XÂY DỰNG CỘNG ĐOÀN
NHƯ TIÊU CHUẨN XẾP HẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC ĐẶC SỦNG
Trong chương 14 thánh Phaolô khai triển đề tài tương quan giữa các đặc sủng và sức lớn mạnh trưởng thành của cộng đoàn kitô. Ngài mở đầu với lời khuyên tín hữu hãy biết tìm kiếm tình yêu thương hay đức mến và hãy khát khao các ơn của Chúa Thánh Thần, đặc biệt là ơn ngôn sứ. Nghĩa là thánh Phaolô nhắn nhủ tín hữu hãy biết dùng đức mến, là thực tại toàn thiện duy nhất vĩnh cửu đặc thù của cuộc sống kitô để thanh lọc mọi thứ đặc sủng khác. Đồng thời nó cho thấy thánh Phaolô ưa thích đặc sủng ngôn sứ hơn đặc sủng nói được các thứ tiếng lạ và minh xác cho sự cao vượt của đặc sủng ngôn sứ. Tiếp theo đó thánh Phaolô trình bầy hai đặc sủng này của Chúa Thánh Thần và chứng minh cho thấy lý do sự lựa chọn của thánh nhân cũng như cho thấy rõ tiêu chuẩn sắp thứ hạng được dùng ở đây (cc.2-5).
Trước hết nói được các thứ tiếng là một ơn của Chúa Thánh Thần, do đó thánh nhân hết lòng chấp nhận. Nhưng ngài xác định rằng nếu không có người giải thích, thì ơn ấy chỉ lợi cho một cá nhân mà không mưu ích cho toàn cộng đoàn. Xác định này rất qúy, vì nó cho thấy thánh Phaolô lượng định gía trị và sắp thứ hạng các đặc sủng theo tính cách có thể hiểu biết được của nó và nhất là theo sức xây dựng cộng đoàn của đặc sủng. Phaolô giả dụ trường hợp chính ngài hiện diện trong cộng đoàn Côrintô để diễn tả đặc sủng nói được tiếng lạ. Sự hiện diện của ngài không giúp gì cho ai, nếu tín hữu không hiểu được điều thánh nhân nói. Và Phaolô kê khai ra nhiều thứ lời nói thông truyền sự hiểu biết cho người nghe. Thứ nhất là lời mạc khải (apokálypsis). Trong chương 12,1.7 thư thứ II gửi tín hữu Côrintô nó ám chỉ kinh nghiệm xuất thần, nhưng ở đây nó diễn tả lời nói linh ứng vén mở mầu nhiệm của Thiên Chúa. Tiếp đến là ơn hiểu biết tôn giáo (gnôsis) cũng có cùng nội dung được chia sẻ cho người nghe. Rồi tới giáo huấn (didakhê) có nội dùng giáo lý. Để biện minh cho lập trường lựa chọn của mình thánh Phaolô dng hai thí dụ so sánh. Trước hết là các dụng cụ âm nhạc: sáo, huyền cầm và kèn. Chúng vô ích khi phát ra các thứ tiếng hỗn độn, không phân biệt và không hiểu được, khiến cho người nghe không nhận ra được bản nhạc trình tấu. Ơn nói các thứ tiếng lạ cũng thế, nếu người nghe không hiểu được nội dung chúng muốn nói. Do đó chúng cũng như tiếng nói trong gió, không thông truyền sứ điệp cho người nghe và không giúp họ hiểu biết hơn sự gì, không tạo ra sự trao đổi hiệp thông, vì thế không giúp cộng đoàn tăng trưởng. Người nói và người nghe tiếp tục là hai thế giới riêng biệt câm nín. Đây là lý do giải thích tại sao thánh Phaolô khuyến khích tín hữu ngày càng biết kiếm tìm ơn của Chúa Thánh Thần để diễn tả chúng ra bằng việc vun xới và xây dựng cộng đoàn trưởng thành lớn mạnh (c. 12). Thánh nhân củng cố lòng khát khao đặc sủng của họ, nhưng hướng dẫn họ xin các ơn hữu ích chung.
Thế còn người nhận được ơn nói các thứ tiếng lạ thì sao? Họ phải làm gì để cho đặc sủng đó sinh ích lợi cho cộng đoàn? Thánh Phaolô khuyên họ xin Chúa cho cả ơn giải thích thứ tiếng họ nói nữa (c. 13), để phục vụ cộng đoàn. Chúa cho ơn gì cũng cứ lãnh nhận và tạ ơn Chúa, vì trong thực tại thân mình mầu nhiệm của Chúa, ơn nào cũng cần cho cộng đoàn cả (12,12-26), kể cả ơn được xuất thần. Sau khi đã trưng dẫn lý do nòng cốt giải thích tại sao mình thích cho các tín hữu xin Chúa các ơn hữu ích cho toàn thể Giáo Hội, thánh Phaolô so sánh ơn nói các thứ tiếng lạ với ơn ngôn sứ trong lãnh vực cầu nguyện (cc. 13-17). Thánh nhân cho biết các hình thức truyền thống khác nhau trong phụng tự của các giáo đoàn kitô tiên khởi đa số phát xuất từ truyền thống do thái. Chẳng hạn lời thưa Amen của cộng đoàn; tên thánh vịnh ”psallô”, lời chúc tụng ”eulogía” và lời cảm tạ ”eukharistía”. Bên cạnh nguồn gốc của thể văn cũng phải ghi nhận nội dung và hình thái kitô của phụng vụ do cộng đoàn sáng tác ra. Điển hình là các bài thánh ca (Pl 2,6-11; Cl 1,15-20; 1 Tm 2,16). cũng như các lời chúc tụng cảm tạ kitô học (Rm 16,25-27; Ep 1,3-14).
Trong trường hợp người cầu nguyện bằng các thứ tiếng lạ chỉ có tinh thần của riêng họ là tham dự vào lời cầu nguyện ấy chứ không phải là trí thông minh, vì họ nói trong tình trạng xuất thần nên chính họ cũng không luôn luôn hiểu các thứ tiếng đó. Do đó họ không thể thông truyền cho các tín hữu khác tham dự lễ nghi phụng vụ. Bên cạnh các lời cầu xuất thần không hiểu được đó cần có những lời nguyện có nội dung lý sự và dễ hiểu (c.15). Bởi nếu không người tham dự không thể hiểu và thưa Amen được (c.16). Lời cầu xuất thần dù có hay đẹp tới đâu đi nữa mà không hiểu được, thì cũng không sinh ích lợi gì cho các tín hữu khác (c. 17). Theo thánh Phaolô các buổi cầu nguyện kitô không được biến thành một thứ la lối ồn ào, xuất thần, mê sảng, hứng khởi cảm xúc của những người nhận được đặc sủng. Nó cũng không được rơi vào kiểu diễn tả cá nhân của những người bị kích thích. Trái lại các buổi cầu nguyện kitô phải là buổi cử hành phụng vụ ý thức có sự tham dự của mọi tín hữu vào lời cảm tạ chúc tụng chung. Lý trí là điều cần thiết, không phải vì tự nó có giá trị, nhưng vì nó là điều kiện để cộng đoàn và mọi người cầu nguyện có thể tham dự. Thần Khí của Thiên Chúa không phải là một nguyên lý vô lý trái nghịch với lý trí của con người, cũng không đồng hóa với lý trí con người, nhưng là nguyên lý hiệp thông tham dự, chia sẻ khiến cho cộng đoàn trưởng thành.
Chính thánh Phaolô là người có đặc sủng nói được các thứ tiếng lạ hơn mọi tín hữu Côrintô, không phải vì công lao của ngài, mà là ơn Thiên Chúa ban cho ngài (x. 2 Cr 12,1 tt.). Do đó không phải vì tự ti mặc cảm mà thánh nhân không đánh giá cao đặc sủng nói được các thứ tiếng lạ. Phaolô vẫn thích các diễn văn hiểu được và có tính cách xây dựng. Đây là nguyên tắc thánh nhân đã áp dụng cho chính mình: ”Trong cộng đoàn tụ họp nhau tôi thích nói năm lời có thể hiểu được hơn là mười ngàn lời của người nói các thứ tiếng lạ” (c.19). Ích lợi của Giáo Hội có giá trị hơn là công trạng cá nhân. Cũng chính nguyên tắc này khiến thánh Phaolô coi thái độ của các tín hữu xuất thần tuyệt đối hóa đặc sủng nói các thứ tiếng lạ trong cộng đoàn Côrintô là trẻ con, không trưởng thành. Họ cần phải trưởng thành và chú ý tới lý trí nhiều hơn trong cuộc sống, chứ không được hành xử theo các cảm tình hứng khởi nhất thời.
Để minh xác cho lập trường và sự lựa chọn của mình thánh Phaolô trưng dẫn sách Isaia 28,11-12, nói về thái độ cứng lòng của dân Do thái và khẳng định rằng ơn nói các thứ tiếng lạ là dấu chỉ đối với người không tin, còn đối với các tín hữu dấu chỉ là ơn ngôn sứ. Trước hết văn bản trích dẫn không trùng hợp với văn bản Kinh Thánh do thái cũng như văn bản LXX. Tiếp đến sự so sánh không được chỉnh cho lắm. Vì văn bản khẳng định Thiên Chúa không muốn nói thứ ngôn ngữ có thể hiểu được với dân Do thái, trong khi tín hữu được đặc sủng nói tiếng lạ không có khả năng làm cho người khác hiểu được mình. Nhưng đây chính là điểm thánh Phaolô muốn nói tới để nhấn mạnh rằng ơn ngôn sứ cao vượt hơn ơn nói các thứ tiếng lạ. Lý do là vì ngay cả những người không có lòng tin, khi tham dự các buổi cầu nguyện của kitô hữu, mà thấy người nói các thứ tiếng lạ rơi vào tình trạng xuất thần mê sảng nói những gì không ai hiểu nổi, thì họ cho những người đó là điên khùng. Trái lại khi nghe lời các người có đặc sủng ngôn sứ nói, họ hiểu ngay lời kêu mời hoán cải con tim và nghiêm chỉnh duyệt xét cuộc sống. Và khi ý thức được tội lỗi của mình, họ hoán cải, tuyên xưng sự hiện diện của Thiên Chúa trong cộng đoàn kitô. Nghĩa là thánh Phaolô muốn khẳng định rằng ơn ngôn sứ ích lợi cho cả những người không có lòng tin nữa. Do đó nó cao trọng hơn ơn nói các thứ tiếng lạ.
Sau khi giải quyết khía cạnh nòng cốt này của vấn đề, thánh Phaolô mới đưa ra một số điều lệ đối với những người được đặc sủng nói các thứ tiếng lạ. Điều thánh nhân chú ý ở đây là cung cách tín hữu phải có trong diễn tiến của buổi cử hành phụng vụ, làm sao để các buổi tụ tập cử hành phụng vụ đó đem lại hoa trái đích thực cho mọi tín hữu trong cộng đoàn. Nghĩa là phải loại bỏ tất cả những gì không giúp xây dựng sự trưởng thành của cộng đoàn. Thánh Phaolô không hạn chế sự đóng góp của từng tín hữu cho cộng đoàn, bởi vì ai cũng có quyền và có bổn phận đóng góp các ơn mình nhận được để sinh lợi cho Giáo Hội. Mọi cơ phận đều ích lợi và cần thiết cho thân mình Giáo Hội (12,7. 12 tt.). Nhưng để cho các phát biểu phong phú không gây rối loạn và ngăn cản sự hữu hiệu của lời phát biểu, trước hết phải hạn chế số người phát biểu: tối đa là 3 người có đặc sủng nói các thứ tiếng lạ và ba người có đặc sủng ngôn sứ (cc. 27-29), một đàng vì thiếu giờ, đàng khác cũng vì ích lợi của người nghe. Không được phát biểu cùng một lúc, nhưng mỗi người tới phiên của mình. Người nói các thứ tiếng lạ cần giải thích hay có người giải thích lại lời mình nói. Nếu không nên im lặng hiệp thông với Chúa thì tốt hơn, chứ đừng phát biểu. Còn ai nói ngôn sứ thì sau đó tín hữu phải kiểm chứng lại lời họ nói và phân biệt chân giả. Vì cũng có thể xảy ra trường hợp người nói tin rằng mình được Chúa Thánh Thần linh ứng, nhưng thực ra không đúng. Nghĩa là cộng đoàn phải phân biệt đặc sủng thật và đặc sủng giả, phải có óc phê phán nhận định. Một trong những tiêu chuẩn giúp phân biệt đó là không ai dưới hoạt động của Chúa Thánh Thần mà lại nguyền rủa ”Đức Kitô là đồ khốn kiếp” Và cũng không ai có thể tuyên xưng Đức Kitô, nếu không qua Chúa Thánh Thần”. Cũng cần giới hạn thời giờ phát biểu, để có nhiều người có thể phát biểu và chia sẻ đặc sủng của mình. Nghĩa là không ai được gianh nói hết.
Sau cùng thánh Phaolô không cho phép chị em phụ nữ phát biểu. Họ phải im lặng, và vâng phục. Có thắc mắc chuyện gì thì hỏi chồng ở nhà, vì phụ nữ nói trong buổi hội họp của cộng đoàn thì không tiện (cc.34-35). Thánh Phaolô xem ra mâu thuẫn với điều đã viết trong chương 11,2-16, theo đó chị em phụ nữ được quyền phát biểu trước cộng đoàn, chỉ cần trùm khăn trên đầu là đủ. Thật ra ở đây thánh Phaolô muốn tránh bầu khí hỗn loạn ồn ào trong các buổi hội họp của cộng đoàn, nên cấm phụ nữ hỏi chuyện này chuyện nọ. Chứ không cấm nữ giới chia sẻ đặc sủng của mình như trong chương 11. Bởi vì trong trường hợp là đặc sủng, tức ơn của Chúa Thánh Thần, cho dù có theo tâm thức do thái cho rằng ”đàn bà chân yếu tay mền, làm ăn chẳng được lại hay nỏ mồm” đi nữa, thánh Phaolô có muốn cấm cũng không được và cũng không dám cấm.
Linh Tiến Khải