Huấn từ của ĐTC September 14, 2014
Bài Giáo Lý của ĐTC Phanxicô về Hội Thánh: Hội Thánh dậy chúng ta biết thương xót
Phaolô Phạm Xuân Khôi 9/13/2014
“Có thể là một Kitô hữu mà không có lòng thương xót không? Không. Người Kitô hữu nhất thiết phải có lòng thương xót, bởi vì đây là trung tâm của Tin Mừng.”
Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý của ĐTC Phanxicô được ban hành ngày 10 tháng 9 năm 2014 trong buổi Triều Yết Chung tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Hôm nay ĐTC tiếp tục chu kỳ Giáo Lý mới về Hội Thánh. Ngài giải thích về việc Hội Thánh về thương xót như thế nào.
* * *
Anh chị em thân mến, chào anh chị em.
Trong cuộc hành trình giáo lý về Hội Thánh của chúng ta, chúng ta đang ngừng lại để bàn đến việc Hội Thánh là mẹ. Lần trước chúng ta đã nhấn mạnh rằng Hội Thánh làm cho chúng ta lớn lên, và với ánh sáng và sức mạnh của Lời Chúa chỉ cho chúng ta con đường cứu rỗi, cùng bảo vệ chúng ta khỏi sự dữ. Hôm nay tôi muốn nhấn mạnh đến một khía cạnh cụ thể của hoạt động giáo dục của mẹ Hội Thánh của chúng ta, đó là, Hội Thành dạy cho chúng ta các việc thương xót như thế nào.
Một nhà giáo dục tốt tập trung vào những điều thiết yếu. Không đi lạc trong các chi tiết, nhưng muốn truyền đạt điều gì thực sự quan trọng để đứa con hoặc học sinh có thể tìm thấy ý nghĩa và niềm vui của đời sống. Đó là sự thật. Đó là điều cần thiết, theo Tin Mừng, là lòng thương xót. Bản chất của Tin Mừng là lòng thương xót. Thiên Chúa đã sai Con của Ngài xuống, Thiên Chúa làm người để cứu chúng ta, nghĩa là, để ban cho chúng ta lòng thương xót của Ngài. Chúa Giêsu đã nói một cách rõ ràng qua việc tóm lược giáo huấn của Người cho các môn đệ: “Hãy thương xót, như Cha các con là Đấng hay thương xót” (Lc 6:36). Có thể là một Kitô hữu mà không có lòng thương xót không? Không. Người Kitô hữu nhất thiết phải có lòng thương xót, bởi vì đây là trung tâm của Tin Mừng. Và trung thành với giáo huấn này, Hội Thánh chỉ có thể lặp lại cùng một điều cho các con cái mình: “Hãy thương xót”, như Chúa Cha, và như Chúa Giêsu là Lòng Thương Xót.
Vì thế Hội Thánh hoạt động như Chúa Giêsu. Không dạy những bài học lý thuyết về tình yêu, về lòng thương xót. Không truyền bá trên toàn thế giới một triết lý, một con đường khôn ngoan.... Tất nhiên, Kitô giáo cũng là tất cả những điều ấy, nhưng như là kết quả, từ suy tư. Mẹ Hội Thánh, như Chúa Giêsu dạy bằng gương sáng, và các lời nói được sử dụng để làm sáng tỏ ý nghĩa của các cử chỉ của mình.
Mẹ Hội Thánh dạy chúng ta cho người đói khát ăn uống, cho người trần truồng áo mặc. Và Hội Thánh làm như thế nào? Hội Thánh làm điều ấy bằng gương sáng của nhiều vị thánh đã làm điều ấy một cách gương mẫu; Hội Thánh cũng làm điều ấy bằng gương sáng của rất nhiều người cha và người mẹ, là những người dạy cho con cái của họ rằng điều chúng ta dư thừa là dành cho những người túng thiếu. Biết điều này thật là quan trọng. Trong những gia đình Kitô giáo đơn giản nhất luôn luôn có một nguyên tắc hiếu khách thánh thiêng: không bao giờ thiếu một đĩa thức ăn và một chiếc giường cho những người cần đến chúng. Có một người mẹ, ở một giáo phận khác, đã nói với tôi rằng bà muốn dạy điều này cho các con của bà và bảo chúng giúp đỡ và cung cấp thức ăn cho những người đói khát; bà có ba đứa con. Và một hôm vào bữa trưa, khi người cha ở sở làm, bà ở với ba đứa con của bà, các cháu còn bé, khoảng 7, 5 và 4 tuổi - và có tiếng gõ cửa: có một người đàn ông xin một chút đồ ăn. Người mẹ nói với ông: “Chờ một chút.” Và bà trở lại nói với các con: “Có một người đàn ông đang xin ăn ở ngoài kia, chúng ta phải làm gì?” “Mẹ, chúng ta cho ông ấy, chúng ta cho ông ấy.” Mỗi người đều có một miếng thịt bít tết với khoai tây chiên trên đĩa của mình. “Rất tốt – bà mẹ nói – các con hãy cho ông ấy một nửa đĩa của tất cả các con, và chúng ta sẽ cho ông ấy một nửa miếng bít tết của mỗi người.” “Ồ không, mẹ, điều này không tốt.” Bà nói, “Đúng thế các con phải cho từ chính đĩa của các con.” Và thế là bà mẹ đã dạy các con bà cho người khác thức ăn từ chính đĩa của các cháu. Đây là một gương sáng đã giúp tôi rất nhiều. “Nhưng tôi không có đồ ăn thừa ...” Hãy cho từ những gì anh chị em có. Đó là điều chúng ta học từ Mẹ Hội Thánh. Và các chị em, nhiều bà mẹ đang ở đây, các chị em biết phải làm gì để dạy con cái của mình rằng chúng có thể chia sẻ mọi thứ với những người nghèo khổ.
Mẹ Hội Thánh dạy chúng ta gần gũi những người đau yếu. Có biết bao người nam nữ thánh thiện đã phục vụ Chúa Giêsu cách này! Và có biết bao người nam nữ bình thường đang thực hành việc làm thương xót này mỗi ngày trong một phòng ở bệnh viện hoặc ở viện dưỡng lão, hoặc ở nhà riêng của họ, là giúp đỡ những người bệnh tật.
Mẹ Hội Thánh dạy chúng ta gần gũi những người đang ở tù. “Nhưng thưa Cha, không được, điều này rất nguy hiểm, họ là những người xấu.” Nhưng mỗi người chúng ta đều có khả năng làm củng một điều mà những người ở tù đã làm! Tất cả chúng ta đều có khả năng phạm tội và làm cũng những điều ấy, là phạm những sai lỗi trong cuộc sống. Họ không xấu hơn anh chị em và tôi! Lòng thương xót thắng vượt mọi bức tường, rào cản, và đưa chúng ta đến việc luôn luôn tìm kiếm khuôn mặt con người. Chính lòng thương xót thay đổi tâm hồn và đời sống, có thể tái sinh một con người cùng cho phép người ấy hội nhập vào xã hội theo một phương cách mới.
Mẹ Hội Thánh dạy chúng ta gần gũi những người bị bỏ rơi và đang chết một mình. Và đó là điều Chân phước Têrêsa đã làm trên đường phố Calcutta; là điều nhiều Kitô hữu đã làm và đang làm mà không sợ cầm tay những người sắp rời bỏ thế gian này. Và ngay cả ở đây, lòng thương xót ban bình an cho những người ra đi và những người ở lại, làm cho chúng ta cảm thấy rằng Thiên Chúa vĩ đại hơn cả sự chết, và rằng việc nghỉ ngơi nơi Ngài, ngay cả cuộc chia tay cuối cùng cũng chỉ là “tạm biệt”... Chân phước Têrêsa đã hiểu điều này! Người ta nói với mẹ, “Thưa Mẹ, việc này mất thì giờ.” Đi tìm người chết trên đường phố, những người bắt đầu bị những con chuột cống ăn thịt, và mẹ đã đưa họ về nhà để họ được chết sạch sẽ, yên hàn, trong sự mơn trớn và an bình. Mẹ đã chào họ “tạm biệt,” với tất cả những điều ấy ... và rất nhiều người nam và nữ như mẹ đã làm điều ấy. Và họ đang chờ mẹ ở đó [chỉ lên trời], để mở cửa cho họ, cửa thiên đàng. Giúp người ta chết lành, trong bình an.
Anh chị em thân mến, bằng cách này Hội Thánh là một người mẹ, dạy con mình các việc làm thương xót. Hội Thánh đã học cách này từ Chúa Giêsu, học rằng điều này là điều thiết yếu cho ơn cứu rỗi. Chỉ yêu thương những người yêu thương mình thì chưa đủ. Chúa Giêsu nói rằng dân ngoại cũng làm như thế. Chỉ làm điều tốt cho những người làm tốt cho mình thì chưa đủ. Để thay đổi thế giới thành tốt hơn chúng ta phải làm điều tốt cho những người không có khả năng đền đáp chúng ta, cũng như Chúa Cha đã làm cho chúng ta, qua việc ban Chúa Giêsu cho chúng ta. Chúng ta đã trả bao nhiêu cho ơn cứu chuộc của mình? Không trả gì hết, tất cả đều nhưng không! Hãy làm việc lành mà không mong được đáp trả chút nào. Vậy, Đức Chúa Cha đã làm cho chúng ta thế nào thì chúng ta cũng phải làm như thế. Hãy làm điều lành và hãy tiến bước! Tốt đẹp biết bao khi được sống trong Hội Thánh, Mẹ Hội Thánh của chúng ta dạy chúng ta những điều mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta. Chúng ta tạ ơn Chúa, là Đấng đã ban cho chúng ta ơn có Hội Thánh là mẹ, Hội Thánh dạy chúng ta con đường thương xót, đó là con đường sống. Chúng ta tạ ơn Chúa.
http://giaoly.org/vn/
Sứ Điệp Của Đức Thánh Cha Phanxicô gửi Đại Hội Hướng Đạo Âu Châu ở Saint-Evroult-Notre-Dame-Du-Bois Nhân Dịp Gặp Gỡ 10 Năm từ 1 đến 10 Tháng 8 2014
Các con (bạn) thân mến, cha hân hoan chào mừng các con, trong khi các con đang họp nhau tại Đại Hội Hướng Đạo Âu Châu năm nay ở Pháp, để canh tân mối dây liên kết các con với Thiên Chúa, với tha nhân, và với mọi tạo vật.
Các con đã chọn đoạn Thánh Kinh trong đó hai môn đệ của Thánh Gioan Tẩy Giả hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?”(Ga 1:38) làm chủ đề, và Chúa đã bảo họ: “Hãy đến mà xem” (1:39). Để biết Chúa Giêsu, cần phải lên đường. Trên đường đi, chúng ta nhận ra rằng Thiên Chúa cho chúng ta gặp gỡ Ngài bằng nhiều cách khác nhau: trong vẻ đẹp của các tạo vật của Ngài, khi Ngài yêu thương can thiệp vào lịch sử của chúng ta, trong các mối liên hệ huynh đệ và việc phục vụ mà chúng ta làm cho những người lân cận.
Ở Rio de Janeiro cha đã đề ra ba bước quan trọng để đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu: Hãy đi; đừng sợ; để phục vụ. Nếu chúng ta chấp nhận lời mời gọi của Chúa để đi đến với Người và cảm nghiệm được tình yêu của Người, là tình yêu đổ đầy tâm hồn chúng ta với niềm vui, sau đó Người cất đi mọi sợ hãi: sợ Thiên Chúa, sợ người khác, sợ phải đối diện với những thách đố của cuộc đời. Và Người sẽ sai chúng ta đi công bố tình yêu của Người đến tận cùng trái đất, phục vụ những người lân cận của chúng ta trong những vùng ngoại vi xa xăm nhất.
Nhưng tất cả những điều này chỉ có thể xảy ra nếu chúng ta vun trồng tình bằng hữu với Chúa Giêsu, bằng cách tìm cách gặp gỡ Người nhiều hơn, đặc biệt là trong Lời của Người và trong các Bí Tích. Các Bí Tích Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể tạo thành một biến cố cứu độ duy nhất, trong đó chúng ta được nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, được chết và sống lại, trở thành những tạo vật mới, những phần tử của Hội Thánh. Biết bao nhiêu thế hệ đã mắc nợ phương pháp giáo dục của Hướng Đạo trong việc lớn lên của họ trên con đường nên thánh, thực hành các nhân đức, và đặc biệt là có tâm hồn cao thượng.
Những ngày Đại Hội của các con trùng với dịp kỷ niệm một trăm năm Thế Chiến Thứ Nhất. Cha mời gọi các con hãy cầu nguyện để sự hiệp nhất và hòa bình xảy ra ở Âu châu và trên toàn thế giới. Các con đang thực sự là những diễn viên của thế giới này chứ không chỉ những khán giả! Cha khuyến khích các con đừng sợ phải đối diện với những thách đố để bảo vệ những giá trị Kitô giáo, đặc biệt là bảo vệ sự sống, sự phát triển, nhân phẩm, cuộc chiến chống nghèo đói, và nhiều cuộc chiến khác mà chúng ta được trao cho mỗi ngày.
Và mỗi khi cuộc hành trình của các con trở nên khó khăn hơn, các con sẽ nhớ rằng các con là con cái nam nữ của Hội Thánh. Hội Thánh là Mẹ các con, Hội Thánh nâng đỡ và trông cậy vào các con! Các con được mời gọi để yêu thương và phục vụ trong niềm vui và lòng quảng đại thích hơp với tuổi thanh thiếu niên của các con. Nguyện xin Mẹ Maria đồng hành với các con bằng tình yêu của Mẹ, bây giờ và trong suốt cuộc đời các con.
Từ Vaticanô, ngày 3 tháng 7 năm 2014
Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
Bài Giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong Thánh Lễ tại quảng trường trước Cung Điện Caserta hôm thứ bảy ngày 26 Tháng 7, 2014
Chúa Giêsu nói với các thính giả của Người bằng những ngôn từ đơn sơ mà ai cũng có thể hiểu được. Tối nay cũng thế - như chúng ta vừa nghe – Người nói với chúng ta bằng những dụ ngôn ngắn liên quan đến cuộc sống hàng ngày của dân chúng thời đó. Những điểm tương đồng giữa kho tàng giấu trong ruộng và viên ngọc quý cũng như giữa hai nhân vật chính là một người lao động nghèo khổ và một thương gia giàu có. Người thương gia suốt đời đi tìm một vật quý , là điều thỏa cơn khát tìm cái đẹp của ông và ông đi khắp nơi, mà không đầu hàng, hy vọng sẽ tìm thấy điều ông đang tìm kiếm. Còn người kia, người nông dân, chưa bao giờ rời xa thửa ruộng của mình và luôn luôn tận tuỵ với công việc của ông, với việc làm thông thường mỗi ngày. Tuy nhiên, với cả hai, kết quả cuối cùng như nhau: là khám phá ra một điều gì qi báu, đối với một người là kho tàng, còn người kia là viên ngọc trai có rất đắt giá. Cả hai dụ ngôn cũng được liên kết với nhau bằng một cảm thức chung: sự ngạc nhiên và niềm vui là đã thực hiện được mọi ước muốn của mình. Sau cùng, cả hai người đều không ngần ngại bán tất cả mọi thứ để mua cho được kho báu mà họ đã tìm thấy. Qua hai dụ ngôn này Chúa Giêsu dạy chúng ta Nước Trời là gì, vì Nước Trời như thế, thì chúng ta phải làm gì để được nó.
Nước Trời là gì? Chúa Giêsu không bận tâm giải thích nó. Lời công bố của Người ngay đầu Tin Mừng: “Nước Trời đã gần”; - Hôm nay nó cũng đang gần, đang ở giữa chúng ta - nhưng chúng ta không bao giờ không thấy nó một cách trực tiếp, mà luôn luôn một cách gián tiếp, tường thuật về việc làm của một người chủ, của một vua, của mười trinh nữ ... Người thích để người nghe tự hiểu, với những dụ ngôn và những câu chuyện tương tự, mặc khải cách đặc biệt những kết quả của nó: Nước Trời có khả năng thay đổi thế giới, như nắm men trộn trong đống bột; vừa nhỏ bé vừa hèn mọn như một hạt cải, tuy nhiên sau đó sẽ trở nên lớn như một cây. Hai dụ ngôn mà chúng ta suy niệm giúp chúng ta hiểu rằng Nước Thiên Chúa đang hiện diện trong chính con người của Chúa Giêsu. Người là kho tàng được chôn giấu, Người là viên ngọc quí. Nước Thiên Chúa bao gồm cả niềm vui của người nông dân và thương gia: đã tìm thấy! Đó là niềm vui của tất cả chúng ta khi chúng ta tìm thấy sự gần gũi và sự hiện diện của Chúa Giêsu trong cuộc sống của mình. Một sự hiện diện có thể biến đổi cuộc đời chúng ta và làm cho chúng ta nhạy cảm với các nhu cầu của anh chị em mình; một sự hiện diện mời gọi chúng ta chấp nhận sự hiện diện của nhau, trong đó có sự hiện diện của các ngoại kiều và những người di cư. Đó là một sự hiện diện chào đón, một sự hiện diện vui mừng, một sự hiện diện có hiệu quả: Nước Thiên Chúa ở trong chúng ta là thế.
Anh chị em có thể thắc mắc: Làm sao để tìm được Nước Thiên Chúa? Mỗi người trong chúng ta có một con đường riêng, mỗi người trong chúng ta có cách riêng của mình trong cuộc sống. Đối với một số người, cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu phải được mong đợi, mong muốn, tìm kiếm lâu dài, như được thấy trong dụ ngôn về thương gia phải đi khắp thế gian để tìm một điều gì đó có giá trị. Đối với những người khác nó xảy ra một cách đột ngột, gần như tình cờ, như trong dụ ngôn về người nông dân. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng, bằng các nào đi nữa, thì chính Thiên Chúa để cho chúng ta tìm thấy Người, tuy nhiên, bởi vì chính Người muốn gặp chúng ta trước và cố gắng tìm gặp chúng ta: Người đã đến để là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Và Chúa Giêsu đang ở giữa chúng ta, Người ở đây hôm nay. Người nói với chúng ta: khi các con cùng nhau tụ họp nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa các con. Chúa đang ở đây, đang ở với chúng ta, và đang ở giữa chúng ta! Chính Người tìm kiếm chúng ta, và chính Người để cho những kẻ không tìm kiếm Người tìm được Người. Đôi khi Người để cho Mình được tìm thấy ở những nơi khác thường và ở những thời điểm bất ngờ. Khi anh chị em tìm thấy Chúa Giêsu mà thầy Người Người vẫn còn thu hút, chinh phục, thì đó là một niềm vui để từ bỏ cách sống thông thường của mình, đôi khi khô khan và thờ ơ, để ôm lấy Tin Mừng, để cho mình được hướng dẫn bởi luận lý mới của tình yêu và của việc phục vụ khiêm tốn và vô vị lợi. Lời của Chúa Giêsu và Tin Mừng. Tôi sẽ hỏi anh chị em một câu, nhưng tôi không muốn anh chị em trả lời: Có bao nhiêu người trong anh chị em mỗi ngày đọc một đoạn Tin Mừng? Nhưng bao nhiêu người trong anh chị em, có lẽ, cố làm công việc cho xong để không bị mất các vở kịch truyền hình... Hãy có Tin Mừng trong tay, hãy có Tin Mừng trên bàn, hãy có Tin Mừng trong túi xách, hãy có Tin Mừng trong túi và hãy mở nó ra để đọc Lời của Chúa Giêsu: Nước Thiên Chúa là như vậy. Việc tiếp xúc với Lời Chúa Giêsu đưa chúng ta lại gần hơn với Nước Thiên Chúa. Anh chị em hãy nghĩ kỹ đi: luôn luôn có sẵn trong tay một sách Tin Mừng nhỏ, mở ra vào một lúc bất ngờ và đọc những gì Chúa Giêsu nói, và Chúa Giêsu ở đó.
Phải làm gì để được Nước Thiên Chúa? Về điểm này, Chúa Giêsu nói rất rõ ràng: sự hứng thú, niềm vui vì cuộc khám phá chưa đủ. Anh chị em phải đặt viên ngọc quý của Nước Trời lên trên mọi của sự khác của thế gian; cần phải đặt Thiên Chúa lên trên hết trong cuộc sống của mình, thích Ngài hơn hết mọi sự. Đặt Thiên Chúa lên trên hết mọi sự có nghĩa là có can đảm trả lời không với sự dữ, không với bạo lực, không với sự áp bức, để sống một cuộc đời phục vụ tha nhân và đứng về phía pháp luật và công ích. Khi một người đã tìm thấy Thiên Chúa, kho tàng đích thực, người ấy từ bỏ lối sống ích kỷ và cố gắng chia sẻ với những người khác tình yêu đến từ Thiên Chúa. Ai đã trở thành một bạn hữu của Thiên Chúa, thì yêu thương anh em mình, dấn thân bảo vệ sự sống và sức khoẻ của họ trong khi tôn trọng môi trường và thiên nhiên. Tôi biết rằng anh chị em đang chịu đựng những điều này. Hôm nay, khi tôi đến đây, một trong người trong anh chị em đã đến gần tôi và nói: xin Cha cho chúng con hy vọng. Nhưng tôi không thể ban hy vọng cho anh chị em, tôi có thể cho anh chị em biết rằng ở nơi nào có Chúa Giêsu thì nơi ấy có hy vọng; nơi có Chúa Giêsu là nơi có tình yêu thương anh em, cùng dấn thân bảo vệ sự sống và sức khỏe của họ cũng như tôn trọng môi trường và thiên nhiên. Đây là niềm hy vọng không bao giờ làm chúng ta thất vọng, là ban tặng Chúa Giêsu! Điều này đặc biệt quan trọng trong vùng đất xinh đẹp của anh chị em là vùng đất cần được bảo vệ và bảo tồn, đòi hỏi anh chị em phải can đảm để trả lời không với bất kỳ hình thức tham nhũng và bất hợp pháp nào - tất cả chúng ta biết tên của các hình thức tham nhũng và bất hợp pháp ấy – đòi hỏi tất cả mọi người trở thành đầy tớ của chân lý trong mọi tình huống và đi theo cách sống của Tin Mừng, được tỏ lộ trong việc tự hiến và quan tâm đến người nghèo và những người bị bỏ rơi. Hãy chăm lo cho những người nghèo và những ngưởi bị bỏ rơi! Thánh Kinh có rất nhiều lời khuyên nhủ ấy. Chúa nói: Thầy không quan tâm đến việc các con làm điều này điều kia, nhưng quan tâm đến việc các trẻ mồ côi được chăm sóc, những người góa bụa được chăm lo, những người bị khai trừ được đón nhận, tạo vật được bảo vệ. Đó là Nước Thiên Chúa!
Hôm nay là lễ Thánh Anna, tôi thích gọi bà là bà ngoại của Chúa Giêsu, và hôm nay là một ngày tốt để mừng lễ của bà. Khi xông hương tôi đã thấy một điều rất đẹp: tượng của Thánh Anna không có vương miện, con gái của bà, Mẹ Maria, có vương miện. Và điều này rất tốt. Thánh Anna là người phụ nữ chuẩn bị cho con gái mình trở thành hoàng hậu, trở thành nữ vương trời đất. Người phụ nữ này đã làm một việc tốt đẹp! Thánh Anna, thánh quan thầy của Caserta, đã tập trung tại quảng trường này các thành phần khác nhau của cộng đoàn giáo phận với Đức Giám Mục và với sự hiện diện của chính quyền dân sự và đại diện của các thực tại xã hội khác nhau. Tôi muốn khuyến khích tất cả mọi hãy người sống ngày lễ của thánh quan thầy mà không có thành kiến, là sự diễn tả thuần khiết đức tin của một dân nhận ra gia đình của Thiên Chúa và tăng cường mối liên hệ đoàn kết huynh đệ. Thánh Anna có thể đã nghe con gái của mình là Đức Mẹ Maria công bố những lời Kinh Ngợi Khen, Đức Mẹ Maria chắc chắn đã lặp đi lặp lại nhiều lần: “Người đã hạ những kẻ quyền hành xuống khỏi vị cao, và đã nâng những người hèn mọn lên, Người đã cho những người đói khó no đầy” (Lc 1: 51-53). Bà sẽ giúp anh chị em tìm kiếm kho tàng duy nhất, là Chúa Giêsu, và dạy anh chị em khám phá ra những tiêu chuẩn của Thiên Chúa; Người đảo ngược những phán đoán của thế gian, Người đến để giải thoát những người nghèo khó và bé nhỏ cùng đổ đầy ơn phúc trên những người khiêm tốn, là những ai phó thác cuộc sống của mình cho Người. Anh chị em hãy hy vọng, và hy vọng không làm anh chị em thất vọng. Và tôi muốn nhắc lại: đừng để ai cướp mất niềm hy vọng của anh chị em!
Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
Bài Huấn Từ của ĐTC Phanxicô dành cho Giới Trẻ Abruzzo và Molise
“Nền văn hóa tạm bợ không gia tăng sự tự do của chúng ta, nhưng cướp đi khỏi chúng ta phần số thực sự của mình,… Thật đáng buồn khi đến một tuổi nào đó, nhìn lại quãng đường đời mà mình đã đi qua, và chỉ tìm thấy nhiều mảnh vụn khác nhau, không đồng nhất, không dứt khoát: tất cả đều tạm bợ ... Đừng để kẻ khác tước đoạt ước ao xây dựng những điều cao quý và vững bền trong cuộc đời các con!”
Dưới đây là bản dịch bài Huấn Từ của ĐTC Phanxicô ban hành ngày 5 tháng 7 năm 2014 trong buổi gặp gỡ giới trẻ của Giáo phận Abruzzo và Molise tại Quảng Trường Đền Thánh Castelpetroso.
* * *
Các bạn trẻ thân mến, chào các con!
Cảm ơn các con vì sự hiện diện rất đông đảo và vui vẻ của các con. Cảm ơn Đức Cha Pietro Santoro vì việc phục vụ trong mục vụ giới trẻ của ngài; và cám ơn con, Sarah, con đang đứng hàng đầu về những hy vọng và quan tâm của những người trẻ ở Abruzzo và Molise.
Các con biết rằng nhiệt tình và bầu không khí tưng bừng thường rất hay lây. Nhiệt tình hay lây. Nhưng các con có biết từ nhiệt tình này đến từ đâu không? Nó đến từ một chữ Hy Lạp có nghĩa là “có một cái gì đó của Thiên Chúa ở bên trong” hay “được ở trong Thiên Chúa.” Sự nhiệt tình, nếu lành mạnh, chứng tỏ điều này: là một người có một điều gì đó của Thiên Chúa trong mình và vui vẻ bày tỏ điều ấy. Các con mở lòng ra - cách nhiệt tình – với niềm hy vọng và khao khát sự sung mãn, khao khát làm cho tương lai của các con, cho toàn thể cuộc đời của các con, có ý nghĩa, khao khát thoáng thấy con đường phù hợp cho từng người cùng chọn con đường mang đến cho mình bình an và chu toàn sứ vụ làm người. Con đường thích hợp, chọn một con đường ... điều này có nghĩa gì? Có nghĩa là không đứng yên - một người trẻ không thể ngồi yên! - và bước đi. Nó có nghĩa là đi về phía một cái gì; bởi vì một người có thể di chuyển mà không tiến bước, nhưng “đi lang thang”, đi vòng vòng, vòng vòng, vòng vòng trong cuộc sống ... Nhưng cuộc đời không được tạo ra để “quay vòng,” nhưng được tạo ra để “đi”, và đây là thách đố của các con!
Một đàng, các con đang tìm kiếm những gì thực sự quan trọng, nhưng vững bền và dứt khoát trong thời gian, đang tìm câu trả lời có thể soi sáng tâm trí các con và sưởi ấm tâm hồn các con, không những chỉ trong không gian của một buổi sáng, hoặc một khoảng đường ngắn, nhưng mãi mãi. Ánh sáng mãi mãi ở trong tâm hồn các con, ánh sáng mãi mãi ở trong trí khôn các con, tâm hồn mãi mãi và dứt khoát được ấm áp. Đàng khác, bàn về việc sợ thất bại - đó là sự thật, những người bước đi có thể đi lạc – về việc sợ dính lứu đến nhiều điều cũng thế - các con đã nghe rất nhiều lần - về cám dỗ luôn luôn mở ra một lối thoát nhỏ, mà nếu cần thì luôn luôn có thể mở ra những cảnh trí và những cơ hội mới. Tôi đang đi theo đường hướng này, tôi chọn hướng này, nhưng tôi sẽ để cửa này mở ra, nếu tôi không thích, tôi sẽ quay lại và sẽ bỏ đi. Sự tạm bợ này không tốt; không tốt vì nó làm cho trí khôn ra tăm tối và tâm hồn ra giá lạnh.
Xã hội hiện đại và những khuôn mẫu văn hóa hiện hành của nó – chẳng hạn như nền “văn hóa tạm bợ” - không cung cấp cho chúng ta một môi trường thuận lợi cho việc hình thành những lựa chọn vững bền cho cuộc sống với những mối liên hệ vững chắc, được xây dựng trên đá tảng tình yêu và trách nhiệm, chứ không trên đống cát của cảm xúc nhất thời. Khát vọng tự chủ của cá nhân được đề cao đến mức luôn luôn đặt vấn đề với tất cả mọi sự cùng cắt đứt một cách dễ dàng những chọn lựa quan trọng và đã được suy nghĩ lâu dài, những con đường của cuộc đời đã được khởi đầu cách tự do với cam kết và sự hiến thân. Điều này nuôi dưỡng sự hời hợt trong việc gánh vác trách nhiệm, bởi vì trong tận đáy lòng chúng ta, chúng có thể vẫn được coi là điều chúng ta thể thoái thoát. Hôm nay tôi chọn điều này, ngày mai tôi chọn điều khác ... gió thổi chiều nào tôi ngả theo chiều ấy; hoặc khi tôi không còn nhiệt tình nữa, không còn ước mong nữa, tôi bắt đầu một con đường khác ... Và như thế điều ấy “biến” cuộc đời của tôi thành một mê cung. Nhưng cuộc hành trình không phải là một mê cung! Khi các con thấy mình mình đang lạc trong một mê cung, tôi đi về phía này, tôi sẽ đi về phía kia, tôi đi phía này ... hãy dừng lại! Hãy tìm một lối để thoát khỏi mê cung này; hãy tìm một lối: các con không thể thiêu huỷ cuộc đời bằng cách chạy vòng vòng.
Tuy nhiên, các bạn trẻ thân yêu, tâm hồn con người mong ước những điều cao cả, những giá trị quan trọng, những tình bằng hữu sâu xa, những mối liên hệ được củng cố, thay vì bị cắt đứt, trong những thử thách của cuộc đời. Con người khao khát yêu thương và được yêu thương. Đây là khát vọng sâu xa nhất của chúng ta: yêu thương và được yêu thương; và đó là điều chắc chắn. Nền văn hóa tạm bợ không gia tăng sự tự do của chúng ta, nhưng cướp đi khỏi chúng ta phần số thực sự của mình, phần số xác thực và đích thực nhất. Đó là một cuộc đời tan nát. Thật đáng buồn khi đến một tuổi nào đó, nhìn lại quãng đường đời mà mình đã đi qua, và chỉ tìm thấy nhiều mảnh vụn khác nhau, không đồng nhất, không dứt khoát: tất cả đều tạm bợ ... Đừng để kẻ khác tước đoạt ước ao xây dựng những điều cao quý và vững bền trong cuộc đời các con! Đó là những gì dẫn các con hướng về phía trước. Đừng hài lòng với những mục tiêu nhỏ nhen! Hãy khát khao hạnh phúc, hãy can đảm lên, can đảm ra khỏi chính mình, để sống tương lai của các con cùng với Chúa Giêsu trong sự viên mãn.
Một mình chúng ta không thể làm được điều ấy. Khi phải đương đầu với áp lực của các biến cố và thời trang, một mình chúng ta không bao giờ có thể tìm thấy con đường đúng, và nếu tìm thấy, chúng ta sẽ không có đủ sức mạnh để kiên trì, để đối phó với những thăng trầm và những trở ngại không thể lường trước được. Và ở đây Chúa Giêsu mời gọi chúng ta: “Nếu các con muốn ... hãy theo Thầy.” Người mời gọi chúng ta đồng hành với Người trên cuộc hành trình, không khai thác chúng ta, không biến chúng ta thành nô lệ, nhưng làm cho chúng ta được tự do. Trong sự tự do này Người mời gọi chúng ta đồng hành với Người trên cuộc hành trình. Chỉ có như thế. Chỉ cùng với Chúa Giêsu, nhờ cầu xin Người và đi theo Người mà chúng ta nhìn thấy rõ viễn cảnh (tương lai) và có sức mà tiếp tục. Người yêu thương chúng ta một cách rõ ràng, Người đã chọn chúng ta một cách dứt khoát, và cuối cùng Người đã ban chính Mình Người cho mỗi người chúng ta. Người là Đấng Bảo Vệ và Anh của chúng ta, và sẽ là Vị Thẩm Phán duy nhất của chúng ta. Tốt đẹp biềt bao khi có thể đương đầu với những thăng trầm của cuộc sống trong tình bằng hữu của Chúa Giêsu, có bên mình Con Người sứ điệp của Người! Người không lấy đi quyền tự chủ hoặc tự do của chúng ta; trái lại, Người thêm sức mạnh cho tình trạng mỏng giòn của chúng ta, cho phép chúng ta được tự do thật sự, tự do làm việc lành, mạnh mẽ để tiếp tục làm như vậy, có thể tha thứ và xin được tha thứ. Đó là Chúa Giêsu, Đấng đồng hành với chúng ta, Chúa là thế!
Một lời mà cha muốn lặp lại, bởi vì chúng ta thường quên rằng Thiên Chúa không biết mệt khi tha thứ. Và đó là sự thật! Tình yêu của Ngài thật cao cả, là điều luôn luôn gần gũi chúng ta. Chúng ta là những người cảm thấy mệt mỏi khi xin được tha thứ, nhưng Ngài luôn luôn tha thứ, mỗi khi chúng ta xin.
Ngài tha thứ cho chúng ta một cách dứt khoát, xóa sạch và quên đi tội lỗi của chúng ta nếu chúng ta khiêm nhường và tin tưởng quay về với Ngài. Ngài giúp chúng ta để chúng ta không thất vọng trong những khó khăn, không coi chúng là những gì không thể vượt qua được, và tin tưởng vào Ngài, rồi lại quăng lưới để bắt được mẻ cá đáng kinh ngạc và đầy tràn, các con sẽ có can đảm và hy vọng, ngay cả khi phải đương đầu với những khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế gây ra. Can đảm và hy vọng là quà tặng cho tất cả mọi người, nhưng đặc biệt phù hợp với người trẻ: can đảm và hy vọng. Tương lai chắc chắn nằm trong tay Thiên Chúa, trong bàn tay của Cha Quan Phòng. Điều này không có nghĩa là phủ nhận những khó khăn và vấn đề, nhưng nhìn chúng như tạm thời và có thể giải quyết được. Những khó khăn, những khủng hoảng, với sự giúp đỡ của Thiên Chúa và thiện chí của tất cả mọi người, có thể được khắc phục, thắng vượt và biến đổi.
Cha không muốn kết thúc mà không nói một lời về một vấn đề có ảnh hưởng đến các con, một vấn đề mà các con đang sống là tin tức: thất nghiệp. Thật đáng buồn khi thấy những người trẻ “không có – mà cũng không có.” Điều này, “không có - mà cũng không có,” nghĩa là gì? Không có học vì họ không có thể, họ không có khả năng hoặc việc làm. Và đây là thách đố mà tất cả chúng ta như một cộng đồng cần phải thắng vượt. Chúng ta phải tiếp tục thắng vượt thử thách này! Chúng ta không thể buông xuôi để đánh mất cả một thế hệ trẻ, những người không có phẩm giá cao vì việc làm! Việc làm cho chúng ta phẩm giá, và tất cả chúng ta phải cố gắng hết sức vì chúng ta không thể để mất một thế hệ trẻ. Phát triển khả năng sáng tạo của chúng ta ngõ hầu những người trẻ cảm thấy niềm vui về phẩm giá đến từ việc làm. Một thế hệ không có việc làm là một thất bại tương lai cho quốc gia và cho nhân loại. Chúng ta phải chiến đấu chống lại việc này. Và giúp nhau tìm một giải pháp, sự trợ giúp và đoàn kết. Những người trẻ thì dũng cảm, cha đã nói, những người trẻ có hy vọng và - thứ ba - những người trẻ có khả năng đoàn kết. Và từ đoàn kết này là một từ mà người ta không muốn nghe trong thế giới hôm nay. Một số người cho đó là một từ tục tữu. Không, nó không phải là một từ tục tữu, nó là một từ Kitô giáo: tiến bước cùng với anh em mình để giúp khắc phục những vấn đề. Can đảm, với hy vọng và tình đoàn kết.
Chúng ta tụ họp trước Đền Thờ Đức Mẹ Sầu Bi, được dựng lên ở nơi hai thiếu nữ của vùng đất này, Fabiana và Serafina, năm 1888, đã có một thị kiến về Mẹ Thiên Chúa khi hai cô làm việc ngoài đồng. Đức Mẹ Maria là một người Mẹ, luôn luôn giúp chúng ta khi chúng ta làm việc và khi chúng ta tìm việc làm, khi chúng ta có những ý tưởng rõ ràng và khi chúng ta đang bối rối, khi cầu nguyện bộc phát và khi tâm hồn cảm thấy khô khan: Mẹ luôn ở đó để giúp đỡ chúng ta. Đức Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ chúng ta, và Mẹ Hội Thánh. Nhiều người nam nữ, trẻ già đã quay về phía Mẹ để dâng lời cảm tạ và xin ơn. Đức Mẹ Maria dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu, và Chúa Giêsu ban cho chúng ta hòa bình. Chúng ta trông cậy vào Mẹ với lòng tin tưởng vào sự giúp đỡ của Mẹ, với lòng can đảm và hy vọng. Xin Chúa chúc lành cho mỗi người trên bước đường của các con, trên cuộc hành trình dũng cảm, hy vọng và đoàn kết của các con. Cảm ơn các con!
Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện với Đức Mẹ: Kính mừng Maria …
Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
http://giaoly.org/vn/
Tài Liệu Làm Việc của
Thượng Hội Đồng Giám Mục Ngoại Thường III
Những Thách Đố về Mục Vụ Gia Đình trong Bối Cảnh Phúc Âm Hoá
Vào Đề
Việc công bố Tin Mừng về gia đình là một phần của sứ vụ Hội Thánh, vì mặc khải của Thiên Chúa soi sáng mối liên hệ giữa một người nam và một người nữ, tình yêu của họ dành cho nhau và kết quả của mối liên hệ ấy. Trong thời đại chúng ta, một cuộc khủng hoảng rộng rãi về văn hóa, xã hội và tinh thần tạo ra một thách đố trong việc rao giảng Tin Mừng của Hội Thánh cho gia đình, là tế bào sống còn của xã hội và cộng đồng hội thánh. Việc công bố này diễn ra trong sự liên tục với cuộc họp của Thượng Hội Đồng Giám Mục về Tân Phúc Âm Hoá để Truyền Thụ Đức Tin Kitô Giáo và Năm Đức Tin, đã được Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI công bố.
Đại hội bất thường của Thượng Hội Đồng Giám Mục về chủ đề: Những Thách Đố Mục VụvềGia Đìnhtrong Bối CảnhPhúc Âm Hóa, dựa trên sự kiện là “Thánh Truyền, đến từ các Tông Đồ, được tiếp tục trong Hội Thánh với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần” (Dei Verbum [DV], 8), được triệu tập để suy nghĩ về con đường phải theo, để truyền thông cho tất cả mọi người chân lý về tình yêu vợ chồng và về gia đình, cùng trả lời nhiều thách đố của nó (x. Evangelii Gaudium [EG], 66). Gia đình là một nguồn tài nguyên vô tận và là nguồn mạch của đời sống trong sinh hoạt mục vụ của Hội Thánh. Vì vậy, nhiệm vụ chính của Hội Thánh là công bố vẻ đẹp của ơn gọi yêu thương, cũng là tiềm năng rất lớn đối với xã hội. Đối diện với sự khẩn trương này, các Giám Mục, cum et sub Petro (cùng và dưới quyền Thánh Phêrô), ngoan ngoãn lắng nghe Chúa Thánh Thần trong khi suy nghĩ về những thách đố mục vụ ngày nay.
Hội Thánh, ý thức rằng những khó khăn không xác định chân trời cuối cùng của cuộc sống gia đình, và rằng con người không những chỉ đối diện với những vấn đề mới, sẵn sàng công nhận những nỗ lực đã được thực hiện, nhất là bởi giới trẻ, để thoáng thấy một mùa xuân mới cho gia đình. Chúng ta thấy những chứng từ quan trọng theo nghĩa này trong nhiều cuộc gặp gỡ của Hội thánh, ở đó chúng diễn tả một cách rõ ràng, đặc biệt là bởi những thế hệ mới, một ước vọng canh tân gia đình. Trước ước vọng này, Hội Thánh được mời gọi để nâng đỡ và đồng hành, ở mọi mức độ, trong việc trung thành với mệnh lệnh công bố vẻ đẹp của tình yêu gia đình của Chúa. Trong những cuộc gặp gỡ với các gia đình, Đức Thánh Cha luôn luôn khuyến khích mọi người nhìn vào tương lai với niềm hy vọng, trong khi đề nghị những cách sống mà qua đó có thể bảo tồn và gia tăng tình yêu trong gia đình: xin phép, cảm ơn và xin lỗi, và không bao giờ để cho mặt trời lặn trong khi còn tranh cãi hoặc hiểu lầm, mà không có sự khiêm nhường để xin lỗi.
Từ đầu triều đại giáo hoàng của ngài, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tái xác rằng “Chúa không bao giờ ngừng tha thứ: không bao giờ! Chính chúng ta là những người mệt mỏi khi xin Ngài tha thứ.” (Kinh Truyền Tin, ngày 17 tháng 3 năm 2013). Việc nhấn mạnh đến lòng thương xót này đã có một tác động lớn ngay cả trên các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình, trong đó, khác xa tất cả các nguyên tắc luân lý, nó khẳng định và mở ra những chân trời trong đời sống Kitô hữu, bất chấp những giới hạn mà con người đã kinh nghiệm và các tội lỗi mà họ đã phạm. Lòng thương xót của Thiên Chúa mở ra một sự hoán cải thường trực và một sự tái sinh liên tục.
Phần Thứ Nhất – Việc Truyền Đạt Tin Mừng Trong Gia Đình Hôm Nay
Chương Một - Kế Hoạch Hôn Nhân và Gia Đình của Thiên Chúa
Gia đình theo ánh sáng giáo huấn Thánh Kinh
1 Sách Sáng Thế Ký trình bày người nam và người nữ được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa; trong việc chấp nhận lẫn nhau, họ nhận ra là mình được tạo dựng cho nhau (x. St 1: 24-31, 2: 4b-25). Việc truyền sinh biến người nam và người nữ thành những cộng sự viên của Thiên Chúa trong việc đón nhận và truyền lại sự sống: “Qua việc truyền lại cho con cháu của họ sự sống con người, người nam và người nữ, như vợ chồng và cha mẹ, hợp tác một cách độc đáo vào công trình của Đấng Tạo Hóa” (GLCG 372). Ngoài ra, trách nhiệm của họ nối dài với việc bảo tồn tạo vật và sự tăng trưởng của gia đình nhân loại. Trong truyền thống Thánh Kinh, triển vọng về vẻ đẹp của tình yêu con người, là phản ảnh của tình yêu Thiên Chúa, được khai triển trên hết trong sách Nhã Ca và các sách Ngôn Sứ.
2. Nền tảng của công bố của Hội Thánh về gia đình được tìm thấy trong giáo huấn và cuộc đời của Chúa Giêsu, Đấng đã sống và lớn lên trong gia đình Nazareth, đã dự tiệc cưới Cana, ở đó Người đã làm cho buổi lễ thêm phong phú bằng “dấu chỉ” đầu tiên của Người (x. Ga 2: 1-11), và tự giới thiệu Mình là Phu Quân kết hợp chặt chẽ với Hiền Thê của Người (x. Ga 3: 29). Trên thập giá, Người hiến mình vì tình yêu cho đến cùng, và trong Thân Thể Phục Sinh của Người, Người thiết lập những quan hệ mới giữa con người. Qua việc mặc khải trọn vẹn lòng thương xót của Thiên Chúa, Chúa Giêsu cho phép người nam và người nữ phục hồi “nguyên tắc” mà theo đó Thiên Chúa đã liên kết họ thành một thân một xác (x. Mt 19: 4-6), vì thế - với ân sủng của Đức Kitô, họ trở nên có khả năng yêu thương một cách chung thuỷ mãi mãi. Do đó, tiêu chuẩn tình yêu vợ chồng của Thiên Chúa, mà vợ chồng được ân sủng mời gọi đến, tìm thấy nguồn gốc của nó trong “vẻ đẹp của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa được tỏ bày trong Đức Chúa Giêsu Kitô đã chết và Phục Sinh” (EG 36), chính là trái tim của Tin Mừng.
3. Chúa Giêsu, khi mặc lấy tình yêu của con người, cũng hoàn thiện nó (x. Gaudium et Spes [GS] 49), bằng cách ban cho người nam và người nữ một cách mới để yêu thương, mà nền tảng là sự trung thành không thể thu hồi được của Thiên Chúa. Trong ánh sáng này, Thư gửi tín hữu Êphêxô đã phân biệt trong tình yêu của người nam và người nữ “mầu nhiệm cao cả”, là điều làm cho tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh được hiện diện trong thế giới này, (x. Ep 5: 31 - 32). Họ có một đặc sủng (1 Cor 7: 7) để xây dựng Hội Thánh qua tình yêu vợ chồng cùng nhiệm vụ sinh sản và giáo dục con cái của họ. Đươc kết hợp bởi mối dây bí tích bất khả phân ly, vợ chồng sống vẻ đẹp của tình yêu, của việc làm cha, làm mẹ, và phẩm giá được tham gia vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa.
Gia đình trong những tài liệu của Hội Thánh
4. Qua nhiều kỷ nguyên, Hội Thánh đã không ngừng cung cấp giáo huấn liên tục của mình về hôn nhân và gia đình. Một trong những cách diễn tả cao nhất của Huấn Quyền đã được đề ra bởi Công Đồng Vaticanô II, trong Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et Spes, trong đó dành một chương để đề cao phẩm giá của hôn nhân và gia đình (x. GS 47 - 52). Hiến Chế này định nghĩa hôn nhân như một cộng đồng của sự sống và tình yêu (x. GS 48), đặt tình yêu ở trung tâm của gia đình và đồng thời cho thấy chân lý về tình yêu này trước các hình thức khác nhau của chủ nghĩa giản lược hiện diện trong nền văn hóa hiện đại. “Tình yêu vợ chồng thật sự” (GS 49) ám chỉ món quà hiến thân cho nhau, bao gồm và tích hợp các khía cạnh tính dục và tình cảm, theo kế hoạch của Thiên Chúa (x. GS 48-49). Ngoài ra, Gaudium et Spes số 48 nhấn mạnh đến sự bén rễ của vợ chồng trong Đức Kitô: Đức Kitô là Chúa “đến gặp vợ chồng Kitô hữu qua Bí Tích Hôn Phối” và vẫn tiếp tục ở với họ. Trong việc Nhập Thể, Người mặc lấy tình yêu nhân loại, thanh lọc nó cùng dẫn nó đến sự viên mãn của Người, và ban cho cặp vợ chồng, với Thần Khí của Người, khả năng sống thấm nhuần tất cả đời sống của họ bằng đức tin, đức cậy và đức ái. Vì thế, vợ chồng coi như được thánh hiến, và qua một ân sủng đặc biệt, họ xây dựng Thân Thể Đức Kitô và thành một Hội Thánh tại gia (x. LG 11). Hội Thánh cũng thế, để hiểu đầy đủ về mầu nhiệm của mình, Hội Thánh nhìn vào gia đình Kitô hữu, là điều biểu lộ Hội Thánh một cách thực sự.
5. Tiếp theo Công Đồng Vaticanô II, Huấn Quyền Giáo Hoàng đã đào sâu giáo lý về hôn nhân và gia đình. Đặc biệt là Đức Thánh Cha Phaolô VI, qua Thông Điệp Humanae Vitae, đã nhấn mạnh đến sự liên kết mật thiết giữa tình yêu vợ chồng và việc sinh sản con cái. Thánh Gioan Phaolô II đã quan tâm đặc biệt đến gia đình qua giáo lý của ngài về tình yêu con người, Thư gửi các Gia Đình của ngài (Gratissimam Sane), và nhất là là trong Tông Huấn Familiaris Consortio. Trong các tài liệu này, Đức Thánh Cha gọi gia đình là “con đường của Hội Thánh”; ngài đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về ơn gọi yêu thương của người nam và người nữ; ngài đề ra các hướng dẫn cơ bản về một mục vụ gia đình và sự hiện diện của gia đình trong xã hội. Đặc biệt, liên quan đến tình yêu vợ chồng (x. FC 13), ngài mô tả làm sao vợ chồng qua sự yêu thương lẫn nhau của họ, nhận được hồng ân của Thần Khí của Đức Kitô và sống lời mời gọi nên thánh của họ.
6. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, trong Thông Điệp Deus Caritas Est, lại bàn đến chủ đề chân lý của tình yêu giữa người nam và người nữ, là điều chỉ được soi sáng cách trọn vẹn trong ánh sáng tình yêu của Đức Kitô chịu đóng đinh (x. DCE 2). Ngài tái khẳng định rằng “Hôn nhân dựa trên một tình yêu độc quyền và dứt khoát sẽ trở thành biểu tượng của mối liên hệ giữa Thiên Chúa và dân Ngài và sự hỗ tương giữa hai bên: cách thế mà Thiên Chúa yêu thương trở thành thước đo tình yêu của con người” (DCE 11). Hơn nữa, trong Thông Điệp Caritas in Veritate, ngài đã làm nổi bật tầm quan trọng của tình yêu như một nguyên tắc của đời sống xã hội (xem CV 44), là nơi con người học kinh nghiệm về công ích.
7. Đức Thánh Cha Phanxicô, khi bàn đến sự liên hệ giữa gia đình và đức tin, đã viết trong Thông Điệp Lumen Fidei: “Cuộc gặp gỡ Đức Kitô, việc để cho mình được lôi cuốn và hướng dẫn bởi tình yêu của Người, mở rộng chân trời cuộc đời, cung cấp cho đời sống một niềm hy vọng vững chắc là điều không làm cho nó thất vọng. Đức tin không phải là nơi trú ẩn của những kẻ nhát đảm, nhưng là điều thăng tiến cuộc đời chúng ta. Nó làm cho chúng ta nhận ra một lời mời gọi cao cả, ơn gọi yêu thương. Nó đảm bảo cho chúng ta rằng tình yêu này đáng tin cậy và đáng giá để theo đuổi, vì nó đặt nền tảng trên sự trung tín của Thiên Chúa, mạnh mẽ hơn sự mỏng dòn của chúng ta rất nhiều” (LF 53).
(còn tiếp)
Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
Phaolô Phạm Xuân Khôi
dongcongnet
September 14, 2014