ĐTC- kinh truyền tin 7-12-08
ĐTC Bênêđictô XVI: Không thể tìm được Niềm hy vọng chân chính ở sự giải phóng chính trị hay xã hội
Trong bài suy niệm trước Kinh Truyền Tin tại Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 7 tháng 12, 2008 vừa qua, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nói đến nguồn hy vọng mà các Kitô hữu có thể tìm thấy trong Mùa Vọng. Niềm hy vọng chân chính này đến từ Đức Kitô, là Đấng giải thoát con người, không những khỏi ách nô lệ chính trị và xã hội, mà còn tạo ra một nhân loại mới.
ĐTC giải thích rằng Mùa Vọng “vang vọng lại một sứ điệp đầy hy vọng, đồng thời mời chúng ta hướng mắt nhìn lên chân trời cuối cùng và nhận ra dấu chỉ Thiên Chúa hiện đang ở cùng chúng ta. ”
Rồi ĐTC trích dẫn sách Ngôn Sứ Isaiah, là sách công bố về cuộc giải phóng dân Israel: “Hỡi dân Ta, hãy an tâm, hãy an tâm! Hãy nói với Giêrusalem, và kêu gọi rằng: Thời nô lệ đã chấm dứt, tội lỗi đã được ân xá, Chúa đã ban ơn nhiều gấp hai lần tội lỗi.”
Trong Mùa Vọng, Chúa “nói với tâm hồn của Dân Người và với toàn thể nhân loại như thế để công bố ơn cứu độ.” Để nhận được sứ điệp này, chúng ta phải theo gương Thánh Gioan Tẩy Giả là vị nghe lời kêu gọi của Ngôn Sứ Isaiah: “Hãy dọn đường cho Chúa!”
ĐTC nói, hôm nay, Hội Thánh lên tiếng như Thánh Gioan Tẩy Giả đã làm. “Đối với dân chúng đang mệt mỏi vì đau khổ và đói khát, với những đám đông dân tỵ nạn, với những người mà quyền lợi của họ bị vi phạm cách trầm trọng và có hệ thống, Hội Thánh tự đặt mình như ngưởi lính canh trên núi cao của Đức Tin và công bố: “Đây là Thiên Chúa của anh chị em! Đây Chúa là Thiên Chúa đến với quyền năng”.
ĐTC nói rằng lời công bố tiên tri của ngôn sứ Isaiah đã được thể hiện nơi Đức Chúa Giêsu Kitô.
ĐTC giải thích, “Với lời giảng dạy cùng với cái chết và cuộc phục sinh của Người, [Đức Kitô] đã làm tròn lời hứa xưa, bằng cách tỏ bày một triển vọng sâu xa và phổ quát. Người bắt đầu một cuộc xuất hành không phải chỉ trên thế gian, trong lịch sử và tạm thời, nhưng một cuộc xuất hành tận gốc và dứt khoát: cuộc vượt qua từ thống trị của sự dữ đến vương quyền của Thiên Chúa, từ quyền năng của tội lỗi và tử thần sang tình yêu và sự sống.”
ĐTC giải thích rằng niềm hy vọng của các Kitô hữu “còn hơn cả ước mong chính đáng một cuộc giải phóng về xã hội và chính trị. Điều mà Chúa Giêsu đã bắt đầu là một nhân loại mới, một nhân loại vừa đến ‘từ Thiên Chúa’ và vừa nảy chồi trên thế gian, theo mức độ mà Thần Khí của Chúa vun trồng”.
ĐTC yêu cầu đoàn chiên của ngài hãy tin vào Thiên Chúa, vào chương trình cứu độ của Ngài, đồng thời, hãy dấn thân xây dựng Nước của Ngài.
“Thực ra, công lý và hoà bình là hồng ân của Thiên Chúa, nhưng cần có những con người là ‘đất tốt’ sẵn sàng thu lượm những hạt giống tốt của Lời Ngài.”
ĐTC tiếp: “Hoa quả đầu mùa của nhân loại mới này là Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa và con Đức Mẹ Maria. Mẹ, Đức Trinh nữ Maria, là ‘con đường’ mà chính Thiên Chúa sửa soạn để đi vào thế gian. Với tất cả lòng khiêm nhường, Đức Mẹ đã đi trước dân Israel mới trong cuộc xuất hành từ mọi cuộc lưu đày, áp bức, cùng nô lệ luân lý và vật chất, để đi đến một ‘trời mới và đất mới mà trong đó đức công chính ngự trị.”
ĐTC kết thúc bằng lời cầu nguyện: “Chúng con xin phó thác ước vọng hoà bình và cứu độ của con người thời đại chúng con cho sự bầu cử của Mẹ.” Phaolô Phạm Xuân Khôi
ĐTC Bênêđictô XVI: Đức Mẹ giúp các Kitô hữu trở thành Linh Hồn của Thế Giới
Vào chiều ngày 8 tháng 12, 2008, ĐTC Bênêđictô XVI đã đến Piazza di Spagna ở Rôma để kính viếng tượng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên tội theo truyền thống.
Tại công trường, ĐTC đã nói về chuyến tông du Đền Thờ Đức Mẹ Lộ Đức ở Pháp quốc của ngài cách đây ba tháng, nhân dịp kỷ niệm 150 năm Đức Mẹ hiện ra với Thánh Bernadetta. Ngài nói: “Từ nhiều kỷ nguyên trước những cuộc hiện ra ở Lộ Đức đã có niềm tin vào Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, nhưng những cuộc hiện ra này xảy ra như là một cách chuẩn y của Thiên Chúa, sau khi Đấng Tiền Nhiệm của cha là Á Thánh Piô IX công bố tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội vào ngày 8 tháng 12 nắm 1854.”
ĐTC nói tiếp rằng ở nơi Đức Mẹ, chúng ra nhận ra “‘nụ cười của Thiên Chúa’, một sự phản chiếu vẹn toàn ánh sáng của Thiên Chúa, trong Mẹ chúng ta tìm được niềm hy vọng mới giữa những khó khăn và thảm trạng của thế giới.” Khi giải thích về việc dâng hoa hồng cho Đức Mẹ, ĐTC nói “tất cả hoa hồng đều có gai... những gai ấy đối với chúng ta là những khó khăn, đau khổ và sự dữ đã đánh dấu và tiếp tục đánh dấu cuộc đời của từng cá nhân và cộng đoàn chúng ta. Chúng ta dâng lên Mẹ những niềm vui của mình nhưng cũng phó thác cho Mẹ những lo âu, để chắc chắn tìm được nơi Mẹ niềm an ủi mà không sờn lòng và sự nâng đỡ để tiếp tục cuộc hành trình của chúng ta.”
Sau đó ĐTC dâng cho Mẹ “‘những người bé nhỏ nhất’ trong thành phố của chúng con: đầu tiên và trên hết là các trẻ em, đặc biệt là những em đau nặng, những người thiếu may mắn, và những người đang đau khổ vì hậu quả của những hoàn cảnh khó khăn trong gia đình”, cũng như “những người già cả đang sống cô đơn,... những người di dân đang vật lộn để điều chỉnh, những gia đình đang cố gắng kiếm ăn, và những người không tìm được việc làm hay đã mất việc làm.”
ĐTC tiếp: “Lạy Mẹ, xin dạy chúng con biết tỏ tình đoàn kết với những người đang gặp khó khăn, biết nối liền sự xa cách càng ngày càng gia tăng về xã hội; xin giúp chúng con biết vun trồng một ý thức sống động hơn về công ích, và tôn trọng an sinh công cộng,… và giúp chúng con đóng góp vào việc xây dựng một x hội công bằng và đoàn kết hơn.”
“Vẻ đẹp của Mẹ bảo đảm cho chúng con rằng tình yêu có thể chiến thắng, quả thật, đó là điều chắc chắn. Vẻ đẹp ấy bảo đảm với chúng con rằng ân sủng mạnh hơn tội lỗi, và như thế việc giải thoát khỏi mọi hình thức nô lệ là điều có thể. Lạy Mẹ, xin giúp chúng con tin vào sự nhân lành một cách tín thác hơn; Mẹ khuyến khích chúng con tỉnh thức và đừng xa vào chước cám dỗ của những hình thức tránh né dễ dàng, để chúng don đương đầu với thực tế… cách can đảm và trách nhiệm.”
ĐTC kết luận, “Xin Mẹ trở nên Mẹ Mến Yêu của những người trẻ, để các em có can đảm trở thành ‘những người lính canh của ngày mai’ và ban nhân đức này cho tất cả mọi Kitô hữu để họ có thể trở thành linh hồn của thế giới trong giây phút khó khăn này của lịch sử.” Phaolô Phạm Xuân Khôi
Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ