụ giới trí thức công giáo có khả năng nhất, sau này trở thành các chính trị gia tên tuổi lãnh đạo Italia như Aldo Moro, Amintore Fanfani, Giulio Andreotti, Paolo Emilio Taviani, Giuseppe Dossetti, Giorgio La Pira và Guido Carli.
Khi Đức Hồng Y Gasparri qua đời, Đức Tổng Giám Mục Eugenio Pacelli lên thay thế trong chức vụ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Người tái tổ chức cơ quan này và chọn Đức Ông Montini làm cộng sự viên thân tín của mình. Năm 1937 khi mới 40 tuổi Đức Ông Montini được chỉ định làm Phụ Tá Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đặc trách thường vụ, trong khi Đức Ông Domenico Tardini là Phụ Tá đặc trách ngoại vụ. Tuy tôn trọng nhau, nhưng hai vị không hợp tính tình nhau vì Đức Ông Tardini thì bảo thủ và nhẹ dạ, còn Đức Ông Montini thì cởi mở và thận trọng. Trong 18 năm trời ảnh hưởng của hai vị khiến cho người ta có cảm tưởng tại Phủ Quốc Vụ Khanh cũng có hai phe bảo thủ và cấp tiến. Riêng Đức Ông Montini trở thành bóng của Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Pacelli, giữ gìn các bí mật ngoại giao và đặc trách các liên lạc thư từ của Đức Hồng Y Pacelli.
Năm 1939 Đức Giáo Hoàng Pio XI đột ngột qua đời, và Đức Hồng Y Pacelli được bầu lên thay thế lấy tên là Pio XII. Đức Hồng Y Luigi Maglione được chỉ định làm Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh và hai vị Phụ tá vẫn giữ nguyên chức vụ của mình. Khi Đức Hồng Y Maglione qua đời năm 1944, Đức Giáo Hoàng Pio XII quyết định để trống chức vụ này. Và hai vị Phụ tá làm việc thay thế.
Triều đại của Đức Giáo Hoàng Pio XII bị ghi dấu bởi thế chiến thứ II với tình hình thê thảm của nó. Những gì Đức Pio XII đã làm trong việc làm trung gian giữa các phe lâm chiến, cứu Roma thoát khỏi cảnh tàn phá, cứu sống người Do thái và trợ giúp các người tị nạn, tổ chức cứu trợ của Tòa Thánh, sự nảy sinh chính trị, văn hóa và kinh tế của Italia bị thua trận và tàn phá vv... sẽ được các sử gia lượng định. Bên cạnh Đức Pio XII có Đức Ông Montini hiện diện trong mọi hoạt động của Tòa Thánh, từ việc tổ chức cứu trợ, cho tới liên lạc ngoại giao giữa các phe lâm chiến và giới chức công giáo của cả hai bên.
Thế chiến thứ II kết thúc với cảnh thế giới bị phân chia thành hai khối Đông Tây, dân chủ và cộng sản, Hoa Kỳ và Liên Xô với Âu châu bị tàn phá nằm ở giữa. Chẳng bao lâu nó biến thành sự chiến đấu giữa Kitô giáo và chủ nghĩa vô thần. Tại Roma người dân sống với khẩu hiệu ”Hoặc là Roma, hoặc là Matscơva”.
Là người có bản tính thận trọng, Đức Ông Montini xung khắc với ông Luigi Gedda Chủ tịch Công Giáo Tiến Hành Italia nhưng đã chiếm được cảm tình của Đức Pio XII, và người tổ chức giới trẻ công giáo tiến hành trong hình thái cực đoan công khai chống lại chế độ cộng sản, từ đó người bị mang tiếng là ”cấp tiến”.
Đức Ông Montini làm việc 16 giờ mỗi ngày và tổ chức Năm Thánh 1950. Người cũng thành lập Hiệp Hội Công nhân công giáo Italia cũng như tổ chức cứu trợ của Tòa Thánh. Là cánh tay mặt của Đức Giáo Hoàng Pio XII, Đức ông Montini tiếp đón mọi nhân vật ngoại giao và đảm trách công việc của Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh cũng như ngoại trưởng, nhưng đã không được Đức Giáo Hoàng Pio XII thăng chức, mà chỉ sống đơn sơ bé nhỏ như một Đức Ông. Trong mật nghị Hồng Y đoàn năm 1953 tên của hai Đức ông Montini và Tardini đã không có trong danh sách các tân Hồng Y mặc dù hai vị rất xứng đáng được vinh thăng.
Sự chống đối giữa hai cánh bảo thủ và cấp tiến ngày càng mạnh mẽ hơn. Khi biết Đức Ông Montini ủng hộ ông De Gasperi trong cuộc bầu cử hành chánh năm 1952, Đức Pio XII đã không tha thứ cho người, và năm sau đó chỉ định Đức ông Montini làm Tổng Giám Mục Milano, với ý định là loại người ra khỏi các nhân viên trung ương của Tòa Thánh.
Lễ tấn phong Giám Mục cho Đức ông Montini đã được Đức Hồng Y Tisserand, Niên trưởng Hồng Y Đoàn, chủ sự tại đền thờ thánh Phêrô. Đức Pio XII bị bệnh đã chỉ chúc mừng và chúc lành cho ”người con yêu dấu”.
Tháng giêng năm 1954 Đức tân Tổng Giám Mục rời Roma sau 30 năm làm việc tại đây để làm chủ chăn giáo phận lớn nhất Italia, với hành trang kinh nghiệm mục vụ ít ỏi. Do đó nhiều người cho rằng Đức Cha Montini bị đi đầy, nhưng sau cùng phải công nhận đó là sự sắp xếp của Chúa Quan Phòng.
Trong bầu khí chuyển động thời hậu thế chiến, mọi người chờ đợi một vị chủ chăn chính trị gia. Nhưng họ đã lầm chỉ, vì trong một thời gian ngắn Đức Montini đã bỏ hết mọi thói quen của giáo triều Roma, để trở thành một chủ chăn nhiệt thành. Người tái thiết tòa GM bị bỏ hoang, tổ chức lại mọi cơ cấu giáo phận, chăm chỉ lần lượt viếng thăm giới công nhân viên làm việc trong các hãng xưởng khác nhau, thuyết phục giới tài chánh trợ giúp xây cất các nhà thờ mới. Đức Cha Montini cai quản giáo phận Milano với rất nhiều thành công trong 9 năm trời cho tới khi Đức Pio XII qua đời tại Castel Gandolfo ngày mùng 9 tháng 10 năm 1958, mà vẫn không được vinh thăng Hồng Y, như truyền thống vẫn có từ xưa.
Trong Mật nghị Hồng Y Đức Hồng Y Angelo Roncali, Thượng Phụ Venezia, được bầu làm Giáo Hoàng lấy tên là Gioan XXIII. Lá thư đầu tiên Đức Gioan XXIII viết là để báo tin vinh thăng Tổng Giám Mục Montini làm Hồng Y. Trong nhiều dịp khác Đức Gioan XXIII nói: ”Người con yêu qúy của chúng tôi ở Milano, trong khi ở đây chúng tôi chiếm chỗ của nó”. Đức Gioan XXIII gửi Đức Hồng Y Montini đi nhiều nơi trên thế giới như là đặc sứ, để giúp Đức Montini hiểu biết và đào sâu thế giới Kitô cũng như các tôn giáo khác và trở thành Giáo Hoàng tương lai.
Ngày mùng 3 tháng 6 năm 1963 Đức Gioan XXIII qua đời sau khi triệu tập và chủ sự lễ nghi khai mạc Công Đồng Chung Vaticăng II. Trong Mật Nghị Hồng Y đoàn ngày 21 tháng 6 cùng năm, Đức Tổng Giám Mục Montini, 66 tuổi, người con yếu đuối của vùng đất Brescia, được bầu là người kế vị thánh Phêrô thứ 265 lấy tên là Phaolô VI. Đức Paholo VI đứng trước trách nhiệm hết sức nặng nề là tiếp tục và hoàn thành Công Đồng Chung Vaticăng II, và nhất là áp dụng các quyết định cách mạng của Công Đồng vào cuộc sống giáo hội.
Người đã viết các Thông Điệp nền tảng trình bầy giáo lý của Giáo Hội như Thông Điệp ”Giáo Hội Người”, ”Mầu nhiệm đức tin”, ”Tiến bộ các dân tộc” và ”Sự sống con người”. Thông điệp cuối cùng này liên quan tới việc hạn chế sinh sản và chức làm cha có trách nhiệm, đã gây sóng gió khiến Đức Phaolô VI phải công khai tự bênh vực mình.
Sau bao nhiêu thế kỷ Đức Phaolo VI là vị Giáo Hoàng đầu tiên ra khỏi biên giới Italia và dùng máy bay để thực hiện các chuyến công du mục vụ khiến cho mọi người đều hứng khởi. Năm 1964 người viếng thăm Thánh Địa. Tiếp đến năm 1967 người gặp gỡ Đức Athenagoras, Thượng Phụ constantinopoli: đây là lần đầu tiên sau 14 thế kỷ chia rẽ, một vị Giáo Hoàng gặp gỡ một vị Thượng Phụ.
Phù hợp với tinh thần cải cách của Công Đồng Chung Vaticăng II Đức Phaolô VI hủy bỏ các huy hiệu, các tàn che, mũ ba tầng, và các cung cách bisantin rườm rà của các lễ nghi, cũng như kiệu giáo hoàng, và các đội cận vệ gồm giới thượng lưu, các buổi rước. Ngai giáo hoàng được thay thế bằng một chiếc ghế đơn sơ vv.... Đức Phaolô VI cũng công bố tự sắc xác định là sau 80 tuổi các Hồng Y không có quyền bầu Giáo Hoàng nữa. Người cũng cho xây đại thính đường Phaolô VI để tiếp kiến tín hữu và du khách hành hương. Ngoài ra người còn tân trang các văn phòng, các cơ quan trung ương của Tòa Thánh, trang bị các máy vi tính và các dụng cụ truyền thông tối tấn nối liền Tòa Thánh với khắp nơi trên thế giới. Đức Phaolô VI cũng cải cách các chức vụ và các cơ quan trung ương Tòa Thánh, tái lượng định vai trò của Thánh Bộ, và quốc tế hóa các nhân viên Tòa Thánh, bằng cách mời gọi người của nhiều quốc gia khác nhau về làm việc tại các Bộ.
Đức Phaolo VI đã phải đương đầu với nhiều khó khăn như các mới mẻ của “Sách giáo lý Hòa Lan”, sự bất phục tùng của tín hữu và các linh mục lan tràn trong Giáo Hội khiến cho người âu lo, sự bất đồng ý kiến của các Giám Mục và các Hội Đồng Giám Mục, các phản đối bạo lực đối với chính con người của ngài, như xảy ra tại Cagliari.
Đức Phaolô VI cũng là vị Giáo Hoàng đầu tiên viếng thăm Ấn Độ, trụ sở tổ chức Liên Hiệp Quốc, Fatima bên Bồ Đào Nha, và công du tại Colombia, Australia, Indonesia, Hông Kông, Phi Luật Tân và các thành phố và giáo phận Italia và các giáo xứ Roma.
Người cũng chống lại nạn ly dị, phá thai, và đau đớn chứng kiến cảnh Giáo Hội thua trận không ngăn cản được các luật ly dị và phá thai. Vào các năm cuối đời sức khỏe của người suy yếu và bị thấp khớp rất nặng, bị giải phẫu tuyến tiền liệt, và đau đớn chứng kiến sự nổi loạn đến như ly giáo của Đức Cha Marcel Lefèbvre.
Thế rồi còn có nỗi đau trước cái chết thê thảm của người bạn thân là chính trị gia Aldo Moro, bị Lữ Đoàn Đỏ sát hại vào tháng 5 năm 1978 mặc dù Đức Phaolô VI đã tha thiết yêu cầu tổ chức này trả tự do cho ông.
Vài tháng trước khi qua đời ngày mùng 6 tháng 8 năm 1978 tại Castel Gandolfo, Đức Phaolô VI đã viết một lời kinh cảm động cho đám táng của ông Moro, do chính người chủ sự tại đền thờ thánh Gioan Laterano ở Roma, trong đó người thấy trước sự kết thúc 15 năm Giáo Hoàng đầy phong phú và biến động cũng như 81 năm tuổi đời của người: ”Lậy Thiên Chúa là Cha thương xót, xin cho sự hiệp thông không bị đứt quãng, cho dù trong đêm đen của cái chết, xin cho sự hiệp thông đó từ cuộc sống tạm này bầu cử cho những người chết và chúng con tất cả còn sống trong ngày hôm nay của một mặt trời lặn không thể ngăn cản được....”
(SD 4-8-2008)Linh Tiến Khải
Giới báo chí quốc và Thế Vận Hội Bắc Kinh
Một số nhận định của Linh Mục Bernardo Cervellera, Giám đốc hãng thông tin ASIANEWS, về thái độ của Nhà Nước Trung Quốc đối với các nhà báo quốc tế tham dự Thế Vận Hội Bắc Kinh
Lúc 8 giờ sáng mùng 8-8-2008 Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 sẽ chính thức khai mạc.
Từ chiều mùng 1-8-2008 người ta đã có thể vào một vài địa chỉ trên hệ thống liên mạng Internet, trong đó có địa chỉ của BBC tiếng Hoa, nhật báo Apple Dayly của Hồng Kông, Wikipedia và Tổ chức Ân Xá Quốc Tế, đã từng bị chính quyền Trung Quốc phong tỏa bằng hàng rào lửa. Được như thế cũng là nhờ các áp lực của dư luận quốc tế mạnh mẽ tố cáo Nhà Nước Trung Quốc vi phạm quyền tự do thông tin, cũng như phản đối Ủy Ban Thế Vận Bắc Kinh vào hùa với Nhà Nước cộng sản Trung Quốc trong các biện pháp hạn chế này. Tuy nhiên rất nhiều địa chỉ khác liên quan tới giáo phái Pháp Luân Công, hay phong trào kháng chiến Tây Tạng, hoặc các hãng thông tấn như Asianews vẫn bị phong tỏa. Có tìm qua địa chỉ Google cũng không vào được.
Tuy nhiên sự nhượng bộ của nhà nước Trung Quốc xem ra chỉ có hiệu lực bên trong làng Thế Vận Hội và phòng báo chí. Tại các vùng khác của thủ đô Bắc Kinh và trên toàn Trung Quốc các địa chỉ và trang Web ”bị cấm” vẫn tiếp tục bị bức tường lửa phong tỏa, vì nhà nước lo sợ chúng ảnh hưởng trên người dân.
Trong các ngày qua rất nhiều nhà báo hiện diện tại Bắc Kinh đã mạnh mẽ chỉ trích biện pháp phong tỏa của Nhà Nước đối với một số các trang Web, mà Nhà Nước cho là ”qúa nhậy cảm” và ”nguy hại cho nền an ninh của Trung Quốc”. Ông Kevan Gosper, chủ tịch Ủy ban báo chí Thế Vận Hội còn tiết lộ cho biết đã có thỏa hiệp giữa Ủy Ban và Nhà Nước Bắc Kinh liên quan tới việc kiểm soát liên mạng Internet, khiến cho ông Jacques Rogger, Chủ tịch Tổ chức Thế Vận Hội, cũng bị liên lụy.
Hiệp hội các phóng viên quốc tế của Trung Quốc đã yêu cầu Ủy ban nói trên cho biết các thỏa hiệp đó và giải thích tại sao tổ chức Thế Vận Hội đã luôn luôn công khai nói rằng sẽ bảo vệ quyền hoàn toàn tự do thông tin, mà không có sự kiểm duyệt nào, mà bây giờ lại vẫn hạn chế. Vì lo sợ trước ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông chính quyền Trung Quốc đã che mờ ít nhất là 19.000 trang Web thông tin, và tố cáo là chúng phổ biến các tin tức sai lạc có thể ”gây nguy hại cho nền an ninh quốc gia”, và bởi vì chúng vi phạm luật lệ của Trung Quốc. Sáng ngày mùng 2-8-2008 đã xảy ra một biến cố tuyệt đối hiếm hoi: Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, thường là người rất tránh né các nhà báo, đã mở một cuộc họp báo với giới truyền thông quốc tế và xin các các nhà báo đừng ”chính trị hóa Thế Vận Hội”.
Thật ra từ nhiều tháng qua, các tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới đã mạnh mẽ tố cáo nhà nước Trung Quốc xâm lăng Tây Tạng và đàn áp tăng ni phật tử Tây Tạng một cách tàn bạo. Còn riêng đối với Kitô giáo, đặc biệt là Giáo Hội Công Giáo thì từ bao thập niên qua vẫn liên tục bị nhà nước cộng sản Trung Quốc tìm đủ mọi cách bách hại, chèn ép và sách nhiễu. Nhiều Giám Mục, Linh Mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân liên tục bị bỏ tù hết năm này sang năm khác. Có nhiều Giám Mục hầu như đã không thể chu toàn nhiệm vụ chủ chăn của mình vì thường xuyên ra tù vào khám tổng cộng hàng mấy chục năm trời.
Sau đây chúng tôi xin gửi tới qúy vị và các bạn một số nhận định của Linh Mục Bernardo Cervellera, thuộc Hiệp Hội Thừa Sai nước ngoài Milano, gọi tắt là PIME, Giám đốc hãng thông tin ASIANEWS, về thái độ của Nhà Nước Trung Quốc đối với các nhà báo quốc tế tham dự Thế Vận Hội Bắc Kinh.
Cha Cervellera đã từng làm việc nhiều năm tại Hồng Kông và là người rất am tường về tình hình Trung Quốc. Cha cũng mới cho xuất bản cuốn sách tựa đề ”Mặt bên kia của mề đai. Trung Quốc và Thế Vận Hội”, trong đó cha viết: ”Đâu đâu trên các đường phố Bắc Kinh người ta cũng đọc thấy hàng chữ ”Chúng tôi đã sẵn sàng”. Trung Quốc đang lo lắng chờ đợi ngày mùng 8 tháng 8, là ngày khai mở Thế Vận Hội, để chứng minh cho thế giới thấy guồng máy tổ chức khổng lồ mà nhà nước đã xây dựng được trong 7 năm chuẩn bị. Nhưng ngày đó càng tới gần, thì người ta lại càng nhận ra các mâu thuẫn bên trong lòng xã hội Trung Quốc, mà đảng cố gắng duy trì trong bóng đêm, bằng cách kiểm soát giới báo chí và đàn áp những người bất đồng ý kiến có thực hay chỉ trong tiềm năng. Vì thế có nguy cơ là các cuộc tranh đua thế vận có thể biến thành loa phóng thanh của tất cả các hàm hồ ấy”.
Hỏi: Thưa cha Cervellera, ngày mùng 1 tháng 8 vừa qua nhà nước Bắc Kinh đã quyết định cho phép các nhà báo ngoại quốc được vào một số trang Web, trước đó đã bị kiểm soát và ngăn chặn. Cha có nghĩ rằng đây là một sự nhượng bộ đích thực của chính quyền cộng sản Trung Quốc hay không?
Đáp: Đó chỉ là một cố gắng nhằm cứu vãn thể diện của nhà nước thôi. Giới báo chí quốc tế phẫn nộ, vì mặc dù nhà nước Bắc Kinh đã hứa với các nhà báo quốc tế là để cho họ hoàn toàn tự do thông tin từ tháng Giêng tới tháng 10, nhưng trái lại nhà nước đã kiểm soát và ngăn chặn các trang Web và địa chỉ thông tin khiến cho nhà nước khó chịu vì chúng trung thực và dám nói lên sự thật. Như thế việc giải tỏa việc ngăn chặn vài địa chỉ thông tin chỉ là một hành động nhằm cứu vãn thể diện cho nhà nước, thế thôi.
Hỏi: Như thế có nghĩa là nhà nước cộng sản Trung Quốc không đưa ra sự cởi mở nào. Tại sao chính quyền Bắc Kinh lại duy trì lập trường cứng nhắc trước ngày khai mở Thế Vận Hội như vậy thưa cha?
Đáp: Giới lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc đang trải qua một giai đoạn bị tước đoạt. Chính quyền Bắc Kinh chờ đợi Thế Vân Hội trở thành biến cố đội triều thiên cho ”phép lạ kinh tế” của họ, cũng như là dịp để Trung Quốc cho cộng đồng thế giới thấy quyền lực và sự giầu có mà Trung Quốc đã đạt được. Tuy nhiên chính quyền Bắc Kinh cũng đã hiểu rằng xã hội dân sự thế giới không sẵn sàng nhắm mắt trước các vụ vi phạm các quyền con người một cách trắng trợn đang xảy ra tại Trung Quốc. Như vậy các cuộc tranh tài thế vận có thể biến thành một con dao hai lưỡi. Vì rất nhiều nhà báo và phóng viên quốc tế được gửi sang Bắc Kinh theo đõi và tường thuật các cuộc tranh tài, muốn biết thực tại của Trung Quốc, vượt ngoài cái vẻ xinh đẹp chính thức bề ngoài. Họ muốn biết cuộc sống thực của nhân dân Trung Quốc. Do đó Thế Vận Hội đáng lý ra phải diễn tả ”sự kiệu hãnh của Trung Quốc” lại có nguy cơ trở thành một sân khấu khổng lồ tố cáo chế độ.
Hỏi: Người dân Trung Quốc đã sống các biến cố này như thế nào thưa cha?
Đáp: Cả xã hội dân sự Trung Quốc cũng cảm thấy họ bị tước đoạt nữa. Trong biết bao nhiêu năm trời chính quyền đã hứa hẹn với người dân rằng Thế Vận Hội Bắc Kinh sẽ đem lại cho họ hạnh phúc ấm no và phồn thịnh. Nhưng các điều này không xảy ra. Vụ chính quyền đàn áp nhân dân Tây Tạng, nạn động đất tại Tứ Xuyên đã khiến cho nhiều du khách sợ không đi du lịch Bắc Kinh năm 2008 nữa. Số du khách giữ chỗ trong các khách sạn thấp hơn mức chờ đợi. Các hãng máy bay đã bán được ít vé hơn. Những người mong đợi sẽ kiếm được nhiều tiền lời trong dịp này đã thất vọng lớn. Vì nhân danh ”Thế Vận Hội” giới lãnh đạo Trung Quốc đã đòi hỏi nơi người dân các hy sinh khổng lồ và giờ đây người dân cảm thấy họ bị chính quyền phản bội. Và sự giận dữ đôi khi đã bùng nổ qua hình thức chống lại cảnh sát công an, hay đập phá các trụ sở của đảng cộng sản Trung Quốc.
Hỏi: Cha có thể trưng dẫn vài thí dụ chứng minh cho thấy các hy sinh gian khổ, mà người dân Trung Quốc đã phải gánh chịu, do sự đòi hỏi của nhà nước nhằm xây dựng quang cảnh vĩ đại của Thế Vận Hội 2008 hay không?
Đáp: Chỉ nội trong thủ đô Bắc Kinh đã có hơn một triệu rưỡi người bị mất nhà cửa, vì bị nhà nước cưỡng bách dời đi để nhường chỗ cho việc xây cất làng thế vận. Đa số đã nhận được một món tiền bồi thường tối thiểu. Nhiều người khác đã không nhận được gì hết. Ai dám phản đối thì bị bỏ tù. Thực ra đã có một đám dân khổng lồ bị trục xuất khỏi thủ đô Bắc Kinh và bị hy sinh cho làng Thế Vận Hội. Hiện nay thủ đô Bắc Kinh bị phong tỏa với các vòng rào an ninh rất nghiêm ngặt.
Hỏi: Cha nghĩ gì về tư tưởng tẩy chay Thế Vận Hội Bắc Kinh, mà nhiều người đã đưa ra trong các tháng qua?
Đáp: Tôi không đồng ý với tư tưởng tẩy chay Thế Vận Hội. Trái lại cần phải đến Bắc Kinh đông đảo chừng nào có thể, đặc biệt là các nhà báo và các phóng viên, để tìm cách kể lại các khía cạnh, mà nhà nước cộng sản Bắc Kinh cố tìm cách dấu nhẹm. Đây không phải là điều dễ dàng, vì chính quyền có các mạng lưới ngăn chặn dầy đặc. Có nửa triệu ”người thiện nguyện” giúp duy trì an ninh trật tự và 34 ngàn công an cảnh sát được lệnh làm mọi cách để ngăn chặn các nhà báo và phóng viên quốc tế đưa ra ánh sáng các ”sự tối tăm” của Trung Quốc. Nhưng chắc chắn là một vài sự thật thế nào cũng sẽ được đưa ra ánh sáng thôi. Chính các nhà báo phải thành công trong việc nhìn thấy những điều cần đưa ra ánh sáng.
(Avvenire 2-8-2008; ASIANEWS 2-8-2008)Linh Tiến Khải
THÁNH LỄ TƯỞNG NIỆM 30 NĂM ĐỨC PHAOLÔ VI QUA ĐỜI
VATICĂNG: Lúc sau 5 giờ chiều thứ tư 6-8-2008 Đức Hồng Y Giovanni Battista Re, Tổng trưởng Bộ Giám Mục đã chủ sự thánh lễ tại đền thờ thánh Phêrô để tưởng niệm 30 năm Đức Phaolô VI qua đời.
Giảng trong thánh lễ Đức Hồng Y mời gọi mọi người cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho Giáo Hội vị chủ chăn tôi tớ Chúa say mê yêu mến Chúa Kitô, Giáo Hội và thế giới, cũng như nêu gương trong cuộc sống tinh thần, trong các giáo huấn sâu xa và các hoạt động chống lại các bất công và bạo lực để tái tạo nền văn minh tình thương và hòa bình trên thế giới.
Thật vậy, Đức Phaolô VI là vị Giáo Hoàng đặc biệt, bắt đầu với tên gọi Phaolô. Người là vị Giáo Hoàng đầu tiên lấy tên gọi là Phaolô trong bốn thế kỷ liên tiếp của lịch sử Giáo Hội. Qua đó người muốn bắt chước thánh tông đồ Phaolô là ”người đã rất mực yêu thương Chúa Kitô và tột đỉnh ước mong và cố gắng đem Tin Mừng của Chúa Kitô đến với mọi dận tộc và vì yêu Chúa Kitô tận hiến mạng sống mình cho Chúa” (Bài giảng lễ đăng quang 30-6-1963).
Lấy Chúa Kitô làm trung tâm điểm của mọi sự và mọi hoạt động phục vụ Giáo Hội và thế giới đã được Đức Phaolô VI nêu bật trong diễn văn khai mạc khóa hai của Công Đồng Chung Vaticăng II với các lời đáng ca ngợi như sau: ”Chúa Kitô là nguyên lý của chúng ta! Chúa Kitô là đường và là vị hướng đạo chúng ta! Chúa Kitô là niềm hy vọng và đích tới của chúng ta... Ước chi đừng có ánh sáng nào khác chiếu soi trên cuộc họp của chúng ta nếu không phải Chúa Kitô, ánh sáng thế gian; ước chi đừng có sự thật nào khác lôi kéo tâm trí chúng ta nếu không phải là các lời của Chúa là vị Thầy duy nhất của chúng ta; ước chi đừng có linh hứng nào khác hướng dẫn chúng ta nếu không phải là ước muốn tuyệt đối trung thành với Người” (29-9-1963).
Tiếp tục bài giảng Đức Hồng Y Re nói tinh thần tu đức lấy Chúa Kitô làm trung tâm và tuyệt đối vâng phục Chúa là bí quyết của việc phục vụ Giáo Hội trong thừa tác Phêrô và việc thực thi việc cập nhật hóa Giáo Hội được Công Đồng đề xướng. Tình yêu đối với Chúa Kitô cũng khiến cho Đức Phaolô VI hết mực yêu thương Mẹ Thiên Chúa và Giáo Hội cho tới chết.
Như là Giáo Hoàng Đức Phaolô VI sống và rao giảng lòng tin với sự tận tâm không mệt mỏi và can đảm bảo vệ sự toàn vẹn và tinh tuyền của lòng tin. Người tận dụng mọi dịp để rao truyền Lời Chúa và phổ biến tư tưởng của Giáo Hội và vững tay lèo lái con thuyền Giáo Hội ngược sóng trong thời gian khó khăn của những năm chống đối và nỗ lực bảo vệ gia tài lòng tin.
Năm 1967 nhân kỷ niệm 19 thế kỷ cuộc tử đạo của hai thánh Phêrô và Phaolô, Đức Phaolô VI tuyên bố Năm Lòng Tin và trong lễ kết thúc đọc lên ”Kinh Tin Kính của dân Chúa” và chỉ cho các thần học gia và toàn Giáo Hội các điểm nền tảng không được xa rời và người tái khẳng định các chân lý nền tảng của Kitô giáo.
Chính ý thức cao độ về nhiệm vụ duy trì kho tàng lòng tin đã khiến cho Đức Phaolô VI can đảm lựa chọn đưa ra các giáo huấn rõ ràng trong thông điệp ”Sự sống con người - Humanae Vitae” và bảo vệ luật lệ của Thiên Chúa, cho dù biết rằng sẽ bị chống đối vì ngược lại với nền văn hóa đang thống trị và dư luận công cộng.
Nói thêm trong bài giảng Đức Hồng Y Tổng trưởng Bộ Giám Mục ca ngợi Đức Phaolô VI như là vị Giáo Hoàng của tinh thần đối thoại với thế giới tân tiến và với các tôn giáo và nền văn hóa khác. Người yêu thương thế giới, tìm hiểu học hỏi và nhìn nó với thiện cảm và lòng khâm phục sự phong phú văn hóa và khoa học, nhưng cũng nhận biết những bần cùng và cao cả của nó. ”Nếu thế giới cảm thấy xa lạ với Kitô giáo, thì Kitô giáo không cảm thấy xa lạ với thế giới”. Chính vì thế Giáo Hội luôn mở rộng cửa và đối thoại với tất cả mọi người. Đối với Đức Phaolô VI đối thoại là kiểu diễn tả tinh thần Tin Mừng tìm đến với tất cả mọi người, chung sống và rộng mở cho nhau trong niềm tôn trọng công lý, trong tình liên đới và tình yêu thương.
Trong một thế giới nghèo nàn tình yêu, đầy vấn đề và bị xâu xé vì bạo lực Đức Phaolô VI đã tận lực làm việc để thiết lập một nền văn minh tình thương. Cũng vì thế ngài đã có nhiều sáng kiến đáng ghi nhớ. Ngài đã là vị Giáo Hoàng đầu tiên trở lại Thánh Địa. 6 tháng sau khi được bầu làm Chủ Chăn Giáo Hội hoàn vũ ngài viếng thăm Thánh Địa, qua đó Đức Phaolô VI chỉ cho Giáo Hội thấy chỉ khi theo vết chân Chúa Kitô Giáo Hội mới tìm lại được chính mình.
Đức Phaolô VI cũng là vị Giáo Hoàng đầu tiên khước từ chiếc mũ ba tầng và cho bán đấu giá nó để lấy tiền giúp người nghèo trong chuyến viếng thăm Ấn Độ sau đó.
Người cũng là vị Giáo Hoàng đầu tiên đến nói chuyện với hàng lãnh đạo toàn thế giới tại Liên Hiệp Quốc và đã đưa ra lời kêu gọi đáng ghi nhớ sau đây: ”Đừng bao giờ có chiến tranh nữa, đừng bao giờ con người chống lại con người hay ở trên nhau nữa, nhưng cho nhau và với nhau”.
Đức Phaolô VI cũng là vị Giáo Hoàng hủy bỏ giáo triều và muốn Tòa Thánh có kiểu sống đơn sơ hơn. Ngài cũng là người cải cách các cơ quan trung ương Tòa Thánh khiến cho nó hữu hiệu, mục vụ và quốc tế hơn.
Ngoài ra Đức Phaolô VI cũng là vị Giáo Hoàng thiết lập Ngày Hòa Bình Thế Giới cử hành vào mùng 1 tháng giêng hằng năm.
Kết thúc bài giảng Đức Hồng Y Giovanni Battista Re xin Mẹ Thiên Chúa mà Đức Phaolô VI đã vô cùng yêu mến, bầu cử để cho ánh sáng các giáo huấn và chứng tá của vị tôi tớ Chúa tiếp tục sáng soi con đường của Giáo Hội và xã hội ngày nay.
(SD 6-8-2008) Linh Tiến Khải