Linh Tien Khai - dongcong.net
 
 

Bài vở của Đức ông LTK



TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC ĐẶC SỦNG VÀ ĐỨC MẾN

Trong chương 13 thư thứ I gửi giáo đoàn Côrintô thánh Phaolô khai triển đề tài tương quan giữa các đặc sủng và tình yêu thương. Tình yêu thương agapé hay đức mến ở đây diễn tả trọn vẹn ơn cứu độ hiện diện trong cuộc sống của tín hữu và xác định cung cách hành xử của họ trong tư thế là các thụ tạo mới. Nó khiến cho họ sống liên đới, hiệp thông, chia sẻ với nhau theo cái luận lý của Tin Mừng cứu độ.

Bài chúc tụng đức mến của chương 13 có kết cấu ba phần rõ ràng. Phần thứ nhất gồm ba câu đầu nêu bật cái hư vô của của các đặc sủng nếu thiếu đức mến. Phần thứ hai các câu 4-7 miêu tả hoạt động đa diện của đức mến. Và phần thứ ba gồm các câu 8-13 trình bầy tương quan phản đề giữa đức mến và các đặc sủng khác.

Ba câu đầu lập lại cùng một đề tài dưới các hình thức khác nhau: sự hiện diện hay không hiện diện của đức mến xác định cho kiểu hành xử và bản chất là kitô hay không là kitô của tín hữu. Trong mỗi câu đều lập lại hình thức đồ biểu tất định: nếu tôi có đặc sủng này hay đặc sủng kia, hay nếu tôi làm được điều này điều nọ, mà không có đức mến, tôi chỉ là hư không. Kiểu dùng chủ từ ngôi thứ nhất số ít có ý khẳng định rằng diễn văn liên hệ tới mỗi một tín hữu, không loại trừ ai. Không ai có thể thoát khỏi sự phán xử định đoạt liên quan tới con người mình. Dù là ai hay có làm gì lớn lao đến đâu đi nữa, nếu không có đức mến, thì tín hữu cũng không đáng kể trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Đặc sủng nói được các thứ tiếng lạ, đặc sủng ngôn sứ, sự hiểu biết tường tận mọi mầu nhiệm của Thiên Chúa và của thế giới do Thần Linh ban cho gọi là sự khôn ngoan (sophía) trong chương 2,6-16, việc chiếm hữu mọi khôn ngoan linh ứng (gnôsis), lòng tin mạnh mẽ có thể làm được các điều không thể làm được như chuyển núi dời non, tất cả diễn tả khả năng mà tín hữu đạt được trong các kinh nghiệm đặc sủng. Tĩnh từ ”tất cả” lập lại nhiều lần trong câu 2, cũng như kiểu nói mang mầu sắc kinh thánh ”các thứ ngôn ngữ của loài người và các thứ ngôn ngữ của các thiên thần” trong câu 1, đều nhằm miêu tả gương mặt của kitô hữu được Thánh Thần Chúa ban cho rất nhiều ơn siêu phàm.

Tiếp đến thánh Phaolô giới thiệu gương mặt của tín hữu anh hùng có các cử chỉ ngoạn mục và ngoại thường, hay có các thành tích tôn giáo và luân lý cao cả siêu đẳng nhất như dâng hiến trọn của cải cho người nghèo hoặc chịu tử đạo. Nhưng nếu không có đức mến, thì tín hữu được Thánh Thần ban cho nhiều đặc sủng nhất hay anh hùng nhất có là gì? Ơn nói được các tiếng lạ lúc đó chỉ giống như tiếng gông, tiếng trống, tiếng thanh la não bạt ồn ào, thế thôi. Đặc sủng mà biến thành một dụng cụ vô hồn, thì qủa thật không còn giá trị gì nữa! Cũng thế, kẻ khôn ngoan, người thông thái ”ngộ đạo” sâu xa nhất cũng như người có lòng tin mạnh mẽ làm được các phép lạ ngoạn mục nhất cũng là hư vô, nếu họ không có đức mến. Sau cùng vị tử đạo anh hùng nhất, vị ân nhân quảng đại nhất, nếu không có đức mến, cũng chỉ quay quanh hư vô, và những gì họ làm đều vô ích. Tắt một lời, đức mến, tình yêu thương là yếu tố cần thiết không thể thay thế được, làm nên bản chất đích thực của mỗi một tín hữu. Mọi chiếm hữu và hành động xa lạ với tình yêu thương đều không có sức mạnh làm cho tín hữu kitô trở thành một cái gì đó. Nói như thế cũng có nghĩa là các kinh nghiệm đặc sủng và các hành động anh hùng nơi một người có đức mến có gía trị rất lớn. Tình yêu thương, đức mến như thế là lý do của mọi giá trị nội tại. Ai có đức mến là hiện hữu, ai không có đức mến, thì không là gì cả. Dĩ nhiên, khi đưa ra tiêu chuẩn đánh giá này, thánh Phaolô đứng từ một góc cạnh chính xác. Thánh nhân đo lường sự hiện hữu hay không hiện hữu, cái gía trị hay không gía trị, không phải một cách trừu tượng nhưng trong tương quan tham chiếu với thực tại cứu độ. Thực tại cứu độ và trong tương lai cứu độ thời sau hết là mực thước giúp đánh giá mọi sự. Đây không phải là một suy tư triết lý, mà là một suy tư thần học.
Phần thứ hai, các câu 4-7 không định nghĩa tình yêu thương hay đức mến là gì, cũng không miêu tả nó qua một loạt các tính từ, nhưng trình bầy hoạt động đa năng của nó. Đức mến là một sức mạnh sinh động được nhân cách hóa. Thật ra, ở đây thánh Phaolô xác định cung cách hành xử của một người được đức mến thúc đẩy. Nói chung điểm tham chiếu của các xác định này là tha nhân. Dĩ nhiên, không phải thánh Phaolô muốn loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi tầm hoạt động của đức mến - thật ra trong câu 12 Phaolô có nhắc tới Thiên Chúa - nhưng ở đây ngài giới hạn đề tài vào tình yêu thương tha nhân. Trong 15 động từ dùng để trình bầy các hoạt động của đức mến, có 3 động từ trong thể tích cực đơn thuần, 8 động từ trong thể tiêu cực, và 4 động từ cuối cùng diễn tả tính chất toàn thể của hành động một cách tích cực. Hành động quảng đại và nhân hậu được đặc biệt nêu bật ngay từ đầu. Ai được đức mến hướng dẫn đều tỏ ra có con tim quảng đại trước một tổn hại hay bất công phải chịu, và vẫn nhân hậu tiếp tục theo đuổi việc mưu cầu hạnh phúc cho người khác. Tiếp theo là việc loại bỏ một số hành động xác định. Ai yêu thì không ghen tương. Qua đó thánh Phaolô đả phá khuynh hướng chia rẽ trong cộng đoàn Côrintô (x. 3,3). Thái độ vênh vang kiêu ngạo cũng bị khai trừ (x. 4,6; 18,19; 5,2; 8,1). Xác định tiếp theo ”Đức mến không làm gì phiền nhiễu” có tính cách chung chung. Có lẽ nó ám chỉ các vụ gương mù gương xấu của giáo đoàn Côrintô chăng (x. 5,1-6; 6,1 tt.; 11,21 t.). Tình yêu vị tha đã là đề tài khuyến khích được thánh Phaolô trình bầy với tín hữu qua lời nói (10,24) và nhất là qua gương sáng (10,33) của ngài. Nội dung của hai xác định tiếp theo liên hệ với nhau: đức mến ”không nóng giận, không nghĩ tới sự dữ đã phải chịu”. Đó là phản ứng của một người có đức mến trước hành động không thể chịu đựng được của người khác. Câu 6 cho thấy cách đức mến phản ứng trước cái gian ác hay sự thật: không vui khi thấy cái gian ác của người khác, nhưng hoan hô sự thật. Nhất quyết không chấp nhận liên hệ với sự dữ nhưng tham dự vào việc thiện của người khác. Bốn hành động sau cùng của đức mến bao gồm mọi sự xem ra lập lại những gì đã kể ở trên hơn là diễn tả trước ba đức tin, cậy, mến sẽ được đề cập tới trong câu 13. Ai yêu thương thì cũng tỏ ra có thái độ thông cảm, tin tưởng không giới hạn nơi người anh chị em khác và không bao giờ đầu hàng trước bất cứ khó khăn nào.

Phần thứ ba của bài chúc tụng đức mến, các câu 8-13, trình bầy dưới hình thái phản đề sự đối chọi giữa đức mến và các đặc sủng. Các đặc sủng dù có cao trọng mấy đi nữa cũng sẽ hết đi, không còn tồn tại trong cuộc sống mai sau nữa, nhưng đức mến vẫn tồn tại mãi và không thuyên giảm (c. 8). Lý do là vì các đặc sủng là một thực tại phiến diện (ek mérus), hạn hẹp, và bất toàn, trong khi yêu thương là sự toàn thiện của cuộc sống kitô (c. 9). Chính sự toàn thiện và cái hạn hẹp xác định cho sự tồn tại hay mau qua. Thực tại toàn thiện trổi vượt hơn cái bất toàn (c. 10). Nó giống như tuổi niên thiếu với tuổi trưởng thành. Trẻ em sống theo tình trạng của trẻ em, nhưng một khi đã trưởng thành, thì tất cả những gì là trẻ con đều trở thành qúa khứ (c. 11). Như thế văn bản đưa ra một phản đề mới giữa tình trạng sống hiện nay và tình trạng sống trước kia, nghĩa là giữa thời điểm lịch sử hiện tại với thế giới tương lai trong Nước Chúa (c. 12). Đây là hai thái cực diễn tả sự toàn thiện và cái hạn hẹp nói trên, nhưng được áp dụng vao lãnh vực tôn giáo: ”Thật vậy, giờ đây chúng ta trông thấy Thiên Chúa như trong một chiếc gương một cách mờ tối, nhưng khi đó chúng ta sẽ thấy ngài diện đối diện. Giờ đây sự hiểu biết của tôi có hạn, nhưng khi đó tôi sẽ hiểu biết Ngài như tôi được Ngài hiểu biết” (c. 12). Hai hạn hẹp diễn tả kiểu hiểu biết Thiên Chúa của con người là sự hiểu biết gián tiếp và cái mờ đục lẫn lộn của nó (như qua một tấm gương). Nhưng ở bên kia bờ lịch sử, con người sẽ hiểu biết một cách trực tiếp và rõ ràng (mặt giáp mặt). Sự toàn thiện là ở đó. Ở cuối câu nó được diễn tả bằng một kiểu nói ý nghĩa hơn nữa: ”khi đó tôi sẽ hiểu biết Ngài như tôi đựơc Ngài hiểu biết”. Khoảng cách giữa sự hiểu biết của chúng ta và sự kiện chúng ta được hiểu biết sẽ được thắng vượt. Thánh Phaolô dùng sự hiểu biểt của Thiên Chúa làm thước đo sự hiểu biết của chúng ta để nói lên mức độ của sự toàn thiện. Văn bản đã khai triển nền tảng đối chọi giữa tình yêu thương và các đặc sủng bằng cách cụ thể hóa sự đối chọi đó trong hai giới tuyến phản đề: một đàng là thực tại thường hằng toàn thiện của tương lai cuối cùng, đàng khác là thực tại lịch sử bất toàn mau qua. Qua đó thánh Phaolô đã lượng định trở lại tầm quan trọng của các đặc sủng, kể cả các đặc sủng lợi ích nhất cho công tác xây dựng cộng đoàn. Mọi đánh giá tuyệt đối đếu không đúng đắn, bởi vì sự toàn thiện không hệ tại nơi các tỏ hiện đặc sủng, mà hệ tại nơi đức mến. Cũng thế không phải các kinh nghiệm đặc sủng khiến cho thế giới tương lai hiện diện trong thế giới hiện nay của chúng ta, mà là hành động của người yêu mến. Ngược lại, các đặc sủng diễn tả tính chất lịch sử của sự hiện hữu gắn liền với các hạn hẹp của điều kiện sống trên trần gian này. Sự trưởng thành của kitô hữu hệ tại chỗ yêu thương chứ không hệ tại sinh hoạt đặc sủng.

Để kết luận thánh Phaolô mở rộng khung cảnh suy tư bằng cách lồng đức mến vào trong truyền thống của ba nhân đức đối thần là đức tin, đức cậy, và đức mến, đã được đề cập tới trong thư thứ I gửi giáo đoàn Thêxalônica 1,3; 5,8: ” Giờ đây, cả ba thực tại này đều tồn đại: lòng tin, lòng cậy và lòng mến”. Trong khẳng định này có hai từ tạo ra vấn nạn: đó là từ ”nyní” giờ đây, và động từ ”ménei” tồn tại. Có ba kiểu giải thích. Kiểu giải thích thứ nhất nêu bật tính chất vĩnh cữu của đức tin, đức cậy và đức mến. Trong trường hợp đó động từ ”ménei” mang nghĩa cánh chung, nghĩa là kéo dài trong vĩnh cửu. Văn bản sách Esdra III chương 4,38 bênh vực lập trường này khi viết: ”Chân lý tồn tại và có gía trị vĩnh cửu”. Nhưng nó cũng tạo khó khăn vì trong nhiều văn bản khác thánh Phaolô khẳng định tính chất hư nát của lòng tin, khi đối chọi lòng tin với thị kiến như viết trong thư thứ II gửi tín hữu Côrintô chương 5,7, và tính chất tạm thời chuyển tiếp của đức cậy, là thái độ chờ đợi chiếm hữu được ơn cứu độ tương lai như ghi trong thư gửi tín hữu Roma chương 8,24-25. Có học giả cho rằng đức tin và đức cậy cũng sẽ tồn tại trong thế giới mai sau, không phải trong nghĩa sự hiểu biết mờ ảo mầu nhiệm kitô, cũng không trong nghĩa đợi chờ, mà trong nghĩa khẳng định khoảng cách giữa Thiên Chúa và sự khiêm tốn thừa nhận các ơn đã nhận lãnh được. Kiểu giải thích thứ hai hiểu văn bản theo nghĩa luận lý như sau: vì vậy cái có giá trị là đức tin, đức cậy, đức mến. Kiểu giải thích này khiến cho văn bản dễ hiểu hơn, nhưng không biết nó có hợp với bối cảnh đề cập tới sự tồn tại vĩnh cửu của đức mến hay không. Kiểu giải thích thứ ba hiểu là thực tại cuối cùng của ơn cứu độ đã hiện diện trong thời đại chúng ta đang sống. Thật khó mà chọn một trong ba kiểu giải thích kể trên, vì kiểu nào cũng có lý của nó. Nhưng có lẽ phải duy trì hướng đi chung của văn bản: đó là thánh Phaolô muốn đối chọi tính chất tồn tại vĩnh cửu của đức mến với tính chất lịch sử và mau qua của các đặc sủng. Việc thêm đức tin và đức mến vào nữa chỉ là cách giúp thánh nhân nêu bật tính chất cao vượt của đức mến, như khẳng định trong phần hai của câu: ”nhưng cao trọng nhất là đức mến”. Không phải chỉ các đặc sủng mà cả đức tin và đức cậy cũng không đứng vững trước đức mến. Đây là một luận cứ khác nữa củng cố cho con đường tuyệt diệu thánh Phaolô muốn chỉ cho tín hữu Côrintô. Xem ra thánh nhân không chú ý tới tính chất vĩnh cửu của đức tin và đức cậy.

                                                                                          
Đức Ông Linh Tiến Khải

 

Linh Tiến Khải - Vietvatican.net

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)