Giáo Sĩ Việt Nam
Text Box: Bán nguyệt san – Số 199 – Chúa nhật 23.06.2013
Giáo sĩ: ĐỰƠC CHỌN GIỮA LOÀI NGƯỜI VÀ CHO LOÀI NGƯỜI  (x. Dt, 5.1)
www.conggiaovietnam.net                        giaosivietnam@gmail.com
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


MỤC LỤC

Giáo Dân (Lumen Gentium) …………………………………………………………………  Vatican 2

TRÁI TIM THIÊN CHÚA (NÓI CHUYỆN VỚI CÁC NỮ TU D̉NG KÍN - GIÁO PHẬN PHÚ CƯỜNG ) …………………………………………………………….  Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG

ĐƯỢC THA THỨ NHIỀU NÊN YÊU THƯƠNG NHIỀU ………    Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD.
SỰ CAO CẢ CỦA MỘT TỘI NHÂN ………………………………... Lm. Giuse Tuấn Việt, O.Carm.
TẠ ƠN HỒNG ÂN ĐỨC TIN CAO QUÍ - NGÂN KHÁNH TUYÊN THÁNH VIỆT NAM ……………………………………………………………………………. TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
TRÁCH NHIỆM LÀM NGƯỜI ………………………………………. HY. Gioan B. Phạm Minh Mẫn
MUỐN HIỂU ĐÚNG NEW EVANGELIZATION …………………. Linh mục Antôn Mai Trọng Minh
ĐÔI THOẠI NĂM ĐƯC TIN - CON NGƯỜI CÓ LINH HỒN KHÔNG ? …..LM ĐAN VINH- HHTM
Mẹ và bạn gái ………………………………...…………………………… Lm. Minh Anh chuyển ngữ
Những hỗ trợ và khó khăn gia đ́nh có thể mang lại cho linh mục trong thời gian gặp thử thách, đau ốm và yếu đuối ……………………………………..…. Lm. Micae Phaolô Trần Minh Huy, pss.
VIÊM KHỚP VÀ CALCIUM ………………………………………………….… Bác sĩ Nguyễn Ư Đức
KHAI GIẢNG LỚP GIÁO HUẤN XĂ HỘI CÔNG GIÁO DÀNH CHO CÁC BẠN TRẺ TẠI GIÁO XỨ PHÚ TRUNG ………………………………………………………………………... ĐĂNG TR̀NH

 

Text Box: Giáo Dân

 

 

 


Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II

 

Khóa V Ngày 21 tháng 11 Năm 1964

Phaolô Giám Mục

Tôi Tớ Các Tôi Tớ Thiên Chúa

Hiệp Nhất Với Các Nghị Phụ Của Thánh Công Đồng

Để Muôn Đời Ghi Nhớ

 

Hiến Chế Tín Lư Về Giáo Hội

Lumen Gentium

 

Bản dịch Việt Ngữ của Giáo Hoàng Học Viện Piô X

 

Chương IV: Giáo Dân 40*

 

30. Giáo dân trong Giáo Hội. Sau khi xác định những chức vụ của các phẩm trật, Thánh Công Đồng sẵn ḷng đề cập đến bậc sống của những Kitô hữu được gọi là giáo dân. Mặc dầu tất cả những ǵ nói về Dân Thiên Chúa đều có liên quan đến giáo dân, tu sĩ cũng như giáo sĩ, nhưng có một số điều đặc biệt thuộc về giáo dân nam nữ, v́ địa vị và sứ mệnh của họ; những điều mà hoàn cảnh đặc biệt của thời đại chúng ta đ̣i hỏi phải t́m hiểu nền tảng chung cách thấu đáo hơn. Thực thế, các chủ chăn của Dân Thánh ấy biết rơ giáo dân giúp ích rất nhiều cho toàn thể Giáo Hội. Các Ngài biết rằng Chúa Kitô không đặt các Ngài lên để một ḿnh lănh lấy tất cả sứ vụ cứu độ của Giáo Hội đối với thế giới; nhưng nhiệm vụ cao cả của các Ngài là chăn dắt tín hữu và nhận biết các phận sự và đoàn sủng nơi họ, để mọi người cùng góp phần vào công cuộc chung, tùy theo cách thức của ḿnh. V́ thế, mọi người "phải lấy bác ái mà thực hành chân lư, nhờ mọi sự hăy lớn lên trong Đấng làm đầu là Chúa Kitô; nhờ Người, toàn thân thể được phối hợp và kết tụ bằng sự liên lạc tương trợ nhau, tùy theo công dụng khả năng từng phần tử, khiến thân thể được tiến triển hầu xây dựng trong đức ái" (x. Eph 4,15-16).

31. Bản tính và sứ mạng giáo dân. Danh hiệu giáo dân ở đây được hiểu là tất cả những Kitô hữu không thuộc hàng giáo sĩ và bậc tu tŕ được Giáo Hội công nhận; nghĩa là những Kitô hữu đă được tháp nhập vào Thân Thể Chúa Kitô nhờ phép Thánh Tẩy, đă trở nên Dân Thiên Chúa, và tham dự vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương giả của Chúa Kitô theo cách thức của họ; họ là những người đang thực hiện sứ mệnh của toàn dân Kitô giáo trong Giáo Hội và trên trần gian theo phận vụ riêng của ḿnh.

Tính cách trần thế là tính cách riêng biệt và đặc thù của giáo dân. Thực vậy các phần tử trong hàng giáo sĩ dù đôi khi có thể lo những việc trần thế, hoặc hơn nữa, hành nghề giữa đời, nhưng v́ ơn kêu gọi đặc biệt, sứ mệnh chính yếu và rơ rệt của họ vẫn là sứ vụ thánh. Phần các tu sĩ, do bậc sống của họ, làm chứng cách hùng hồn và cao quí rằng người ta không thể cải tạo thế giới và cung hiến nó cho Thiên Chúa được, nếu không có tinh thần các mối phúc thật. V́ ơn gọi riêng, giáo dân có bổn phận t́m kiếm nước Thiên Chúa bằng cách làm các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ư Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và bổn phận của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đ́nh và ngoài xă hội; tất cả những điều đó như dệt thành cuộc sống của họ. Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của ḿnh; và như thế, với ḷng tin cậy mến sáng ngời, và nhất là với bằng chứng đời sống, họ tỏ lộ Chúa Kitô cho kẻ khác, v́ thế, họ có nhiệm vụ đặc biệt soi sáng và xếp đặt những thực tại trần gian có liên hệ mật thiết với họ, để chúng không ngừng phát triển và bành trướng theo Thánh Ư Chúa Kitô, hầu ca tụng Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Độ. 41*

32. Địa vị giáo dân trong ḷng Dân Thiên Chúa. Giáo Hội do Chúa thiết lập được tổ chức và điều khiển theo nhiều thể thức khác biệt rất lạ lùng. "V́ như trong một thân thể, chúng ta có nhiều chi thể, nhưng mọi chi thể không có cùng một nhiệm vụ; cũng vậy, chúng ta tuy nhiều người song là một thân thể trong Chúa Kitô, nên mỗi người chúng ta là chi thể lẫn nhau" (Rm 12,4-5).

Thế nên chỉ có một Dân Thiên Chúa được Ngài tuyển chọn: "chỉ có một Thiên Chúa, một đức tin, một Thánh Tẩy" (Eph 4,5), cùng chung một phẩm giá của những chi thể v́ đă được tái sinh trong Chúa Kitô, cùng một ân huệ được làm con cái, một ơn gọi trở nên trọn lành, một ơn cứu độ và một niềm hy vọng duy nhất và một đức ái không phân chia. V́ thế, trong Chúa Kitô và trong Giáo Hội, không c̣n có sự hơn kém v́ nguồn gốc hay dân tộc, v́ địa vị xă hội hoặc v́ nam nữ, bởi lẽ "không c̣n là người Do Thái hoặc Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ, v́ anh em hết thảy đều là một trong Chúa Giêsu Kitô" (Gal 3,38, bản Hy Lạp; x. Col 3,11).

V́ thế, tuy trong Giáo Hội, tất cả không cùng đi một đường, nhưng tất cả vẫn cùng được mời gọi nên thánh, và đồng thừa hưởng đức tin trong sự công chính của Thiên Chúa (x. 2P 1,1). Mặc dù theo ư Chúa Kitô, có những người được chọn làm tiến sĩ, làm người phân phát các nhiệm tích hay chủ chăn lo cho kẻ khác, nhưng giữa tất cả mọi người vẫn có sự b́nh đẳng thực sự, b́nh đẳng về phương diện phẩm giá và hoạt động chung của mọi tín hữu để xây dựng thân thể Chúa Kitô. Thực vậy, nếu Chúa phân biệt những thừa tác viên có chức thánh với các thành phần khác của Dân Thiên Chúa th́ sự phân chia này vẫn hàm chứa một sự hiệp nhất, v́ chủ chăn và các tín hữu khác liên kết với nhau do những mối dây liên hệ chung. Các chủ chăn trong Giáo Hội noi gương Chúa phải phục vụ lẫn nhau và phục vụ các tín hữu khác; phần các tín hữu phải sẵn ḷng hợp tác với các chủ chăn và những người giảng dạy. Như thế, tuy khác biệt nhau, nhưng tất cả đều làm chứng sự duy nhất kỳ diệu trong Thân Thể Chúa Kitô. Thực vậy, chính sự khác biệt về ân huệ, chức vụ và hoạt động lại là mối dây kết hợp con cái Thiên Chúa làm một, v́ "mọi sự ấy là công tŕnh của cùng một Thánh Thần duy nhất" (1Cor 12,11).

V́ thế, nhờ ḷng ưu ái của Thiên Chúa, giáo dân được làm em Chúa Kitô, Đấng đă đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ, dù Người là Chúa tể muôn loài (x. Mt 20,28). Cũng vậy, họ làm em những người đă lănh nhận chức vụ thánh, những kẻ đang lấy quyền Chúa Kitô mà giảng dạy, thánh hóa và cai quản để chăn dắt gia đ́nh Chúa, hầu mọi người chu toàn giới luật mới là luật bác ái. Thánh Augustinô đă dùng những lời tuyệt diệu này để nói lên điều đó: "Làm Giám Mục cho anh em, tôi rất sợ; là tín hữu với anh em, tôi rất an tâm. Giám Mục là một chức vụ, tín hữu là một ân phúc. Giám Mục là một danh hiệu nguy hiểm, tín hữu là danh hiệu đem ơn cứu độ" 1. 42*

33. Tông đồ giáo dân. Giáo hữu được qui tụ trong Dân Thiên Chúa và cấu tạo thành Thân Thể duy nhất của Chúa Kitô dưới quyền của một Đầu duy nhất; dù họ là ai, họ vẫn được kêu gọi dùng hết sức lực đă lănh nhận do ḷng từ ái của Đấng Tạo Hóa và do ân huệ Đấng Cứu Thế để như những chi thể sống động, phát triển và thánh hóa Giáo Hội không ngừng.

V́ thế, giáo dân làm tông đồ là thông phần vào chính sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội; nhờ lănh nhận phép Thánh Tẩy và Thêm Sức, mỗi tín hữu đều được Chúa đề cử làm tông đồ; đàng khác các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, thông ban và nuôi dưỡng trong họ đức ái đối với Thiên Chúa và đối với loài người, nhân đức này là linh hồn của mọi hoạt động tông đồ. Nhưng giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội hiện diện và hoạt động nơi và trong những hoàn cảnh mà nếu không có họ, th́ Giáo Hội sẽ không trở thành muối của thế gian 2. Như thế, v́ những ân huệ đă lănh nhận, mọi giáo dân vừa là chứng nhân vừa là dụng cụ sống động cho chính sứ mệnh Giáo Hội, "tùy theo độ lượng ân sủng Chúa Kitô ban cho" (Eph 4,7).

Ngoài việc tông đồ này, một việc có liên quan đến mọi Kitô hữu không trừ ai, giáo dân có thể c̣n được mời gọi góp phần trực tiếp hơn và bằng nhiều cách vào công cuộc tông đồ của hàng giáo phẩm 3, giống như những tín hữu nam nữ đă chịu vất vả v́ Chúa Kitô để giúp đỡ Tông đồ Phaolô rao giảng Phúc Âm (x. Ph 4,3; Rm 16,3tt). Đàng khác, họ có những khả năng mà Hàng Giáo Phẩm có thể dùng vào một số phận vụ thuộc hàng giáo sĩ có mục đích thiêng liêng.

Bởi vậy, nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ư định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng lan tới tất cả mọi người ở mọi nơi và mọi thời đại. V́ thế, khắp nơi phải mở đường cho họ tích cực tham gia vào công cuộc cứu độ của Giáo Hội, tùy sức lực họ và tùy nhu cầu của thời đại. 43*

34. Nhiệm vụ tư tế và phụng tự. 44* Chúa Giêsu Kitô, Linh Mục thượng phẩm và vĩnh cửu, v́ cũng muốn giáo dân tiếp tục công việc chứng tá và việc phục vụ của ḿnh, nên đă nhờ Thánh Thần ban cho họ sự sống, và không ngừng thôi thúc họ thực hành những điều thiện hảo.

Thực vậy, những kẻ mà Người đă cho tham dự mật thiết vào sự sống và sứ mệnh Người, Người cũng cho họ dự phần vào chức vụ tư tế, để họ thực hành việc phụng thờ thiêng liêng hầu tôn vinh Thiên Chúa và cứu rồi loài người. Bởi thế, v́ giáo dân đă được hiến dâng cho Chúa Kitô và được Thánh Thần xức dầu, nên họ được mời gọi và được ban ơn cách lạ lùng để Thánh Thần sinh hoa trái nơi họ ngày càng phong phú hơn. Thực vậy, mọi hoạt động, kinh nguyện và công cuộc tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đ́nh, công ăn việc làm thường ngày, việc nghỉ ngơi thể xác và tinh thần, nếu họ chu toàn trong Thánh Thần, và cả đến những thử thách của cuộc sống, nếu họ kiên tŕ đón nhận, th́ tất cả đều trở nên của lễ thiêng liêng đẹp ḷng Thiên Chúa, nhờ Chúa Giêsu Kitô (x. 1P 2,5), v́ những của lễ ấy được thành kính dâng lên Chúa Cha cùng với Ḿnh Thánh Chúa khi cử hành lễ tạ ơn. Như thế, giáo dân cung hiến thế giới này cho Thiên Chúa nhờ biết phụng thờ Ngài bằng hành động thánh thiện khắp nơi. 45*

35. Nhiệm vụ ngôn sứ và chứng nhân. Chúa Kitô, vị Tiên Tri cao cả, Đấng đă dùng chứng tá đời sống và sức mạnh của lời nói để công bố Nước Chúa Cha; Người chu toàn chức vụ tiên tri, cho đến lúc sự vinh hiển của Người tỏ ra trọn vẹn; Người chu toàn chức vụ đó không những nhờ hàng giáo phẩm, là những người nhân danh và lấy quyền Người mà giảng dạy nhưng cũng nhờ các giáo dân; sở dĩ Người đă đặt họ làm chứng nhân, đồng thời ban cho họ cảm thức đức tin và ơn dùng ngôn từ nữa (x. CvTđ 2,17-18; Kh 19,10) là để sức mạnh Phúc Âm sáng ngời trong đời sống thường ngày, trong gia đ́nh và ngoài xă hội. Nếu giáo dân vững ḷng tin cậy mà lợi dụng thời gian hiện tại (x. Eph 5,16; Col 4,5) và kiên tŕ trông đợi vinh quang một ngày kia sẽ đến (x. Rm 8,25), họ sẽ tỏ ra là con cái của lời giao ước; nhưng niềm hy vọng đó, họ không nên giấu kín trong ḷng, trái lại họ phải diễn tả nó qua những cơ cấu của cuộc sống trần gian, bằng cách hoán cải không ngừng và chiến đấu chống lại "bá chủ của thế gian tăm tối này và bọn tà thần" (Eph 6,12).

Như những bí tích của luật mới, là của ăn nuôi dưỡng đời sống và hoạt động tông đồ của tín hữu, tiên báo trời mới và đất mới thế nào (x. Kh 21,1), th́ giáo dân cũng mạnh mẽ loan báo ḷng tin vào điều ḿnh trông đợi như thế (x. Dth 11,1), nếu họ không ngần ngại nối kết đời sống đức tin với việc tuyên xưng đức tin làm một. Công cuộc rao giảng Phúc Âm đó, nghĩa là sự loan báo Chúa Kitô bằng đời sống, chứng tá và lời nói, mang một sắc thái và hiệu quả đặc biệt v́ được thể hiện trong những hoàn cảnh chung của trần gian.

Có một bậc sống rất giá trị để thể hiện nhiệm vụ đó, bậc sống được một bí tích đặc biệt thánh hóa, đó là đời sống hôn nhân và gia đ́nh. Gia đ́nh là môi trường hoạt động và trường học tuyệt diệu cho việc tông đồ giáo dân. Từ gia đ́nh, Kitô giáo thấm nhập vào tất cả các tổ chức cuộc sống và dần dần biến đổi các tổ chức ấy; nơi gia đ́nh, vợ chồng t́m thấy ơn gọi riêng của ḿnh là làm chứng cho nhau và cho con cái ḷng tin và t́nh yêu Chúa Kitô. Gia đ́nh Kitô giáo lớn tiếng loan truyền sức mạnh của nước Thiên Chúa và niềm cậy trông vào một đời sống hạnh phúc. Như thế bằng gương lành và chứng tá, gia đ́nh Kitô giáo làm cho thế gian nhận biết tội lỗi ḿnh, đồng thời sáng soi những kẻ đang kiếm t́m chân lư.

V́ thế, giáo dân có thể và phải có một hoạt động cao quí là truyền bá Phúc Âm cho thế giới, cả lúc họ bận tâm lo lắng những việc trần thế. Dù khi thiếu thừa tác viên có chức thánh hoặc khi các ngài bị ngăn trở v́ bách hại, có những giáo dân thay thế các ngài thi hành một vài phận vụ thánh tùy khả năng của họ; dù có một số giáo dân đă dốc toàn lực vào việc tông đồ, tất cả vẫn phải cộng tác vào việc mở mang và phát triển Nước Chúa Kitô trên trần gian. V́ vậy giáo dân phải khéo léo t́m hiểu sâu xa hơn chân lư Chúa mạc khải, và tha thiết nài xin Thiên Chúa ban ơn khôn ngoan cho ḿnh. 46*

36. Địa vị vương giả. Chúa Kitô đă vâng lời cho đến chết, và v́ thế Người được Chúa Cha tôn vinh (x. Ph 2,8-9), và đă vào trong vinh quang nước Người. Mọi vật đều suy phục Người, cho đến khi Người cùng với mọi tạo vật suy phục Chúa Cha, để Thiên Chúa nên tất cả mọi sự (x. 1Cor 15,27-28). Người cũng thông ban cho các môn đệ quyền bính đó để họ được hưởng sự tự do vương giả, và chiến thắng ách thống trị của tội lỗi nơi họ, bằng một đời sống từ bỏ và thánh thiện (x. Rm 6,12), hơn nữa để, khi phụng sự Chúa Kitô nơi tha nhân, họ khiêm nhường và kiên nhẫn dẫn đưa anh em ḿnh đến cùng Đức Vua, Đấng mà phụng sự Người là thống trị. Thực thế, Chúa cũng muốn nhờ cả giáo dân để mở rộng nước Người, nước của chân lư và sự sống, của ân sủng và thánh thiện, của công lư, t́nh yêu và ḥa b́nh 4; trong nước này, chính tạo vật cũng được hưởng tự do rạng ngời của con cái Thiên Chúa (x. Rm 8,21). Lời Chúa hứa thật trọng đại và lệnh Người truyền cho các môn đệ thật lớn lao: "Thực vậy, tất cả mọi sự đều thuộc về anh em, c̣n anh em thuộc về Chúa Kitô và Chúa Kitô thuộc về Thiên Chúa" (1Cor 3,23).

V́ thế, tín hữu phải nhận biết bản tính sâu xa của tạo vật, giá trị của chúng, và cùng đích của chúng là ca tụng Thiên Chúa; đồng thời phải giúp nhau sống đời thánh thiện, nhờ những việc trần thế, để thế gian thấm nhuần tinh thần Chúa Kitô và đạt đến cùng đích một cách hữu hiệu hơn trong công lư, bác ái và ḥa b́nh. Giáo dân giữ lấy vai tṛ chính yếu trong khi chu toàn nhiệm vụ phổ quát đó. Nhờ khả năng chuyên môn trong những việc trần thế, nhờ các hoạt động của họ, những hoạt động được ân sủng Chúa Kitô nâng lên bậc siêu nhiên, giáo dân hăy đem toàn lực hợp tác để nhờ lao công con người, kỹ thuật và văn hóa nhân loại khai thác những của cải được tạo dựng hầu mưu ích cho mọi người và phân chia cân xứng hơn giữa họ theo ư định của Đấng Tạo Hóa và sự soi sáng của Ngôi Lời Ngài; và tùy cách thức riêng của chúng, chúng giúp phát triển toàn diện sự tự do của con người và sự tự do của Kitô hữu. Như thế, nhờ các phần tử của Giáo Hội, Chúa Kitô sẽ đem ánh sáng cứu độ của Người chiếu soi toàn thể nhân loại mỗi ngày một hơn.

Đàng khác, khi các thể chế và cảnh sống của thế giới gây nên dịp tội, giáo dân phải góp sức làm cho các thể chế và cảnh sống đó trở nên lành mạnh, để chúng phù hợp với các tiêu chuẩn của đức công b́nh, và giúp phát huy việc luyện tập các nhân đức hơn là ngăn trở chúng. Hành động như thế, giáo dân sẽ làm cho những giá trị luân lư thấm nhập vào văn hóa và các công tŕnh của loài người. Và nhờ vậy, cánh đồng thế giới mới được chuẩn bị kỹ càng hơn để đón nhận hạt giống Lời Thiên Chúa, và nhiều cửa được mở rộng thêm hơn cho Giáo Hội để sứ điệp ḥa b́nh thấm nhập vào thế gian.

Chính công cuộc cứu độ đ̣i hỏi tín hữu phải lưu tâm phân biệt đâu là quyền lợi và nghĩa vụ của họ với tư cách một phần tử của Giáo Hội, đâu là quyền lợi và nghĩa vụ với tư cách một phần tử trong xă hội loài người. Họ phải cố gắng ḥa hợp cả hai loại nghĩa vụ và bổn phận đó với nhau, và hăy nhớ rằng trong mọi lănh vực trần thế, lương tâm Kitô giáo phải luôn hướng dẫn họ, v́ không một hoạt động nào của con người, dù thuộc phạm vi trần thế, có thể vượt khỏi quyền thống trị của Thiên Chúa. V́ thế, trong thời đại chúng ta, hơn bao giờ hết, người tín hữu cũng phải làm sáng tỏ sự phân biệt và ḥa hợp các nghĩa vụ và bổn phận này trong phương thức hành động của họ, để sứ mệnh của Giáo Hội có thể đáp ứng những hoàn cảnh đặc biệt của thế giới ngày nay cách trọn vẹn hơn. Thực vậy, nếu phải công nhận rằng xă hội trần gian, v́ lo lắng việc trần thế cách hợp pháp nên có quyền điều hành theo những qui tắc riêng biệt, th́ cũng phải loại bỏ cách chính đáng tà thuyến chủ trương xây dựng xă hội bất cần đạo lư, và chủ trương chống lại hay hủy diệt tự do tín ngưỡng của người công dân 5. 47*

37. Tương quan với hàng giáo phẩm. Như mọi Kitô hữu khác, giáo dân cũng có quyền được các chủ chăn có chức thánh ban phát dồi dào ơn trợ lực chứa đựng trong kho tàng thiêng liêng của Giáo Hội, đặc biệt là Lời Thiên Chúa và các bí tích 6. Như con cái Thiên Chúa và như anh em trong Chúa Kitô, họ cũng sẽ tŕnh bày với các vị ấy những nhu cầu và khát vọng của ḿnh một cách tự do và tín cẩn. Nhờ sự hiểu biết, khả năng chuyên môn và uy tín của họ, họ có thể và đôi khi c̣n có bổn phận phải bày tỏ cảm nghĩ ḿnh về những việc liên quan đến lợi ích của Giáo Hội 7. Họ nên thực hiện điều đó, nếu cần, nhờ vào các cơ quan đă được Giáo Hội thiết lập nhằm mục đích ấy; và họ hăy luôn chân thành, can đảm và khôn ngoan, kính trọng và yêu mến những người thay mặt Chúa Kitô v́ nhiệm vụ thánh của các ngài.

Như mọi tín hữu khác, với tinh thần vâng lời của người Kitô hữu, giáo dân cũng hăy mau mắn chấp nhận những điều mà các chủ chăn có nhiệm vụ thánh đại diện Chúa Kitô, đă quyết định với tư cách những thầy dạy và những nhà lănh đạo trong Giáo Hội; làm như thế, họ đă theo gương Chúa Kitô, Đấng đă vâng lời cho đến chết, để mở đường hạnh phúc của sự tự do con cái Thiên Chúa cho tất cả mọi người. Giáo dân đừng quên dùng lời cầu nguyện phó dâng cho Thiên Chúa các vị lănh đạo của ḿnh, để các ngài hoan hỷ mà không than văn thi hành nhiệm vụ chăm sóc linh hồn chúng ta, nhiệm vụ mà các ngài sẽ phải trả lẽ (x. Dth 13,17).

Phần các chủ chăn có chức thánh, các ngài phải nh́n nhận và nâng cao phẩm giá và trách nhiệm của giáo dân trong Giáo Hội, các ngài nên sẵn sàng chấp nhận những ư kiến khôn ngoan của họ, tin cẩn giao phó cho họ những công tác để họ phục vụ Giáo Hội, cho họ tự do và quyền hạn để hành động; hơn nữa, các ngài cũng nên khuyến khích họ tự đảm lấy trách nhiệm. Với t́nh cha con, các ngài hăy cẩn thận xem xét, trong Chúa Kitô, những kế hoạch, thỉnh cầu và khát vọng của họ 8. Đàng khác, các chủ chăn phải nh́n nhận và tôn trọng sự tự do chính đáng của mọi người trong lănh vực trần thế.

Họ hy vọng rằng, sự liên lạc mật thiết giữa giáo dân và chủ chăn sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho Giáo Hội: thực vậy, nhờ sự liên lạc đó, giáo dân ư thức trách nhiệm ḿnh một cách vững vàng hơn; ḷng hăng say của họ được phát triển, và họ góp sức dễ dàng hơn vào công việc của các chủ chăn. Phần các chủ chăn, nhờ sự trợ lực kinh nghiệm của giáo dân, các ngài có thể phán đoán minh bạch và đúng đắn hơn về những vấn đề thiêng liêng cũng như trần thế; như vậy, toàn thể Giáo Hội được vững mạnh nhờ tất cả mọi chi thể, sẽ chu toàn hữu hiệu hơn sứ mệnh ḿnh đối với sự sống của thế gian. 48*

38. Giáo dân, linh hồn của thế giới. Trước mặt nhân loại, mỗi giáo dân phải là chứng nhân của sự phục sinh và sự sống của Chúa Giêsu, đồng thời là dấu hiệu của Thiên Chúa hằng sống. Tất cả và mỗi người góp phần nuôi dưỡng thế giới bằng những hoa trái thiêng liêng (x. Gal 5,22) và truyền bá cho thế gian tinh thần của những người nghèo khó, hiền lành và hiếu ḥa, những người mà Phúc Âm Chúa đă tuyên bố là có phúc (x. Mt 5,3-9). Tóm lại, "người Kitô hữu hăy làm cho thế giới sống như linh hồn làm cho thân xác sống" 9. 49*

 


Chú Thích:

40* Vị trí và cơ cấu của chương này cho ta thấy tầm quan trọng của nó. Lần đầu tiên trong lịch sử, Công Đồng bàn nguyên một chương đặc biệt về giáo dân, và ở đây mới chỉ nhằm tới nền tảng thần học về cơ cấu Giáo Hội dưới khía cạnh ơn gọi của giáo dân. Những khía cạnh thực tiễn như về những h́nh thức tổ chức chẳng hạn, sẽ được đề cập trong sắc lệnh đặc biệt về Tông Đồ Giáo Dân. Và những vấn đề trọng đại nói lên mối tương quan giữa Giáo Hội và các giá trị trần thế, sẽ được nghiên cứu tỉ mỉ trong Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay.

Từ những cuộc tranh luận trong Công Đồng và từ chính những nghị định, chúng ta có thể kết luận rằng, giáo dân không chỉ được định nghĩa một cách đơn giản như không phải là giáo sĩ, nhưng trước hết phải được công nhận là thuộc về Dân Chúa. Do đó, chúng ta sẽ nghiên cứu chương này dựa trên chương II, bởi v́ những đặc điểm của giáo dân mô tả ở đây, có liên quan phần lớn tới phần tử Dân Chúa. (Xem tiếp các chú thích 41* - 49*).

41* Công Đồng bắt đầu bằng số 31 để trả lời cho câu hỏi đă được đặt ra: giáo dân là ǵ trong viễn tượng một khoa thần học về Giáo Hội? Công Đồng đưa ra ánh sáng những yếu tố tích cực biểu thị đặc tính của giáo dân, và yếu tố chính là tính cách trần thế, nghĩa là người đảm nhận qui hướng về Thiên Chúa những sự việc trần thế mà họ dấn thân. Vậy những đặc điểm của một giáo dân là:

- Sống giữa mọi người và trong xă hội nhờ dây liên lạc gia đ́nh và nghề nghiệp.

- Thánh hóa trần gian như men bột qua việc minh chứng bằng đời sống trong khi thi hành nhiệm vụ riêng biệt trong nghề nghiệp của ḿnh.

- Trách vụ làm cho những thực tại trần thế biết ca tụng Đấng Sáng Tạo và Cứu Thế, những thực tại mà họ được nối kết chặt chẽ như Chúa Kitô muốn.

Đó là t́nh trạng tạo nên một giáo dân, khiến họ có thể là chứng nhân tông đồ đích thực giữa trần gian.

1 T. Augustinô, Serm. 340 : PL 38, 1483.

42* Số 32 tŕnh bày ư tưởng giáo dân là phần tử Dân Chúa có địa vị là con cái Chúa, được mời gọi nên thánh và lănh nhận ơn Chúa. Về vấn đề này Công Đồng quả quyết hai điểm:

- Phép Thánh Tẩy ban cho mọi người lănh nhận sự b́nh đẳng căn bản.

- Mọi người phải liên kết với nhau: mục tử không những là thủ lănh nhưng c̣n là người phục vụ Dân Chúa.

2 Xem Piô XI, Tđ. Quadragesimo anno, 15-5-1931 : AAS 23 (1931), trg 212t. Piô XII, diễn từ De quelle consolation, 14-10-1951 : AAS 43 (1951), trg 790t.

3 Xem Piô XII, diễn từ Six ans se sont écoulés, 5-10-1957 : AAS 49 (1957), trg 927.

43* Số 33: Tiếp theo đó, Công Đồng tuyên bố hoạt động tông đồ giáo dân tham dự vào sứ mệnh cứu rỗi của Giáo Hội v́ đặt nền tảng trong phép Thánh Tẩy và phép Thêm Sức. Tính cách đặc biệt của tông đồ giáo dân là làm cho Giáo Hội hiên diện và hoạt động trong mọi hoàn cảnh của thế giới. Vả lại, giáo dân vẫn có thể cộng tác chặt chẽ với hàng giáo phẩm trong việc tông đồ của giáo sĩ đích danh. Sắc Lệnh về Tông Đồ Giáo Dân sẽ lặp lại và quảng diễn ư tưởng đó.

44* Trong các số 34-36, căn cứ vào ba tước hiệu căn bản của Chúa Kitô, Công Đồng muốn chứng minh cách thức đặc biệt mà giáo dân, với tước hiệu là phần tử Dân Chúa, được tham dự vào các nhiệm vụ khác nhau đó.

45* Số 34: Tư tế.

Tham dự vào chức tư tế cộng đồng. Đoạn này lặp lại các số 10 và 11 về chức tư tế cộng đồng của người đă chịu phép Thánh Tẩy và được thực thi trong việc phụng tự: chức tư tế đó diễn tả và thánh hóa đời sống thường nhật của giáo dân và nhờ đó mà giáo dân thánh hóa thế gian.

46* Số 35: Tiên Tri.

Tham dự vào sứ mệnh tiên tri của Chúa Kitô: giáo dân minh chứng đức tin và đức ái trong thế giới nghề nghiệp và kỹ thuật, trong những điều kiện thông thường mà họ sinh sống; đặc biệt làm chứng trong tổ ấm và gia đ́nh công giáo, nơi đă được bí tích Hôn Nhân thánh hóa và thánh hiến.

4 Sách lễ Roma, trích kinh Tiền Tụng lễ Kitô Vua.

5 Xem Leô XIII, Tđ. Immortale Dei, 1-11-1885 : ASS 18 (1885), trg 166tt. N.t., Tđ. Sapientiae christianae, 10-1-1890 : ASS 22 (1888-90), trg 397tt. Piô XII, diễn từ Alla vostra filiae, 23-3-1958: AAS 50 (1958), trg 220: "tính cách thế tục hợp pháp và lành mạnh của quốc gia".

47* Số 36: Vương giả. Tham dự vào chức vị vương giả của Chúa Kitô: ở đây bàn về sự kiện giáo dân thánh hóa thế gian, v́ họ đem sở trường tham gia vào công cuộc t́m kiếm và xây dựng trần thế: vai tṛ đó làm họ thích hợp với việc tán trợ công cuộc chuẩn bị cho Phúc Âm (x. số 16) qua những giá trị nhân bản.

6 Xem Giáo luật kh. 682.

7 Xem Piô XII, diễn từ De quelle consolation, n.v.t., trg 789: "Trong những trận chiến dứt khoát, đôi khi những kẻ ở tiền tuyến lại có những sáng kiến tốt đẹp nhất...". n.t., diễn từ L'importance de la presse cathol., 17-2-1950: AAS 42 (1950), trg 256.

8 Xem 1Th 5,19 và 1Gio 4,1.

48* Số 37 đưa ra nguyên tắc tốt đẹp giữa giáo dân và hàng giáo phẩm. Giáo dân phải theo tinh thần Kitô giáo mà trọng kính tuân phục giáo phẩm, và giáo phẩm cũng phải biết thẳng thắn tiếp nhận giáo dân, biết lấy tinh thần kính trọng và bác ái mà lắng nghe họ, biết thừa nhận và đề cao địa vị và trách nhiệm của họ trong Giáo Hội. Giáo Hội cũng phải tôn trọng sự tự do chính đáng của họ trong nước trần gian.

9 Epist. ad Diognetum, 6 :x.b. Funk I, trg 400. - Xem T. Gioan Kim Khẩu, in Mt bài giảng 46 (47), 2: PG 58, 478, về men trong bột.

49* Để kết luận, số 38 quả quyết mỗi giáo dân tùy theo cảnh huống của ḿnh phải là chứng nhân của Phục Sinh và là dấu hiệu của Thiên Chúa hằng sống.

 

VỀ MỤC LỤCText Box: TRÁI TIM THIÊN CHÚA (GIÁO PHẬN PHÚ CƯỜNG - NÓI CHUYỆN VỚI CÁC NỮ TU D̉NG KÍN)

 

Tin Mừng theo thánh Gioan đă từng ghi nhận h́nh ảnh lưỡi đ̣ng đâm thấu Trái Tim Chúa Giêsu: “Một người lính lấy giáo ĐÂM CẠNH SƯỜN NGƯỜI. Tức th́, MÁU CÙNG NƯỚC CHẢY RA. Người xem thấy việc này đă làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết ḿnh nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin” (Ga 19, 34-35).

Thiên Chúa có một Trái Tim. Nơi Rất Thánh Trái Tim Chúa Giêsu, Trái Tim Thiên Chúa đă thổn thức, đă bị xâu xé, đă tổn thương, đă đớn đau v́ tội lỗi trần thế. Nơi Rất Thánh Trái Tim Chúa Giêsu, một Trái Tim thể lư bằng thịt mềm, đă lột tả đến cao độ, đến vô cùng, khối t́nh và sự hiến dâng chính ḿnh của Thiên Chúa v́ cả trần thế và từng con người nơi trần thế.

Thiên Chúa đă để Con của Người chết cho loài người sống. Thiên Chúa đă tự nguyện hiến dâng ḿnh cho loài người bằng chính sự đau đớn của Người nơi Trái Tim đă thương tích của Chúa Giêsu.

I. TRÁI TIM THIÊN CHÚA:

1. Một trái tim yêu lạ thường.

Đó là một trái tim bốc lửa yêu thương. Yêu đến vô cùng. Yêu đến quên ḿnh. Yêu đến cạn kiệt tấm thân. Yêu đến hiến tế chính ḿnh. Chúa Giêsu diễn tả t́nh yêu cao độ ấy, một t́nh yêu ngút ngàn, một t́nh yêu vô biên vô cương bằng một câu đơn sơ nhưng thấm thía: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một, để ai tin vào Con của Người th́ khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).

“Yêu đến nỗi…” “đă ban”, là một t́nh yêu hết mức. Chẳng hạn, một lần nào, ta chạm phải nỗi đau. Để diễn tả sự đau đớn trong ta là vô cùng, ta thốt lên, “tôi đau đến nỗi…”. Cũng vậy, động từ “yêu đến nỗi…” nơi Thiên Chúa, là động từ mạnh mẽ, khắc ghi sâu thẳm, cưu mang và trao ban đến không c̣n ǵ giữ lại cho ḿnh.

Thiên Chúa yêu chúng ta bằng một t́nh yêu mà muôn đời chúng ta không thể hiểu nỗi. Người yêu đến nỗi hiến ḿnh nơi Con của Người v́ ta. Người thổn thức v́ Trái Tim người ắp đầy h́nh bóng từng người chúng ta. Một Trái Tim chất chứa một t́nh yêu lớn lao đến mức, không bao giờ loại trừ bất cứ cá nhân nào, mà chỉ luôn luôn đón nhận, chỉ một ḷng mong muốn được loài người đón nhận, dù loài người đầy bội phản, đầy tội lỗi và tội ác, không ngừng xúc phạm đến Người, đến Trái Tim của Người. Đó cũng là một t́nh yêu lạ lùng đến mức Thiên Chúa tự nguyện đi bước trước để yêu ta, để dâng tặng chính ḿnh Người cho ta, một t́nh yêu lạ lùng đă khiến thánh Gioan tông đồ reo lên: “T́nh yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đă yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đă yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4, 10). Thánh Phaolô cũng ca ngợi t́nh yêu vô điều kiện của Chúa, một t́nh yêu hiến ḿnh cho kẻ nghịch với ḿnh: “Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được ǵ v́ c̣n là hạng người vô đạo, th́ theo đúng kỳ hạn, Đức Kitô đă chết v́ chúng ta. Hầu như không ai chết v́ người công chính, hoạ may có ai dám chết v́ một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đă chết v́ chúng ta, ngay khi chúng ta c̣n là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Phương chi bây giờ chúng ta đă được nên công chính nhờ Máu Đức Kitô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Người cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa” (Rm 5, 5-9).

Một trong những lần hiện ra với thánh nữ Maria Margarita Alacoque (1647-1690), Chúa Giêsu đă mở Trái Tim Người để thánh nữ chứng kiến. Người thốt lên những lời thổn thức: “Hăy nh́n xem Trái Tim này, Trái Tim yêu thương con người qúa sức đến không tiếc sự ǵ cho đến tiêu hao kiệt quệ. Phải đền tạ Trái Tim Thánh v́ những xúc phạm của loài người. Cha hứa với con rằng Trái Tim sẽ rộng mở để tràn đổ muôn vàn ơn phúc trên những kẻ tôn kính Trái Tim Cha”.

2. Một Trái Tim ấp ủ tâm tư hiến tế.

Thánh Phaolô đă từng mời gọi: “Anh em hăy có nơi anh em tâm tư như đă có trong Đức Kitô Giêsu” (Phil 2,5). Nhưng tâm tư của Chúa là tâm tư nào? Ngay sau lời mời gọi này, thánh nhân lập tức cho thấy “tâm tư như đă có trong Đức Kitô Giêsu” là TÂM TƯ HIẾN TẾ: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy tŕ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đă hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại c̣n hạ ḿnh, vâng lời cho đến nỗi bằng ḷng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Phil 2, 6-8). Sự tự hy sinh của Chúa Giêsu là sự tự hiến tế. Nhưng sự tự hiến tế ấy là chính t́nh yêu cao cả của Thiên Chúa, đă chấp nhận hiến tế ḿnh nơi chính cuộc hiến tế đớn đau của Chúa Giêsu.

Tin Mừng nhiều lần cho thấy Chúa nhắc đến hiến tế của Người. Qua đó, ta thấy được h́nh ảnh luôn mang trong tâm tư của Chúa là h́nh ảnh hiến tế để cứu chuộc:

- Khi hiến ḿnh thành tấm bánh cho ta, Chúa Giêsu khẳng định: “Đây là Ḿnh Thầy, hiến tế v́ các con” (Lc 22, 20).

- Khi diễn tả cái chết hy sinh để mang ơn cứu độ, Chúa Giêsu khẳng định: “Nếu hạt lúa gieo vào ḷng đất mà không thối đi, th́ nó vẫn trơ trọi một ḿnh. C̣n nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12, 24).

- Trong bữa tiệc ly, khi từ giả các môn đệ để vào tử nạn, Chúa Giêsu khẳng định: “Đă đến giờ Con Người được vinh quang” (Ga 12, 23).

- Cũng trong giờ ly biệt, Chúa Giêsu khẳng định cái chết trên thập giá là cái chết đưa loài người quy về một mối của ơn cứu độ: “Khi Thầy chịu treo lên khỏi mặt đất, Thầy sẽ kéo mọi người lên với Thầy” (Ga 12, 32).

- Ngay trong cơn hấp hối để đón nhận quyết định hiến dâng trọn vẹn đời ḿnh, Chúa Giêsu đă thổn thức cầu nguyện: “Lạy Cha, xin cho Con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng theo ư Con, mà xin theo ư Cha” (Mc 14, 36).

C̣n nhiều những lời diễn tả sự hiến dâng của Chúa Giêsu cho trần gian. Tâm tư của Chúa là tâm tư chứa đầy ư thức hiến tế mà Chúa vẫn và sẽ thực hiện suốt đời trần thế. Bởi nếu một đời làm người, Chúa Giêsu luôn ấp ủ và ư thức ḿnh là Đấng cứu độ trần gian theo ư Thiên Chúa, th́ một đời ấy, là một đời Chúa hiến tế. Nếu sự tự hiến tế của Chúa chỉ đột nhiên xảy ra, nghĩa là không hề có trước trong tâm tư của Người, th́ sự tự hiến tế ấy đă là giá trị, đă là quư báu, đă là t́nh yêu lớn. Nhưng nếu sự tự hiến tế ấy chất chứa đầy trong tâm tư của Chúa, mà Chúa ấp ủ hết mọi ngày trong đời sống, th́ cuộc hiến tế của Chúa quả thật lớn lao, và lớn đến vô cùng không thể kể xiết. Bởi tâm tư hiến tế ngày qua ngày cũng chính là Chúa chấp nhận chết từng ngày cho ta. Thánh giá của Chúa, thánh giá mà Người chấp nhận tự hiến ḿnh, là thánh giá một đời của Chúa. V́ thế, thánh giá trên đồi tử nạn chỉ là chặn cuối, là cao trào của cuộc hiến tế mà Chúa ấp ủ trong tâm tư Người. Như thế, tâm tư ấy, phải là tâm tư mà Chúa quyết đi đến cùng để tự hiến ḿnh cho trần gian.

Và nếu Thiên Chúa hiến tế chính ḿnh nơi Chúa Giêsu, th́ trong Chúa Giêsu, một khi chất chứa đầy tâm tư tự hiến tế qua hết mọi thời gian, cũng có nghĩa là Thiên Chúa tự hiến tế chính ḿnh cho trần gian, không phải một lúc nào, nhưng là sự tự hiến tế qua hết mọi thời gian.

Thiên Chúa đă ôm lấy tâm tư hiến tế ấy từ đời đời, khi Người quyết định cứu chuộc trần gian. Người đă thật sự tự hiến tế ḿnh, khi Chúa Giêsu nhập thể, bước vào trần gian, sống giữa trần gian, chấp nhận khổ đau và chết cho trần gian.

Nói cách khác, Trái Tim đầy yêu thương của Thiên Chúa, là một Trái Tim ấp ủ cuộc hiến tế chính ḿnh từ muôn đời đến muôn đời. Tâm tư hiến tế ấy của Thiên Chúa đă thành hiện thực, hay Thiên Chúa đă thực sự hiến tế, một khi Thiên Chúa chấp nhận hiến tế Chúa Giêsu, Con Một duy nhất của Người. Hiến tế trong Con là một hiến tế dữ dội, là một sự tự hiến trọn vẹn, cao cả không c̣n điều ǵ lớn lao hơn, mạnh mẽ hơn. Chúng ta có kinh nghiệm này: Thà hy sinh chính ḿnh. Nếu phải chứng kiến người ḿnh yêu quư đớn đau trong hy sinh, ḷng ta chắc chắn se thắt lại, đau đớn trong ta chắc chắn sẽ ghê gớm hơn.

Hiểu nỗi ḷng của Thiên Chúa cách nhân hóa như thế, ta mới thấy Trái Tim hiến tế của Thiên Chúa không đơn giản chút nào. Nhờ đó, ta hiểu được sự đớn đau quằng quại của Thiên Chúa lớn đến mức độ nào khi chứng kiến Người Con của ḿnh hy sinh trong hiến tế ấy. Người đau trong nỗi đau của Chúa Giêsu. Người khốn cùng trong sự khốn cùng của Chúa Giêsu. Người tan thương trong nỗi tan thương của Chúa Giêsu. Người chết lặng trong cái chết câm nín của Chúa Giêsu.

II. TRÁI TIM THIÊN CHÚA VỚI ĐỜI THÁNH HIẾN.

Nếu Trái Tim Thiên Chúa là một Trái Tim yêu đến lạ thường và là Trái Tim hằng ấp ủ tâm tư hiến tế, th́ chúng ta cũng phải bắt chước Người mà yêu thương, mà chấp nhận hiến tế cho nhau, v́ Chúa. Trong yêu thương đă là sự hiến tế v́ nhau. Và trong sự tự hiến tế v́ anh chị em ḿnh hằng ngày, ta đă chứng tỏ t́nh yêu của ta đối với Chúa, như Chúa dạy:

“Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hăy yêu thương nhau; anh em hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương anh em” (Ga 13, 34).

“Anh em hăy có nơi anh em tâm tư như đă có trong Đức Kitô Giêsu” (Phil 2,5).

Mang lấy tâm tư hiến tế của Chúa, chúng ta không c̣n biết sợ ǵ, chỉ một ḷng tiến đến cùng trong lư tưởng dấn thân cho Chúa và cho nhau. Đó chính là t́nh yêu mà chúng ta có để thể hiện hiến tế đời ḿnh, và trao ban chính ḿnh cho anh chị em của ta.

Trái Tim Chúa vẫn hiện diện giữa chúng ta. Hăy nh́n vào Trái Tim yêu thương vô cùng của Chúa, để chúng ta học lấy bài học yêu thương từng ngày trong đời sống thánh hiến của ḿnh. Yêu thương như Chúa, ta sẽ thực sự sống hiến tế như Chúa: Hiến tế một đời trong tâm tư và trong sự dâng hiến đời ḿnh.

Hăy yêu như Chúa. V́ có yêu thương nhau như Chúa yêu, ta mới có thể cùng nhau vượt qua thử thách. Nhất là đời sống cộng đoàn, t́nh yêu càng không thể vắng bóng. Phải có t́nh yêu, cộng đoàn mới vững mạnh. T́nh yêu là sức mạnh nền tảng của đời sống cộng đoàn. Không có t́nh yêu, đời sống cộng đoàn trở thành nhà tù giam nhau, v́ ở đó chỉ toàn đố kỵ, ganh, ghét, oán, hận, giận, thù, xoi mói, nóng nảy, xích mích, thiếu tế nhị, thiếu quan tâm, thiếu tin tưởng, thiếu kính trọng, chia phe, lập đồng minh…

Có yêu thương nhau th́ mới đón nhận nhau. Mối phúc thứ bảy, là mối phúc mà những ai sống đời sống cộng đoàn phải học thật kỹ: “Phúc thay ai xây dựng ḥa b́nh, v́ họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5, 9). Đón nhận nhau cũng là cách ta thể hiện hiến tế đời ta để yêu bằng t́nh yêu cao thượng cho những người sống cùng ta. Nhất là đón nhận cả những anh chị em trái tính, trái nết, những người mà lời nói của họ sao cứ mặn, hành động của họ sao cứ cay, những tương quan mà họ biểu lộ ra ngoài sao cứ đắng… Đón nhận như thế là một phần đấu, nhưng đầy rát buốt. Đó thực là việc “xây dựng ḥa b́nh”, nhất là “xây dựng ḥa b́nh” trong chính cộng đoàn ḿnh đang sống cách cao đẹp. Nhưng cũng thực là hiến tế trong t́nh yêu.

Có yêu nhau cuộc sống mới không nhạt nhẽo. Chính t́nh yêu là cách tốt nhất để thêm một chút mặn mà, một chút ngọt ngào cho đời dâng hiến của từng anh chị em chúng ta. Cứ suy nghĩ cho kỹ mà xem, tất cả chúng ta đây, đă bỏ tất cả: Cả quê nhà, cả những kỷ niệm đẹp của một thời đă qua nơi khung trời b́nh yên nào đó, cả bạn bè, cả cha mẹ, và mọi người thân yêu nhất… Đối với bản thân, ta cũng từ bỏ cả giây phút hiện tại để từng thời gian trôi qua, ta chỉ biết có đời sống dâng hiến. Ta cũng từ khước bao nhiêu ước mơ, từ khước cả tương lai đời ḿnh, để chỉ sống có một ước mơ duy nhất: sống cho trọn vẹn ơn gọi hiến dâng. Có thể nói mà không sợ sai rằng, tất cả chúng ta đây đă từ bỏ chính ḿnh, để chỉ c̣n vỏn vẹn một hy vọng: đêm ngày thuộc về Chúa. Vậy th́ tại sao chúng ta không yêu nhau, hay không yêu nhau cho đủ. Chúng ta có c̣n ǵ, có c̣n ai ngoài những anh chị em đang sống với ta, đang từng ngày sớt chia với ta lư tưởng ơn gọi tận hiến? Anh chị em đang cùng chung sống với ta hôm nay là chính cha mẹ, là chính anh em ruột thịt, là chính quê hương, là chính ước mơ, là chính ngôi nhà đầy ắp tiếng cười thơ dại của tuổi thơ trong kư ức đời ta… Hôm nay, chính giây phút này, những con người này hiểu ta hơn cha mẹ ta hiểu ta. Khi ta vui, khi ta cất lên tiếng hát, hay khi ta mất b́nh an, khi ta đau ốm, khi ta không c̣n biết dựa vào ai…, họ biết, họ thấy, họ cảm thông, họ cùng khóc, họ cùng cười với ta trước khi mọi người thân yêu ruột thịt của ta có thể nghe, có thể biết… Vậy th́ v́ lư do ǵ, ta c̣n đố kỵ, c̣n chưa thể thân thiện, chưa thể ḥa vào ṿng tay của người đang sống bên ta, đang hiện diện và làm việc với ta trong chính nơi đây, trong chính cộng đoàn này? Cuộc sống chung mà không có yêu thương là cuộc sống địa ngục. Nó sẽ gây nên không biết bao nhiêu nhạt nhẽo, bạc bẽo và đổ vỡ.

Có yêu thương nhau, mới có thể đi đến cùng trong đời tu. Cá nhân hay tập thể đều cần đến t́nh yêu. Thiếu t́nh yêu của từng cá nhân, cộng đoàn tu tŕ tan ră. Thiếu t́nh yêu làm nền tảng trong một cộng đoàn tu tŕ, từng cá nhân sẽ thấy ḿnh như bị bách hại, bị ngược đăi. T́nh yêu cũng là phương thế hữu hiệu nâng đỡ đời tu. V́ thế, từng cá nhân trong cộng đoàn tu tŕ hăy yêu, và hăy chân thành đón nhận t́nh yêu để ơn gọi của ḿnh được triển nở, được lớn lên và bền vững. Không biết yêu, và cũng không đón nhận t́nh yêu, sẽ là một tổn thương lớn đến chính ơn gọi của ḿnh, nếu không muốn nói là tự triệt tiêu ơn gọi đời ḿnh.

Có yêu thương nhau, mọi công việc đạo đức mới không giả tạo, không vô hồn. Hằng ngày, từ khi trời c̣n chưa sáng cho tới khi tối mịt, chúng ta hiện diện bên nhau bao nhiêu lần để cầu nguyện, để chầu Ḿnh Thánh Chúa, để dâng thánh lễ, để chiêm ngắm Chúa, để suy niệm, để nói và nghe về t́nh yêu của Chúa... Ngay cả khi làm việc, học tập, nghỉ ngơi, ăn uống… ta đều đặt ḿnh sống trong Chúa. Vậy mà cơi ḷng ḿnh vẫn c̣n đó những ư nghĩ chưa phù hợp với t́nh yêu, chưa xứng đáng với ḷng mong mỏi của Chúa là hăy yêu như Chúa? Chúa không ưa lối sống giả tạo. Trong Tin Mừng, nhiều lần Chúa lên án thói đạo đức giả. Người đ̣i phải trả lại thế gian những ǵ là thói của thế gian, và phải“trả cho Thiên Chúa những ǵ của Thiên Chúa” (Mt 22, 21). Chúa căn dặn các môn đệ: “Các con hăy coi chừng men biệt phái, tức là thói đạo đức giả” (Lc 12, 1). Chúa thẳng thừng lên án thói đạo đức giả: “Khốn cho các ngươi, hỡi các luật sĩ và biệt phái giả h́nh! Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong th́ đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài th́ có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong là giả h́nh và gian ác(Mt 23, 27-28; Lc 11, 44). Hăy cố gắng yêu. Yêu để sự giả tạo không thể len lỏi vào đời tu của cá nhân và vào đời sống chung của cộng đoàn. Nếu chưa thể yêu như Chúa, th́ hăy yêu v́ Chúa dạy yêu, để các việc đạo đức của từng người bớt giả tạo, nhưng thánh thiện hơn, có hồn hơn.

Có yêu thương nhau th́ mới có thể cùng nhau loan truyền t́nh yêu của Chúa hiệu quả, và làm chứng cho t́nh yêu ấy cách đúng nghĩa nhất, chân thành nhất, cao đẹp nhất và thực tế nhất. Nếu không biết yêu thương, chúng ta lại đi nói về Thiên Chúa, Đấng là t́nh yêu, th́ có khác ǵ chiếc loa phóng thanh: to tiếng nhưng trống rỗng. Có yêu, mới có thể cảm nghiệm t́nh yêu. Khi đă cảm nghiệm t́nh yêu, mới có thể nói chính xác về t́nh yêu.

Có yêu mới có thể giữ được t́nh hiệp nhất trong cộng đoàn. Chúng ta hăy lắng nghe lới thánh Phaolô dạy: “Tôi khuyên nhủ anh em hăy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đă ban cho anh em. Anh em hăy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại ; hăy lấy t́nh bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Anh em hăy thiết tha duy tŕ sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau. Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đă được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4, 1-6). T́nh hiệp nhất là quư giá, v́ nó là thành tố chứng minh chúng ta hoàn toàn thuộc về Chúa Kitô. Bởi Chúa Kitô không có mong muốn nào khác ngoài mong muốn con người hăy yêu nhau, sống hiệp nhất với nhau. Mong muốn của Chúa muôn đời vẫn là: “Tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đă sai con. Phần con, con đă ban cho họ vinh quang mà Cha đă ban cho con, để họ được nên một như chúng ta là một: Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đă sai con và đă yêu thương họ như đă yêu thương con”(Ga 17, 21-23). T́nh hiệp nhất c̣n cho thấy cộng đoàn mà ḿnh đang hiện diện, là cộng đoàn thể hiện giá trị chân chính của đời tu. Nó là cơ sở mà nhiều người nh́n vào để phê phán hay khen ngợi, để học tập hay hay giễu cợt chúng ta. Thậm chí người ta sẽ nh́n vào t́nh hiệp nhất của một cộng đoàn tu tŕ để lượng giá, cả đến bôi nhọ Hội Thánh. V́ thế, hiểu được tầm quang trọng của t́nh yêu hiệp nhất, bằng mọi giá, mỗi cá nhân phải thực hiện cho bằng được t́nh yêu hiệp nhất giữa cộng đoàn của ḿnh, cho dù có phải hy sinh bản thân, hy sinh tất cả những ǵ tư riêng của bản thân. Đó chính là sống hiến tế để mưu cầu t́nh yêu.

Có yêu thương nhau th́ mới đến được với người nghèo, người khổ đau, người bệnh tật, người thiếu thốn b́nh an. Không yêu thương, sẽ là một phản chứng cho việc chúng ta sống bác ái. Người ta không thể hiểu nổi, một người ra sức làm việc bác ái mà lại không thể t́m thấy t́nh yêu nội tại nơi chính bản thân người ấy. Hơn nữa, nếu không yêu thương, làm sao có thể cúi xuống, làm sao có thể cảm thông với tất cả mọi anh chị em cơ nhở. Yêu phải là điều kiện tiên quyết cho việc chúng ta dấn thân cho anh chị em đau khổ quanh ḿnh.

Có yêu nhau mới dám cùng nhau chấp nhận cái chết để minh chứng cho mọi người biết ḿnh đă tin vào Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chúng ta không ước ao chết, không đi t́m cái chết. Nhưng khi cần để vinh danh Thiên Chúa, vinh danh Hội Thánh, vinh danh lư tưởng ơn gọi đời ḿnh, và v́ anh chị em, chúng ta can đảm đón nhận cái chết như Chúa Giêsu chết v́ chúng ta. Bởi yêu nhau và dám chết cho nhau, mới là người đáng tin. Khi đó, mọi người càng nhận ra chúng ta tin và nên giống Đấng Cứu Chuộc ḿnh.

T́nh yêu là cốt lơi của Tin Mừng, là sự thúc đẩy Thiên Chúa hiến thân v́ con người, th́ t́nh yêu cũng là điểm quan trọng nhất của đời sống chung. Khi yêu nhau, ta làm toát lên vẻ đẹp của ḿnh, khơi gợi cho con người niềm hy vọng và xác tín mạnh mẽ vào Đấng đă yêu thương chúng ta trước. Và như thế, “mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có ḷng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Khi yêu như thế, ta cũng được ở lại trong Chúa và Chúa ở trong ta. Bởi v́, “Thiên Chúa là T́nh Yêu: ai ở lại trong t́nh yêu th́ ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 4,16).

T́nh yêu mà chúng ta dành cho nhau là sự hiến tế mỗi ngày chúng ta sống v́ Chúa. Và sống hiến tế mỗi ngày trong cộng đoàn, nơi từng anh chị em, hay bất cứ con người nào Chúa ban cho ḿnh, cũng đều là chính t́nh yêu chúng ta trao dâng về Chúa.

Hăy yêu như Chúa. Hăy hiến tế v́ Chúa. Có như thế, chúng ta mới đích thực là người mang t́nh yêu trao dâng cho nhau và hiến tế v́ nhau.

Trái Tim Thiên Chúa đẹp lạ thường, đẹp đến nỗi, bút không thể ghi, đá không thể tạc, v́ Trái Tim ấy có một sức mạnh thu hút diệu kỳ nhờ t́nh yêu lạ thường và sự tự hiến tế mănh liệt. Trái Tim yêu thúc đẩy Trái Tim tự hiến tế. Trái Tim hiến tế thực là bằng chứng về một Trái Tim yêu vượt mọi thời gian, vượt trên tội lỗi, vươn đến tận cùng và mạnh mẽ công phá mọi rào cản của bóng tối hận thù, tàn ác, giết chóc… Sức mạnh và vẻ đẹp diệu kỳ của Trái Tim măi muôn đời chiếu rọi trên từng người chúng ta và mời gọi chúng ta tiếp tục phân phát sức mạnh và vẻ đẹp ấy bằng chính t́nh yêu chấp nhận mọi hiến tế của từng người chúng ta.

Ngày 19.6.2013, tṛn 25 năm ngày phong hiển thánh 117 vị tử đạo Việt Nam

Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG

VỀ MỤC LỤC

Text Box: ĐƯỢC THA THỨ NHIỀU NÊN YÊU THƯƠNG NHIỀU
 

 

 


Chúa Nhật XI Thường niên C

Nguyễn Tiến Cảnh, MD

 

Xuyên suốt các Tin Mừng nhất lăm, chúng ta thấy Chúa Giêsu thường ngồi ăn với những người tội lỗi rồi nhân cơ hội đó đưa ra những bài học về t́nh môn đệ, sự thánh thiện, phép ḥa giải và sự tha thứ.

 

Như đă từng làm nhiều lần, Chúa thường nâng đỡ những người như vậy bằng cách ngồi ăn với họ và nổi giận với những kẻ phản đối, đặc biệt những người lănh đạo tôn giáo thời đó. Họ x́ xào chống đối Chúa: “Ông này vào nhà kẻ tội lỗi như là thượng khách”, hoặc “Coi ḱa, ông này ngồi ăn cả với những người thu thuế và kẻ tội lỗi ô uế!” Trái lại, những kẻ sống bên lề xă hội, những kẻ cùng đinh khố rách bị người đời ghét bỏ xa lánh th́ Chúa Giêsu lại coi họ là con người với bản tính yếu đuối, luôn luôn bị thất bại chồng chất. Họ thất vọng v́ đời không khá hơn dù đă cố gắng. Họ quyết thay đổi cuộc sống bất công đó một cách ngượng ngùng.

 

Trong những bữa ăn, Chúa Giêsu rơ ràng là muốn ḥa giải với những người tội lỗi. Chúng ta thử nhớ lại và tưởng tượng xem quang cảnh sẽ thế nào của câu chuyện về các ông Zacchaeus, Levi, người đàn bà rửa chân Chúa bằng nước mắt, các môn đệ trên đường Emmaus và ông Phêro bên bờ hồ Gallilee? Ngay cả tại bữa tiệc ly cuối cùng là những giây phút linh thiêng và cấp bách nhất, Chúa cũng chia sẻ bữa ăn với kẻ tội lỗi. Bàn tiệc có cả Juda (bán Chúa), Phêro (chối Chúa 3 lần) và những môn đệ có vẻ tối dạ và hay gây gỗ. Giáo Hội sơ khai đă hiểu biết về phép Thánh Thể qua kư ức đáng ngại về t́nh bạn của chúa Giêsu nơi bàn tiệc.

 

NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÔNG MỜI MÀ ĐẾN

 

Bài Tin Mừng hôm nay nói về sự tha thứ cho người đàn bà tội lỗi (Lc 7:36-50). Người biệt phái, nghi chúa Giêsu là một tiên tri, đă mời Chúa đến nhà dự tiệc; ông này tự cho ḿnh là người ngay chính, nên đă được Chúa tha thứ ít và do đó ông yêu mến Chúa ít. Ngược lại, người đàn bà tự biết ḿnh tội lỗi nhiều đă tin tưởng vào Chúa, đến với Chúa để xin Chúa tha thứ. V́ bà ta được Chúa tha thứ nhiều nên bà ta đón chào Chúa nồng nhiệt qua cung cách bà ta làm cho Chúa để biểu lộ t́nh yêu. Bà ta đă yêu nhiều. Toàn thể câu chuyện cho thấy mối tương quan giữa tha thứ và yêu thương.

 

Tại sao người đàn bà vô danh lại đến với Chúa Giêsu và xức dầu thơm Người mà không sợ thiên hạ dị nghị? Hành động của bà ta được thúc đẩy bởi một điều: Bà yêu Chúa Giêsu và bà biết ơn Chúa v́ Chúa đă tha thứ cho bà. Bà đă làm điều mà không một người đàn bà Do Thái nào dám làm trước công chúng như vậy: Rửa chân Chúa bằng nước mắt rồi xả tóc lau chân người. Bà cũng làm những điều mà chỉ có t́nh yêu mới làm được: Bà lấy tất cả những ǵ quí giá nhất mà bà có để dùng cho chúa Giêsu. T́nh yêu của bà không tính toán mà nồng nàn và tràn đầy quá mức.

 

Chúa kể lại những việc mà người đàn bà đă làm (c 44-46) không phải với mục đích để trách ông Simon về những điều ông không làm. Ông Simon vẫn cố t́nh coi người đàn bà là kẻ tội lỗi hay ông đă thay đổi ư nghĩ và hiểu ư nghĩa việc làm của bà ta? Nếu ông không thay đổi ư nghĩ của ông th́ Chúa sẽ thuyết phục ông cho ông hiểu rơ những ǵ ông trông thấy: Người đàn bà được tha thứ nhiều th́ bây giờ bà ta yêu mến Chúa nhiều (c 47-48).

 

Người đàn bà này không phải được tha thứ v́ t́nh yêu của bà tràn đầy, mà thực ra hành động yêu của bà có được là do bà đă cảm nghiệm thấy bà được tha thứ nhiều. Câu 47 tóm gọn tất cả ư nghĩa tuyệt vời ấy: Tội lỗi của bà ta nhiều mà được tha thứ, v́ thế bà ta yêu nhiều”. T́nh yêu của bà ta chính là hậu quả của sự tha thứ. Đây là ư nghĩa câu chuyện mà chúng ta phải hiểu theo như thánh sử Luca kể (Lc 7:41-43).

 

T̀NH YÊU BAO TRÙM MỌI TỘI LỖI

 

Chúng ta nên tự hỏi chúng ta biểu lộ t́nh yêu một cách cuồng nhiệt hay nhẹ nhàng? Chúa Giêsu đă nói rơ ràng yêu nhiều là do ḷng ḿnh cảm thấy được tha thứ nhiều và sạch mọi tội lỗi.T́nh Yêu bao trùm mọi tội lỗi(1Pr 4:8), “V́ t́nh yêu thuộc về Thiên Chúa”(1Ga 4:7). Người đàn bà biểu lộ t́nh yêu một cách nồng nàn là bằng cớ cho thấy bà ta được Thiên Chúa ban nhiều ơn huệ. Thái độ khác biệt giữa ông Simon và người đàn bà tội lỗi cho thấy cách thức chúng ta chấp nhận hay từ chối ḷng thương xót của Chúa như thế nào. Ông Simon tự coi ḿnh thuộc hàng biệt phái cao cấp không cần đến t́nh yêu và ḷng Chúa thương xót. Sự tự măn của ông khiến ông không cảm nhận được ông cần ân sủng của Thiên Chúa.

 

Người đàn bà tội lỗi là h́nh ảnh những ai biết đáp ứng Chúa một cách thích đáng và hành động của họ phản chiếu chính hành động của Chúa. Thắc mắc về câu chuyện được đặt ra, không phải chỉ với ông Simon mà c̣n với tất cả chúng ta. Chúng ta có nh́n ra được người đàn bà ấy thực sự chưa?” Không nh́n ra được người đàn bà và hành động của bà ta một cách thích đáng là chưa nhận ra được chúa Giêsu và đặc tính của Người một cách chính xác. Câu chuyện kết thúc nhưng vẫn c̣n để ngỏ: Hy vọng ông Simon hiểu biết, cảm nhận được và có một cái nh́n đúng vẫn c̣n mơ hồ. Vậy chúng ta th́ sao?

 

SỰ H̉A GIẢI CỦA KITO GIÁO

 

Bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta suy niệm về màu nhiệm, sự cần thiết phải tha thứ và sự ḥa giải trong truyền thống Kito Giáo. Hiện có một hiểu lầm rất lớn là trong bất cứ một cưộc bất ḥa nào th́ người Kito giáo phải là người xây dựng ḥa b́nh, không đứng nghiêng về phe nào cả và phải mang lại ḥa giải cho những phe đối nghịch nhau. Quan niệm này vô t́nh đă biến việc ḥa giải thành một nguyên tắc có tính tuyệt đối phải áp dụng cho tất cả mọi cuộc tranh chấp. Một số trường hợp có phe này đúng, phe kia sai, hoặc phe này bất công và đàn áp, phe kia bất chính lại có tính áp đảo. Là người Kito giáo, chúng ta không bao giờ được phép ḥa giải giữa ác và thiện, giữa công bằng và bất công. Chúng ta phải xa lánh bất công, tội lỗi, ác quỉ và gian dối.

 

Thứ đến, trung lập th́ luôn luôn và hầu như khó có thể thực hành. Trong những trường hợp tranh chấp do bất công và áp bức th́ trung lập trên thực tế hoàn toàn bất khả thi. Nếu chúng ta không đứng về phe bị áp bức th́ chúng ta sẽ nghiêng về phe áp bức. “Kéo hai phe lại với nhau để gọi là ḥa giải” trong những trường hợp thế này, th́ trước sau rồi chúng ta sẽ ở vào vị thế có lợi cho phe áp bức, bởi v́ không tài nào chúng ta có thể giữ thế trung lập được trước kẻ áp bức. Kẻ áp bức luôn luôn che dấu sự thật trong khi tranh chấp nhưng lại ép kẻ bị áp bức phải im tiếng thành thụ động để rồi đưa tới loại ḥa giải giả tạo và sai lầm không có công lư. Sự bất công này sẽ tiếp tục và mọi người có cảm tưởng là công lư chẳng là cái ǵ cả bởi lẽ tranh chấp và căng thẳng giữa hai phe đă giảm bớt!

 

Sau cùng, chúng ta thường quan niệm người Kito giáo là phải chọn“thế đứng giữa” trong mọi cuộc xung đột. Những người e sợ tranh chấp hay đối đầu, ngay cả khi bất bạo động, th́ thường bị mê hoặc là cần phải có thay đổi. Hành động gọi là “thận trọng” của họ thường che dấu nỗi bi quan không phải là Kito giáo về một tương lai, một hy vọng Kito giáo thiếu xác thực. Vậy là họ đă dùng nỗi niềm ưu tư của Kito giáo để ḥa giải, hầu biện minh cho một h́nh thức trốn chạy khỏi những thực tế phũ phàng về bất công và tranh chấp.

 

THA THỨ CHO NHỮNG LẠM DỤNG T̀NH DỤC

 

Nhân đây chúng ta thử nh́n vào vấn đề nóng bỏng hiện nay là vấn đề lạm dụng t́nh dục đă làm rung động Giáo Hội Thiên Chúa Giáo. Toàn thế giới đă nghe biết về những tội và những sa ngă của hàng mục tử qua những năm tháng trước đây. Người viết xin lược dịch một phần thư mục vụ của Tổng Giám Mục Mark Coleridge, giáo phận Canberra và Goulburn ở Úc Châu. Bức thư đưa ra vào ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm 2010 nói về việc lạm dụng t́nh dục giới trẻ trong Giáo Hội Công Giáo với đầu đề: “Nh́n Mặt, Nghe Tiếng”. Đức Tổng viết:

 

Yếu tố khác nữa là văn hóa của Giáo Hội Công Giáo về Tha Thứ được nh́n dưới danh nghĩa Tội Lỗi và Tha Thứ (Sin and Forgiveness) hơn là Tội Ác và H́nh Phạt (Crime and Punishment). Nhưng trong trường hợp giáo sĩ lạm dụng t́nh dục, chúng ta lại phải đối đầu với tội ác, và Giáo Hội phải phấn đấu để t́m ra điểm hội tụ, một đằng giữa tội lỗi và tha thứ, một đằng giữa tội ác và h́nh phạt.

 

“Đúng vậy, tội lỗi th́ cần phải được tha thứ, nhưng tội ác th́ lại phải chịu h́nh phạt. Cả tha thứ lẫn công lư phải được thi hành như nhau, và làm như vậy tức là theo đường hội tụ. Điều này liên quan đến một vấn nại to lớn hơn là làm sao Giáo Hội thấy được những liên quan của ḿnh với xă hội một cách tổng quát hơn. Chúng ta ‘đang ở trong thế giới nhưng không thuộc về nó’. Nhưng điều đó có ư nghĩa ǵ ở đây lúc này? Cũng lại có vấn nại lớn về sự liên quan giữa phán xét của Thiên Chúa và phán xét của loài người. Giáo Hội nhấn mạnh là chỉ có Thiên Chúa mới có quyền phán xét, không phải loài người. Đó là phán xét sau cùng.

 

Vậy th́ làm sao có thể thích hợp được với cách phán xét của con người khi chúng ta vẫn sống trong kiểu lư luận về tội ác và h́nh phạt? Chúng ta đă chậm trễ và vụng về, ngay cả đôi khi đă phạm tội, trong việc đáp ứng những vấn nại đó.”

 

Những lỗi lầm như vậy về việc ḥa giải của Kito giáo th́ không đơn thuần chỉ là hiểu lầm, mà là do thiếu t́nh yêu thương và ḷng trắc ẩn thực sự đối với những kẻ đau khổ hay những nạn nhân, hoặc do thiếu sót không định giá được vấn đề thực sự đang xẩy ra giữa những tranh căi nguy hiểm ấy. Theo đuổi nguyên tắc trung lập vu trong mọi tranh chấp th́ cuối cùng cũng đứng về phía áp bức mà thôi. Đó không phải là ḥa giải và tha thứ mà Chúa Giêsu đă dạy qua cuộc sống và sứ vụ của người.

 

Trong việc tranh chấp giữa những người biệt phái và những kẻ tội lỗi, chúa Giêsu luôn luôn chống đối những kẻ biệt phái và đứng về phía kẻ tội lỗi, gái giang hồ và những người thu thuế. Trong tranh chấp giữa người giầu có và những kẻ nghèo hèn, Chúa đứng về phía kẻ nghèo khó. Chúa Giêsu kết án những người biệt phái và người giầu có trong mọi hoàn cảnh, người tha thứ cho kẻ tội lỗi và chúc phúc cho kẻ nghèo hèn. Chúa không chủ trương hứa hẹn với nhà cầm quyền v́ một nền ḥa b́nh giả tạo về ḥa giải hay hiệp nhất. Sự ḥa giải, ḥa b́nh và tha thứ mà Thiên Chúa muốn phải đặt căn bản trên sự thật, công lư và t́nh yêu thương.

 

Fleming Island, Florida

June 16, 2013

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

VỀ MỤC LỤC

 

Text Box: SỰ CAO CẢ CỦA MỘT TỘI NHÂN 

 

 


Mọi người sống trên trần gian này sau một thời gian sẽ gặp nhau ở một điểm chung: đều phạm tội. (Rm 3:23) Ai cũng là tội nhân và chẳng ai có quyền nói ḿnh ít tội lỗi hơn người khác.

Nếu muốn nói về khác biệt, có thể liệt kê nhanh như sau: Thứ nhất, mỗi người phạm tội mỗi kiểu. Thứ hai, mỗi người ứng xử mỗi cách đối với tội lỗi của ḿnh. Thứ ba, mỗi tội nhân có mỗi thái độ đối với những tội nhân khác. Đây chính là điều cần bàn kĩ ở đây. Về điểm này, nh́n chung có ba loại thái độ làm nên ba loại tội nhân khác nhau, như sau:

Đầu tiên là loại tội nhân không đủ khiêm tốn, không đủ bản lĩnh thừa nhận tội lỗi ḿnh, trốn chạy nỗi sợ bên trong bản thân bằng cách phóng chiếu nó ra bên ngoài lên người khác dưới các h́nh thức mang tính bạo lực như: kết án, lăng mạ, bêu xấu, nguyền rủa,… Đây là loại tội nhân tầm bậy.

Tiếp theo là loại tội nhân biết ḿnh đă yếu đuối vấp ngă, gây ra những tổn thương trong đời, rồi thống hối ăn năn, đến với bí tích Ḥa Giải để t́m lại b́nh an tâm hồn. Đây là loại tội nhân tầm thường.

Cuối cùng là tội nhân đủ khiêm tốn, đủ bản lĩnh để nh́n nhận ḿnh là một con người yếu đuối, bất toàn, luôn măi cậy nhờ ḷng xót thương và tha thứ của Thiên Chúa. Đặc biệt là nơi tội nhân này có một điểm sáng khiến họ trở nên giống Thiên Chúa t́nh yêu (Rm 5:8). Điểm sáng ấy chính là: ḷng cảm thương và cảm thông đối với các tội nhân khác. Mặc dù cũng là tội nhân nhưng thái độ này làm cho họ trở nên tuyệt vời, đáng yêu, đáng quư. Họ ghét tội v́ tác hại của nó nhưng yêu thương người có tội v́ đó là anh chị em đau khổ của ḿnh. Họ kinh nghiệm sự mỏng gịn của thân phận con người, nhưng quan trọng hơn là họ đă thấu hiểu và học được bài học từ trái tim nhân hậu của Thiên Chúa. Ḷng nhân hậu là điều giữ tội nhân này trên nẻo đường giống Thiên Chúa. Đây là tội nhân có tầm vóc.

Tất cả đều là tội nhân. Nhưng thái độ đối với những anh chị em lỗi tội khác của một tội nhân sẽ cho thấy người ấy hiểu biết được bao nhiêu trái tim đầy t́nh yêu thương vô điều kiện của Thiên Chúa (1Ga 4:8). Thái độ này sẽ quyết định họ là tội nhân tầm bậy, tầm thường hay tầm vóc. Ai càng biết cảm thương các anh chị em bị tổn thương v́ tội lỗi sẽ càng trở nên giống Thiên Chúa và càng ở sâu trong ơn tha thứ và cứu độ. Ngược lại, một tội nhân sẽ dễ bị ma quỷ lèo lái để biến thành công cụ tàn ác của nó khi trong ḷng thiếu vắng sự khiêm nhường và khinh thường các tội nhân khác. Một dấu chỉ cho biết một tội nhân đang bị ma quỷ lèo lái là: người ấy có khuynh hướng cứ thấy tội của tha nhân hiện lên trước mắt rất rơ nhưng lại có ít để ư phản tỉnh đối với tội lỗi của bản thân (Lc 6:41). Công cụ này sẽ càng nguy hiểm nếu họ tin rằng họ đang phục vụ Chúa qua thái độ trên v́ thật ra họ đang bị lợi dụng để biến thành ác nhân núp dưới danh nghĩa thiện chí. Ơn tha thứ của Thiên Chúa thật khó đi vào trong một cơi ḷng kiêu ngạo và mù ḷa như thế.

Ai biết cảm thương tội nhân, người ấy có kinh nghiệm thật về Thiên Chúa. Ai không biết cảm thương tội nhân, người ấy chưa hiểu ǵ về Thiên Chúa. V́ sao? V́ trong mắt Thiên Chúa, tội nhân không phải là một kẻ xa lạ đáng ghét mà là một người con yêu dấu vô cùng đang cần được yêu thương và chữa lành. Các tội nhân măi măi là con cái của Cha nhân hiền và luôn luôn là anh chị em thật sự của nhau. Đó là chân lư không thể nào phủ nhận.

Ai cũng là tội nhân. Chẳng ai có quyền nói ḿnh thánh thiện hơn người khác. Vấn đề c̣n lại chỉ là: ḿnh sẽ chọn ở trong vị trí tội nhân tầm bậy, tầm thường hay tầm vóc.

Tội nhân tầm bậy có nguy cơ trở thành ác nhân.

Tội nhân tầm thường chỉ dậm châm tại chỗ.

Tội nhân tầm vóc có thể trở thành thánh nhân.

Giuse Việt

[01A+V0613]

Tái bút 1: từ nguồn chính

+ Lúc ấy, Đức Giêsu trả lời những kẻ đ̣i giết chết người phụ nữ ngoại t́nh: “Ai trong các người không có tội th́ hăy ném chị ấy trước đi.” (Ga 8:7)

+ Nhiều người thu thuế và người tội lỗi cùng ăn với Đức Giêsu và các môn đệ, v́ họ đông đảo và đă đi theo Người. Những kinh sư thuộc nhóm Pharisêu thấy Người ăn uống với những kẻ tội lỗi và người thu thuế, th́ nói với các môn đệ Người: "Sao! Ông ấy ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi!" Nghe thấy thế, Đức Giêsu nói với họ: "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi". (Mc 2:15-17; Lc 5:32) … Đức Giêsu nói: “Hăy về học cho biết ư nghĩa của câu này: Ta muốn ḷng nhân chứ đâu cần lễ tế.” (Mt 9:13; Xem thêm Hs 6:6)

+ Hầu như không ai chết v́ người công chính, họa may có ai dám chết v́ một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đă chết v́ chúng ta, ngay khi chúng ta c̣n là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. (Rm 5:7-8)

+ …

Tái bút 2: từ gương sống hôm nay

+ Ai có mặt ở Roma những tháng ngày này sẽ chứng kiến một hiện tượng rơ ràng: số người hành hương và du lịch tăng lên gấp nhiều lần. Một trong những lí do chính là: để được thấy Đức Thánh Cha Phanxicô. Ngài là ai? Xin được chia sẻ một chi tiết đặc biệt về ngài là: sau khi được hồng y đoàn bầu chọn làm giáo hoàng, khi được hỏi có sẵn sàng đón nhận sứ mạng Phêrô lănh đạo Giáo Hội hoàn vũ không, câu đầu tiên từ miệng Đức Thánh Cha Phanxicô đương kim là: “Tôi là một tội nhân lớn” (“Sono un grande peccatore”), rồi ngài nói lên sự tín thác vào t́nh yêu, ân sủng Chúa và chấp nhận sứ vụ này. Trong buổi đọc kinh Truyền Tin đầu tiên, ngài quả quyết: “Ḷng nhân hậu có thể biến đổi thế giới.” Những ngày sau đó, ngài tiếp tục xin người khác cầu nguyện cho ḿnh với lí do “v́ tôi cũng là một tội nhân, giống như tất cả mọi người.” (“…perché io sono anche un peccatore, come tutti…”) Vị mục tử hiền hậu này hăng say rao giảng về ḷng nhân hậu không bao giờ mệt mỏi dành cho tội nhân của Thiên Chúa t́nh yêu.

 

English: http://only3minutes.wordpress.com/the-greatness-of-a-sinner/

VỀ MỤC LỤC

 

Text Box: TẠ ƠN HỒNG ÂN ĐỨC TIN CAO QUÍ - NGÂN KHÁNH TUYÊN THÁNH VIỆT NAM 

 

 


1V 8, 55-61; 1Cr 1, 3-9; Mc 5, 18-20

Bài giảng của Đức TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt - Châu Sơn, 19-06-2013

 

Càng nh́n lại biến cố phong thánh Việt nam, tâm t́nh ta càng dâng lên ngập tràn niềm tri ân cảm tạ.

 

Trước hết tạ ơn v́ những ơn lành lớn lao Chúa ban. Nếu khi thưởng công các thánh Chúa thưởng công chính những ân huệ Chúa ban th́ các thánh Việt nam chính là công tŕnh của Chúa. Với người Việt nam th́ công tŕnh này quá lớn lao.

 

Lớn lao v́ vượt quá sức loài người. Chúa đă ban cho các thánh ơn cao trọng vượt qua những tầm thường của con người. Thánh Hồ đ́nh Hy dám bỏ cả công danh phú quí trong triều đ́nh. Thánh Tôma Thiện dám bỏ tuổi xanh đầy tương lai hứa hẹn. Thánh nữ Lê thị Thành dám bỏ cả gia đ́nh hạnh phúc. Thánh Ven dám bỏ quê hương xứ sở giầu sang xinh đẹp để đến nơi nghèo nàn khổ cực. C̣n hơn nữa Chúa ban cho các ngài sức mạnh chịu được những cực h́nh ghê sợ. Thánh Marchand Du chịu xẻo 100 miếng thịt. Khi chết rồi c̣n bị thiêu xác ném tro xuống biển. Thánh Thọ và thánh Cỏn chịu đánh đ̣n tan nát rồi bị ném xuống hầm phân cho nước tiểu ngấm vào xót xa và phá hoại cơ thể. Thánh Đổng dám dùng sắt nung đỏ xóa chữ “Gia tô tả đạo” sửa lại thành “chính đạo” khắc trên má. Thánh nữ Lê thị Thành vẫn tươi cười khi chịu khổ h́nh. Bị đ̣n vọt đến tóe máu, thấm vào áo. Ngài nói với con rằng: Đây là mẹ mặc áo thêu hoa hồng đấy. Phải có ơn Chúa thật lớn lao mới có thể chịu những cực h́nh khủng khiếp mà vẫn vui tươi b́nh an như thế.

 

Lớn lao v́ số lượng đông đảo các chứng nhân. Xưa nay trên đời anh hùng hiếm hoi như những v́ sao băng. Thế mà tại Việt nam anh hùng tử đạo đông đảo như những đám mây che rợp cả bầu trời quê hương. Ước tính có đến hơn 100 ngàn vị tử đạo. Có những vị lừng danh tên tuổi. Có những vị vô danh như hàng trăm vị bị thiêu trong nhà thờ Bà Rịa. Hàng trăm người bị thiêu trong nhà thờ Tam Ṭa. Bao nhiêu làng bị tàn sát. Thật lạ lùng. Cả một đoàn người anh hùng. Tại làng Bút Đông, quan bắt mọi người có đạo phải ra tŕnh diện, mghĩ rằng họ sẽ sợ mà trốn hết. Không ngờ cả làng hơn 500 người ra tuyên xưng đức tin. Quả là những anh hùng vượt quá sức loài người. Quả là ơn Chúa ban dư tràn cho dân Chúa.

 

Lớn lao v́ Giáo hội Việt nam được giống Giáo hội Mẹ. Khởi thủy, Giáo hội sơ khai bị đế quốc Rôma đă cấm cách bắt bớ trong 300 năm. Năm 313 hoàng đế Trajano mới kư sắc chỉ tha đạo. Tại Việt nam khi đạo mới truyền vào, các vua quan cũng đă bắt đạo suốt 3 thế kỷ 17, 18 và 19. Quả là một thời gian dài ngoài sức tưởng tượng. Nhưng nhờ đó ta được nên giống Giáo hội Mẹ. Thật vinh dự cho Việt nam. Thật lớn lao ân huệ của Chúa.

 

Tiếp đến tạ ơn v́ các bậc tổ tiên khôn ngoan sáng suốt. Thời ấy các vị thừa sai chưa thông thạo tiếng Việt. Sao cha ông ta đă hiểu đạo mà tin đạo và theo đạo. Đó là ơn Chúa Thánh Thần. Như ngày lễ Ngũ Tuần, các tông đồ nói tiếng Do thái, nhưng người các nước nghe đều hiểu. Các ngài chỉ được học giáo lư rất sơ sài. Cha Đắc lộ đă soạn quyển Phép giảng tám ngày. Sao chỉ học có 8 ngày mà các ngài có một đức tin vững mạnh như thế. Chắc chắn đó là ơn Chúa. Đạo được rao giảng trong thời kỳ cấm cách. Theo đạo đồng nghĩa với bị kết án tử h́nh. Thế mà sao các ngài vẫn hăng hái theo đạo và tuyên xưng đạo? Chắc chắn đó là ơn Chúa. Đúng là thời lễ Ngũ Tuần. Đúng là thời lễ Hiện Xuống. Đúng là ơn Chúa ban tràn lan đặc biệt cho dân tộc Việt nam.

 

Sau cùng tạ ơn v́ hồng ân đức tin Chúa ban. Suy cho cùng ơn đức tin là ơn cao quí nhất. Ơn làm cho ta nhận biết Chúa. Ơn làm cho ta sống đạo vững mạnh. Ơn làm cho Giáo hội phát triển. Hăy nh́n lại lịch sử Giáo hội từ những ngày đầu. Thuở ban sơ ta không có ǵ hết. Không có nhà thờ. Không có nhà xứ. Không có ṭa giám mục. Không có tài chính. Chỉ có sự ghen ghét của vua quan. Chỉ có sự bắt bớ. Chỉ có khổ h́nh. Thế mà sao đạo vẫn phát triển. Thưa v́ ta có đức tin. Có đức tin là có tất cả. Ngày nay tại sao ta có đầy đủ phương tiện, con người, thời cơ thuận lợi, nhưng việc truyền giáo xem ra khựng lại. Tại sao? V́ ta thiếu đức tin. Có thể nói tất cả mọi khủng hoảng thời nay bắt nguồn từ khủng hoảng đức tin. Quả thật ơn đức tin là ơn cao quí Chúa ban cho dân tộc Việt nam.

 

Ta cùng tạ ơn Chúa v́ trong ngày lễ Tuyên Thánh Tử Đạo Việt Nam, Giáo hội Việt nam được sống lại đức tin, tiếp tục cuộc tử đạo của các thánh. Khi được tin Ṭa Thánh sẽ tuyên thánh Tử đạo Việt nam, cả một phong trào bắt bớ mới bùng lên trong đất nước Việt nam. Nhà Nước vận dụng mọi phương tiện tuyên truyền chống đối. Nào là hạch sách, o ép. Nào là kể tội, kể xấu các thánh. Nào là đe dọa sẽ có một cuộc trả thù, trừng trị đích đáng. Nhưng đức tin Giáo hội vẫn vững vàng dù phải chịu đau khổ. Xin kể hai trường hợp tiêu biểu. Trường hợp thứ nhất là Đức Cha Đaminh Nguyễn văn Lăng, Giám mục Xuân lộc. Khi thấy người ta nói những lời sai trái về các thánh tử đạo, về Giáo hội, Ngài không chịu được. Ngài bất ngờ qua đời đêm 22-02-1988. trong tay c̣n mở tờ báo Công giáo Dân tộc với bài viết chống việc phong thánh. Rơ ràng bài báo đọc đêm trước khiến ngài bức xúc, đau khổ rất nhiều trước khi chết. Trường hợp thứ hai là Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh văn Căn. Một lần, ông Mai chí Thọ, đứng đầu ngành công an triệu tập Hội đồng Giám mục để lên án việc phong thánh tử đạo. Ông nói nhiều lời xúc phạm đến các thánh. Từ hàng ghế đầu, Đức Hồng Y Căn đột ngột đứng dậy ra qú giữa hội trường và khóc lớn tiếng nói rằng: Các ông có thể nhục mạ chúng tôi, nhưng không được phép nhục mạ cha ông tổ tiên chúng tôi. Cả hội trường xôn xao. Rồi hội nghị bẽ bàng kết thúc không kèn không trống. Các ngài đă minh chứng một đức tin lớn lao. Đức tin đó khiến các ngài đồng cảm với Giáo hội. Đức tin đó khiến các ngài hiệp thông với khổ h́nh của các Thánh Tử Đạo, đến nỗi chịu nhục nhă v́ các ngài. Và đau khổ đến chết v́ các ngài. Chính nhờ thế việc Tuyên Thánh vẫn tiến hành. Chính nhờ thế Giáo hội Việt nam vẫn vững vàng phát triển qua những khó khăn thử thách.

 

Mừng 25 năm Tuyên Thánh Tử Đạo Việt Nam đúng vào năm Đức Tin, phải chăng Chúa muốn nhắc nhở ta biết ơn cao trọng nhất là ơn đức tin. Và điều quan trong nhất trong đời là thực hành đức tin. Và trong thời kỳ Tân PHúc âm hóa, ta càng phải sống đức tin. Tertuliano nói: Máu tử đạo là hạt giống sinh người tín hữu. Tôi xin nói cách khác. Đức tin chính là hạt giống sinh đức tin. Các thánh tử đạo là hạt giống đức tin gieo xuống, chịu mục nát đi, đă sinh hoa kết quả ban cho Giáo hội Việt nam mùa gặt đức tin dồi dào phong phú.

 

Trong tâm t́nh tạ ơn long trọng, ta hăy cùng vua Salômn nài xin Thiên Chúa tiếp tục ở với chúng ta như đă ở với cha ông chúng ta. Ta hăy cùng thánh Phaolô tạ ơn v́ Chúa không để ta thiếu một ân huệ nào. Và để đáp lại, ta hăy nghe lời Chúa dạy: “Hăy kể lại cho mọi người biết việc Chúa đă làm” cho dân tộc Việt Nam. Ta hăy loan truyền ơn lành của Chúa bằng chính đời sống đức tin trong thời đại mới. Đức tin bằng việc làm thật sự. Đức tin trong những hi sinh từ bỏ đau đớn v́ không chiều theo những áp lực, dù ngọt ngào của thời đại hôm nay. Đức tin sẵn sàng chịu đau khổ, chịu thiệt tḥi v́ Chúa.

 

Lạy Chúa, chúng con xin tạ ơn Chúa muôn đời. Lạy Các Thánh Tử Đạo Việt Nam xin cầu cho chúng con. Amen.

 

+ TGM.Giuse Ngô Quang Kiệt

VỀ MỤC LỤC

Text Box: TRÁCH NHIỆM LÀM NGƯỜI
 

 

 


Kính gởi : linh mục, tu sĩ, giáo dân, trong gia đ́nh giáo phận

Anh chị em rất thân mến,

 

1.    Trách nhiệm làm người hôm nay.

 

Tập "Hướng Dẫn Mục Vụ" năm Đức Tin gợi ư cho chúng ta, trong tháng 7.2013, quan tâm đặc biệt đến trách nhiệm làm người chăm lo cho gia đ́nh, cho cộng đoàn trong Giáo Hội, trong xă hội. Lời Chủ Chăn tháng 7 nầy ghi nhận lại những cảm nghĩ về trách nhiệm làm người trước những thách đố của xă hội theo nền kinh tế thị trường hôm nay, với nhiều mâu thuẫn và bất hợp lư, nhiều bạo lực và đấu tranh loại trừ nhau.

Qua bí tích Thánh Tẩy, Thánh Thể, Thêm Sức, Hôn Phối, Truyền Chức Thánh, mọi thành phần dân Chúa, linh mục, tu sĩ, giáo dân, được mời gọi chia sẻ chức năng mục tử của Chúa Giêsu trong việc chăm lo cho gia đ́nh, cho cộng đoàn trong Giáo Hội cũng như trong xă hội. Đồng thời cùng chia sẻ đời sống cầu nguyện của Ngài và đón nhận ơn Chúa Thánh Thần đổi mới ḷng trí con người, giúp mỗi người ngày càng trở nên mục tử như ḷng Chúa mong muốn, và như dân Chúa mong đợi.

 

2. Thế nào là người mục tử như ḷng Chúa mong muốn?

Thiên Chúa là Cha giàu ḷng từ bi, nhân hậu, đă thương gửi đến cho chúng ta Người Con Một là Đức Giêsu. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa làm người thể hiện ḷng Chúa thương xót vô biên trong sứ vụ phục vụ cho sự sống của gia đ́nh nhân loại. Đó là mẫu gương tuyệt vời cho mọi người đảm nhận sứ mạng yêu thương chăm lo và dẫn dắt đoàn dân Chúa đi đến sự sống mới, sự sống dồi dào trong ánh sáng chân lư và an b́nh. Trong khi thi hành sứ vụ nầy, Đức Giêsu thể hiện ḷng Chúa từ bi thương xót vô biên đối với mọi hạng người trong cộng đồng xă hội.

Đối với các tông đồ, môn đệ trong mọi hoàn cảnh, cả lúc phản Thầy và thỏa hiệp trục lợi, như Giuđa. Lúc sử dụng bạo lực chống trả bất công rồi lại chối Thầy, như Phêrô. Lúc nguy khó th́ bỏ cuộc về làng quê ḿnh, như hai môn đệ làng Êmau...

Đối với người dân cùng khổ, bệnh tật, lúc cùng nhau kéo đến từ mọi miền đất nước, theo chân Ngài nhiều ngày, cậy nhờ ḷng thương xót vô biên của Ngài giúp họ vượt qua đói kém, bệnh tật, chết chóc...

Đối với những nhà cầm quyền muốn loại trừ Ngài, hành h́nh Ngài, đóng đinh Ngài. Lúc Ngài đang hấp hối trên thập giá, Ngài xin Cha trên trời ban cho họ ḷng từ bi, bao dung, thương xót, hỷ xả hành vi vô nhân, bất công của họ...

 

3. Thế nào là người mục tử như ḷng dân mong đợi?

Có hai loại quyền lực trong gia đ́nh, trong cộng đoàn, trong xă hội : quyền lực cứng và quyền lực mềm. Quyền lực cứng làm cho mọi người sợ và tránh né, hoặc làm cho họ bất măn và chống trả...Trong gia đ́nh, quyền lực cứng được thể hiện khi cha mẹ bày tỏ sự tức giận, la rầy, đánh đập, xua đuổi con cái... Trong Giáo Hội và trong xă hội, khi những người lănh đạo làm ra luật lệ mang tính chuyên chế và phi nhân bản, không mang tính thiên thời, địa lợi, nhân ḥa, khi cách đối xử của họ làm cho mọi người sợ sệt, tránh né, hoặc bất măn, chống đối...

 

Quyền lực mềm, lôi cuốn, hấp dẫn, mọi người. Tấm gương quyền lực mềm rơ ràng nhất mà chúng ta có thể t́m gặp nơi Đức Giáo Hoàng Phanxicô khi Ngài thi hành quyền bính và sứ vụ Phêrô, với con tim đầy ḷng Chúa từ bi thương xót đối với mọi người, đặc biệt đối với người nghèo khổ, bị xă hội bỏ rơi, loại trừ. Ngài thể hiện ḷng Chúa từ bi thương xót qua nhiều cử chỉ khác nhau :

- Như qua cử chỉ hôn nhẫn hồng y của tôi, v́ tôi đồng hành với dân Chúa Việt Nam trung thành sống ḷng tin cậy mến trong hoàn cảnh gặp nhiều mất mát, khó khăn, thử thách.

- Như qua cử hành nghi thức Rửa chân Thứ Năm Tuần Thánh với cho những người trẻ sống trong nhà tù giam hăm con người trong tuyệt vọng.

- Vượt mọi rào cản, nề nếp, đến với trẻ nhỏ, gặp gỡ mọi người, tiếp cận với bệnh nhân...

- Trong cuộc gặp gỡ với Hội Đồng Giám Mục Ư gồm 245 Hồng Y, Giám Mục, Đức Thánh Cha chỉ cho thấy những sai xót trong quan hệ đạo đời. Kết thúc, Ngài đến thân mật bắt tay từng vị một trong số 245 Hồng Y, Giám Mục...

- Mời gọi dân Chúa năm châu cùng với Ngài chầu Chúa Giêsu Thánh Thể, chiêm ngắm đỉnh cao ḷng Chúa thương xót nơi cử chỉ hiến thân, hiến cả mạng sống ḿnh v́ sự sống và sự hợp nhất của gia đ́nh nhân loại...

 

4. Cầu nguyện và cộng tác với ơn đổi mới của Chúa Thánh Thần

 

Gần đây, Đức Thánh Cha Phanxicô có lời khuyên các mục tử đang chăm lo đời sống con người : - hăy kiên tŕ cầu nguyện và cộng tác với ơn đổi mới của Chúa Thánh Thần giúp ḿnh ngày càng trở nên mục tử nhân lành, - bằng không, người mục tử có nguy cơ trở thành sói dữ, làm cho chiên khiếp sợ và tránh né, thậm chí sát hại chiên. Suy nghĩ về lời khuyên đó cùng những chỉ dẫn về cầu nguyện, đồng thời nh́n lại đời sống cầu nguyện của bản thân cũng như của mọi thành phần dân Chúa, đặc biệt là buổi gia đ́nh giáo phận cùng cầu nguyện hiệp thông với Chúa Giêsu Thánh Thể, vào lúc 22:00g Chúa Nhật 2.6.2013 vừa qua, tôi ghi nhận lại những chỉ dẫn cốt yếu về việc cầu nguyện với ḷng đầy tin cậy mến, và những hiệu quả kỳ diệu mà việc cầu nguyện mang lại cho nhiều người, nhiều gia đ́nh. Nhằm mở đường cho đời sống cầu nguyện của người tín hữu vượt qua thói quen vô ư thức, cùng khung nếp gây nhàm chán cho nhiều người, đặc biệt người trẻ hôm nay.

 

5. Cầu nguyện với ḷng đầy tin cậy mến

 

Cầu nguyện là gặp gỡ Chúa Cha, cội rễT́nh Yêu nhân hậu,

Là chiêm ngắm Chúa Con đầy ḷng từ bi thương xót vô biên,

Kết hợp Với Thánh Thần, suối nguồn T́nh Chúa bao dung vô tận.

 

Chân thành cầu nguyện là mở rộng ḷng trí với Cha trên trời,

Đón nhận Lời Ngài là Lời ban ánh sáng Chân Lư và An B́nh,

Lời ban sức sống mới chan ḥa từ bi bao dung nhân hậu.

 

Chuyên cần cầu nguyện là nguồn nước trong lành,

Tưới cho hạt mầm mọi hồng ân Chúa thương ban,

Phát triển xanh tươi, trổ hoa thơm, sanh trái lành.

 

Cầu nguyện tăng năng lực đổi mới quyền lực trong xă hội,

Từ quyền lực cứng gây nên nghi ngại sợ sệt, tạo ra chống đối,

Thành quyền lực mềm hấp dẫn lôi cuốn nhân tâm người người.

 

Cầu nguyện giúp mọi người chuyên lo cho gia đ́nh cùng xă hội,

Thoát khỏi nguy cơ thành sói dữ, làm chiên sợ, thậm chí hại chiên,

Ngày càng trở nên chủ chiên lành hy sinh v́ sự sống của đoàn chiên.

 

Chuyên cần cùng cầu nguyện trong gia đ́nh, trong cộng đoàn,

Giúp mọi người, mọi thế hệ, liên kết và hợp nhất nên một,

Luôn sống đồng tâm với nhau trong yêu thương và an b́nh.

 

Gioan B. Phạm Minh Mẫn - Hồng Y Tổng Giám mục

VỀ MỤC LỤC

Text Box: MUỐN HIỂU ĐÚNG NEW EVANGELIZATION
 


           

Con đă cố gắng liên hệ với một số linh mục (học tṛ cũ ) đang rao giảng Tin Mừng ở Đài loan . Đây là bài của Cha Antôn Mai Trọng Minh mấy năm rao giảng Lời Chúa ở Đài loan và bây giờ du học và tồt nghiệp tại Mỹ viết cho con, Con xin gửi đến Quư Đức Cha, Quư Cha và các bạn đọc .

Lm. PX. Nguyễn Hùng Oánh (giới thiệu bài viết)

 

I. Evangelizing, evangelize và evangelist:

Trong Hiến Chế Tín Lư về Giáo Hội số 17 (Lumen Gentium) Giáo Hội coi lời thánh Phaolô như lời tự nhủ chính ḿnh: “khốn cho tôi nếu tôi không giảng tin mừng” (1 Cor. 9:16) và không ngừng sai các sứ giả Tin Mừng đến giúp đỡ những giáo hội trẻ cho đến khi tự họ vững mạnh và có thể tiếp tục công việc rao giảng Tin Mừng.” (She makes the words of the Apostle her own: “Woe to me, if I do not preach the Gospel, and continues unceasingly to send heralds of the Gospel until such time as the infant churches are fully established and can themselves continue the work of evangelizing.) (vat lumen, web)

Bản dịch Hán ngữ: 「如果不傳福音,我就有禍了!」(格前:九,16),便繼續不斷地派遣福音使者,使有一日新生的教會健全地設立起來,而且也負起宣傳福音的責任(LG 17) chữ evangelizing tương đương với chữ (Tuyên truyền Phúc Âm)

Danh động từ evangelizing phát xuất từ động từ evangelize có nghĩa là rao giảng tin mừng (to preach the Gospel to) (Cf. Mer evan, web)

Danh từ evangelist, nghĩa là Người loan báo tin mừng, (bản dịch nhóm PVCGK, xem cat con, web) được sử dụng trong Cv 21:8, Ephêsô 4:11, và 2 Timothê 4:5.

Từ điển Bách Khoa Công Giáo khi bàn về danh từ evangelist viết: “The Apostles, indeed, were evangelists, inasmuch as they preached the Gospel (Acts 8:25; 14:20; 1 Corinthians 1:17); Philip likewise was both a deacon (Acts 6:5) and an evangelist (Acts 8:4-5; 8:40; 21:8); in like manner was St. Timothy exhorted by St. Paul to do the work of an evangelist (2 Timothy 4:5).” (new cath, web) “Các Tông đồ là evangelists, v́ họ loan báo Tin Mừng; Philip vừa là thầy sáu vừa là Người loan báo Tin Mừng; trong cùng cách thức, thánh Phaolô khích lệ thánh Timôthê làm công việc của người loan báo Tin Mừng.” (2 Timôthê 4,5)

Bản dịch Hán ngữ dịch từ evangelist là 傳揚福音者(Người rao giảng Phúc Âm.) (cath 05645, web)

II. Bàn về từ ngữ the new evangelization

Tông thư Tertio Millennio Adveniente, số 21 của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ra ngày 14 tháng 11 năm 1994, viết: “The theme underlying them all is evangelization, or rather the new evangelization, the foundations of which were laid down in the apostolic exhortation Evangelii Nuntiandi of Pope Paul VI...” (new jp02, web) “chủ đề đặt nền tảng cho tất cả là rao giảng Tin Mừng, hay đúng hơn là cách thức mới rao giảng Tin Mừng, bắt nguồn từ những ǵ được viết trong Tông huấn Evangelii Nuntiandi của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI…”

Văn kiện của thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới lần thứ XIII, THE NEW EVANGELIZATION FOR THE TRANSMISSION OF THE CHRISTIAN FAITH (Phương pháp mới cho việc rao giảng đức tin Kitô Giáo) số 45 khi nói về ư nghĩa cụm từ new evangelization viết: "The commemoration of this half of the millennium of evangelization will achieve its full meaning, if as bishops, with your priests and faithful, you accept it as your commitment; a commitment, not of re-evangelization, but rather of a new evangelization; new in its ardour, methods and expression.” (new jp02, web) “sự tưởng niệm về rao giảng Tin Mừng trong nửa thiên niên kỷ sẽ đạt được trọn ư nghĩa của nó, nếu với tư cách là các giám mục, cùng các linh mục và các giáo hữu của các ngài chấp nhận nó như sự dâng hiến, không phải tái tuyên giảng Phúc Âm, nhưng đúng hơn là cách thức mới để rao giảng Phúc Âm; mới trong sự nhiệt thành, phương pháp và diễn đạt.” Hơn nữa Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhấn mạnh “sự nhận thức mới về sứ vụ cứu độ mà Giáo Hội nhận từ Đức Kitô.”(xem vat_instru, web)

Vậy new evangelization phải hiểu là cách thức mới để rao giảng Phúc Âm chứ không thể hiểu là Tin Mừng mới hay Phúc âm mới.

The new evangelization dịch theo tiếng Hán là 新福傳 TÂN PHÚC TRUYềN (Cách mới rao giảng Phúc Âm.) (Xem dic ZnewE, web) 福傳 (phúc truyền=Rao giảng Phúc Âm) được sử dụng như danh từ như khi viết 福傳工作 (Công việc rao giảng Phúc Âm)

 

III. Ư nghĩa từ ngữ Phúc âm hóa:

Ư nghĩa chữ hóa: Theo Hán Việt từ điển trích dẫn (hanviet, web) chữ hóa có nghĩa như sau: (Động từ) Đặt sau tính từ hoặc dành từ, biểu thị chuyển biến thành trạng thái hay tính chất nào đó. Như: lục hóa , ác hóa , điện khí hóa , khoa học hóa , hiện đại hóa .

Phúc âm hóa có nghĩa là làm cho chuyển biến theo tinh thần Phúc Âm.

IV. Tân Phúc Âm hóa:

Bây giờ bàn về cụm từ tân Phúc Âm hóa新福音化. Bởi v́ chữ tân (mới) làm tính từ không thể đứng trước để bổ nghĩa cho động từ hóa. Theo đúng văn phạm Hán th́ Tân Phúc Âm hóa có nghĩa là làm cho chuyển biến theo tinh thần Phúc Âm mới (Tân Phúc Âm). Ở đây chữ tân bổ nghĩa cho Phúc Âm chứ không thể bổ nghĩa cho động từ hóa. (Chữ hóa nếu sử dụng như danh từ th́ ư nghĩa sẽ khác hẳn và không phù hợp với chữ new evangelization.) Khi viết như thế th́ lại nảy sinh ra Phúc Âm mới. Điều này hoàn toàn xa lạ với Giáo Hội Công Giáo.

Ngược lại, Đức giáo hoàng Gioan XXIII không muốn thay đổi một chân lư đức tin nào. Ư định của ngài khi triệu tập công đồng được trích lại trong cuốn 101 Question and answers on Vatican II như sau: “Pope John said he didn’t want to change any of the articles of faith. He did want the council Fathers to figure out new ways of getting the faith message across to the world.” (Sullivan, p.13) “Đức Giáo Hoàng Gioan nói rằng ngài không muốn thay đổi bất kỳ chân lư đức tin nào. Ngài mong muốn các nghị phụ của công đồng t́m ra phương thức mới để truyền đạt sứ điệp đức tin cho thế giới.”

Nói tóm, Giáo Hội đón nhận và bảo tồn đức tin tinh tuyền từ Đức Kitô. Giáo Hội luôn phải t́m ra cho ḿnh sự nhiệt thành mới và cách thức mới, phù hợp với từng thời đại để truyền đạt cho nhân loại sứ điệp Tin Mừng mà ḿnh đă đón nhận. Đó là ư nghĩa của New evangelization (Tân Phúc Truyền.)

Linh mục Antôn Mai Trọng Minh

 

VỀ MỤC LỤC

Text Box: ĐÔI THOẠI NĂM ĐƯC TIN - CON NGƯỜI CÓ LINH HỒN KHÔNG ?
 

 

 


VÂN ĐÊ 07: Tôi đă ở bên rất nhiều người sắp chết, mà khi họ chết tôi chẳng thấy có linh hồn nào bay ra cả. Các nhà tôn giáo lợi dụng bản năng muốn tồn tại măi của con người nên đă bày đặt ra linh hồn thiêng lieng bất tử để làm tiền những người ngu dốt tin theo. Thực sự chết đi là hết.

TRẢ LỜI:

I. CON NGƯỜI CÓ LINH HỒN, NHƯNG THIÊNG LIÊNG NÊN TA KHÔNG THẤY ĐƯỢC.

1. Giác quan con người có giới hạn:

Trong vũ trụ thiên nhiên, có nhiều vật hiện hữu thực sự, nhưng lại vượt quá tầm tiếp nhận của giác quan con người. Chẳng hạn: Mắt ta đâu có xem thấy ḍng điện, đâu nh́n thấy được quang tuyến X, tia xích ngoại tuyến hay tử ngoại tuyến… Nhưng ai dám quả quyết không có điện, không có những tia kia? Giả như tạo hóa cho mắt con người xem được 4000 tỷ rung động của ánh sáng trong một giây đồng hồ, th́ bộ mặt thực chung quanh ta sẽ thay đổi hẳn: Chúng ta sẽ chỉ c̣n thấy các bộ xương ngướ đeo đồng hồ ṭn ten ở cổ tay đi lang thang ngoài đường phố: Tai cũng thế, nó chỉ có thể tiếp nhận âm thanh trong một giới hạn nào đó. Tai của loài chó được huấn luyện có thể nghe được tiếng c̣i siêu âm của chủ, đang khi tai con người đành chịu bất lực không thê nghe được.

Như vậy, KHÔNG XEM THẤY LINH HỒN BAY RA NƠI MÔT NGƯỜI CHẾT, KHÔNG PHẢI LÀ YẾU TỐ ĐỦ ĐỂ QUẢ QUYẾT CON NGƯỜI KHÔNG CÓ LINH HỒN.

2. Con người có linh hồn có đăc tính thiêng liêng :

Con người có linh hồn, nhưng sở dĩ ta không thấy được v́ linh hồn có đặc tính thiêng liêng vô h́nh khác hẳn vật chất. Cũng như dù không trông thấy ḍng điện nhưng ta vẫn công nhận có điện, khi thấy được hiệu quả của nó làm sáng bóng đèn, làm quay máy quạt thế nào, th́ cũng vậy, dù mắt ta không trông thấy linh hồn thiêng liêng nhưng vẫn công nhận có linh hồn, nhờ thấy được hiệu quả của linh hồn làm cho thân xác sống động, và là nguyên nhân phát sinh tư tưởng và ư chí tự do qua trung gian óc năo con người.

II. CHẾT KHÔNG PHẢI LÀ HẾT.

Con người vốn có 2 phần: thân xác vật chất và linh hồn thiêng liêng siêu h́nh. Chết là khi thân xác không c̣n sống động, không ăn uống, đi đứng, nói năng suy nghĩ... Nói cách khác: chết là khi linh hồn ĺa ra khỏi xác. Khi ấy thân xác chỉ c̣n là một khối vật chất, gồm những tế bào không liên kết chặt chẽ với nhau như khi c̣n sống, v́ thiếu sợi dây kết hợp là linh hồn. Xác con người sẽ theo định luật biến hóa của vật chất như bao vật khác: thịt xương, sẽ bị thối rữa do ảnh hưởng của nhiệt độ, không khí, vi trùng,v.v…để trở thành những chất khác.

Chết đi không phải là hết như có người lầm tưởng, v́ linh hồn con người không tiêu tan theo thể xác, nhưng sẽ c̣n tồn tại măi v́ những lư do như sau:

1. V́ linh hồn có đặc tính thiêng liêng:

Linh hồn là nguyên lư sự sống của thân xác con người. Người ta chỉ có thể nh́n thấy hiệu quả của sự sống với hai tài năng là trí khôn và ư chí, nhưng không thể thấy được v́ có đặc tính thiêng liêng vô h́nh. V́ linh hồn không phải vật chất cũng không bị biến hóa do ảnh hưởng của hoàn cảnh vật chất theo các định luật tiến hóa, nên linh hồn bất diệt, và luôn tồn tại măi măi.

2. V́ là một điều hợp lư:

a) Nh́n vào vạn vật trong vũ trụ thiên nhiên, ta nhận thấy có một sự xếp đặt trật tự hoàn hảo, vật dưới phải phục vụ cho vật trên, vật này làm thỏa măn vật khác. Chẳng hạn: Mắt có khả năng và nhiệm vụ xem th́ trong thực tế đă có ánh sáng, h́nh thể, màu sắc… đáp ứng với khả năng xem ấy. Tai có khả năng và nhiệm vụ nghe th́ thực sự đă có âm thanh, tiếng đông làm thỏa măn khả năng nghe ấy. Con cá có khả năng và nhu cầu sống dưới nước, th́ khi thấy ở đâu có cá, đương nhiên ta cũng thấy có nước là thỏa măn nhu cầu cần nước ấy v.v…Cũng thế, về phạm vi tinh thần, hầu như mọi người đều tự nhiên muốn đươc tồn tại măi măi, đều có nhu cẩu được trường sinh bất tử… th́ thực tế cũng phải có đời sống vĩnh cửu sau khi chết để đáp ưng ước vọng chung tự nhiên ấy mới hợp lư.

b) Giả như bạn có thể nói chuyện với một bào thai, th́ bạn sẽ nói với nó vê một đời sống tương lai của bào thai mà chính bạn đă có kinh nghệm và thực sự đang sống như sau:

- Hỡi bào thai, đời sống của mày ngắn ngủi nhưng tiếp theo c̣n một đời sống khác thực sự và lâu dài.

Vậy bào thai sẽ trả lời bạn ra sao? Nếu thiếu suy nghĩ th́ chắc nó sẽ trả lời:

- Tôi chỉ công nhận có thực những ǵ tôi trông thấy và kiểm nghiệm được. Do đó chỉ có một đời sống hiện tại tôi đang sống, c̣n đời sống khác như ông nói chỉ là sự bịa đặt mê tín, không thể tin được.

Nhưng nếu có chút trí khôn suy nghĩ chắc bào thai sẽ cho rằng bạn có lư và tự nhủ:

- Ừ nhỉ, đây tôi có hai tay, mỗi ngày một phát triển hoàn bị thêm, Thế mà tôi chẳng cần dùng tới nó chút nào cả. Tôi cũng không thể duỗi chúng ra được! Nhưng tại sao tôi lại có hai cánh tay? Chắc là để dành cho một chặng đường tương lai mà sau này tôi sẽ cần đến chúng. Chân tôi cũng mọc dài ra mà tôi cũng phải buộc co gấp chúng. Vậy có chân làm ǵ trong khi hiện giờ tôi không cần mà mỗi ngày nó một phát triển thêm? Chắc là tôi sẽ phải sống ở một hoàn cảnh khác mà ở đó tôi sẽ phải sử dụng chân để bước đi. Tại sao có hai mắt? Trong căn pḥng tối tăm dày đặc này th́ có mắt cũng như mù. Vậy có mắt để làm ǵ? Chắc là tôi sẽ bước sang một thế giới đầy màu sắc và ánh sáng và khi ấy tôi sẽ cần sử dụng tới đôi mắt…

Tóm lại: Nếu bào thai có thể suy nghĩ về sự tiến triển của nó, th́ nó sẽ hiểu rằng: Phải có một đời sống khác ngoài bụng mẹ, đời sống mà hiện nay nó chưa có chút kinh nghiệm, nhưng chắc chắn phải có v́ hợp với nhu cầu phát triên tự nhiên của nó.

- Đối với linh hồn con người với hai tài năng là trí khôn và ḷng muốn cũng vậy: khi c̣n trẻ, chúng ta thường suy xét thiếu khôn ngoan. Nhưng với năm tháng, dần dần trí óc học hỏi mở mang theo và con người mỗi ngày càng tăng thêm vốn liếng hiểu biết, khôn ngoan. Thế rồi khi chưa sử dụng sự khôn ngoan được bao lâu, th́ thần chết lại đến dẫn đưa chúng ta xuống mồ. Như vậy, trí khôn thêm hiểu biết khôn ngoan làm ǵ nếu thực sự chết đi là hết? Vậy cũng như tay chân, mặt mũi dần dần xuất hiện với bào thai là để đề pḥng cho đời sống ngoài đời thế nào, th́ tâm hồn con người dần dần thêm kiến thức khôn ngoan, cũng là để nhằm đến đời sống khác thiêng liêng vĩnh cửu sau khi chết vậy.

- Hơn nũa nếu chết là hết thực sự th́ người tốt có khác ǵ kẻ xấu? Kẻ ăn trộm, tiểu nhân với những bậc vĩ nhân quân tử có ǵ là khác biệt ? Nếu chết là hết th́ cần chi phải kêu gọi từ bi hỉ xả, đề cao sự lương thiện công bằng? Chết mà hết thực sự th́ ai làm lành là ngu, nhân từ là nhu nhược, bác ái là dại dột. Chết mà hết th́ sống trên đời cứ việc giết người cướp của thật nhiều, hưởng thụ khoáí lạc cho đă, cần chi phải đề cao tinh thần nhân đạo? Chết mà hết th́ tại sao phải cử hành giây phút mạc niệm anh linh những liệt sĩ ? Dựng đài tưởng niệm hoặc dâng hương trước di ảnh người quá cố? Nhưng may mắn thay, hầu hết nhân loại đều không thưa nhận chết là hết, mà mọi người đều tin chắc chắn có đời sống vĩnh cửu sau khi chết.

Socrate, nhà hiền triết Hi Lap thế kỉ năm trước công nguyên, khi được một người bạn hỏi ư kiến về việc chôn cất ông như thế nào, ông trả lời : ”Anh có thể vùi thân xác tôi như thế nào tùy ư … nhưng c̣n chính tôi, anh không thể chôn vùi được.” câu nói ấy đă chứng tỏ Socrate tin tưởng linh hồn vẫn c̣n tồn tại sau khi chết.

Nghiên cứu những di tích thơi kỳ tiền sử ta thấy một điểu chắc chắn là mọi dân tộc đều tin có đời sống trường cửu sau khi chết. Thực vậy, từ Âu sang Á, từ Bắc xuống Nam, ở Úc cũng như ở Mỹ hoặc Trung Hoa, đâu đâu cũng có những dấu tích chứng minh con người tin tưởng một đời sống bất diệt khi ho đê khí giới, dụng cụ, lương thực trong tầm tay người chết là có ư đê họ có thể sử dụng ở thế giới bên kia. Trong mộ chôn của người Ai Cập hầu hết đều có thuyền bồng, là để cho người quá cố đi sang kiếp khác. Ngày nay dân Pic-mê, một dân tộc sống trong thâm sơn cùng cốc ở Phi Châu, Úc Châu tượng trưng cho cố nhân ngày xưa c̣n tồn tại, cũng tin linh hồn bất tử. Nói đâu xa, nếu ai đó muốn điều tra về ḷng tin tưởng linh hồn bất diệt của con người thời đại ngày nay như thế nào, th́ cứ ra nghĩa trang trong những ngày lễ các linh hồn, hoặc ngày lễ Vu Lan … sẽ biết.

Ngay những người ngoài miệng tuyên bố không tin, nhưng trong thực hành vẫn làm những việc chứng tỏ ḷng tin vào lúc sắp chết, nhiều người đă bỏ lập trường của ḿnh đê quay về với niềm tin: Điển h́nh hơn cả là cái chết của Voltaire, một người chống đối tôn giáo say mê nhất. Với ng̣i bút sắc bén, ông đă cố hạ bệ Thiên Chúa và đánh đổ Giáo hội. Châm ngôn của ông là: ”Phải tiêu diệt đứa quái gở“ (tiếng dùng để ám chỉ Thiên Chúa). Không một lời gian dối nào mà ông tởm gớm, không một lời cáo gian nào mà ông ghê sợ. Ông chiêu mộ một nhóm người lấy tên là nhóm “Anh em Beelzebuth” với mục đích t́m cách hạ bệ Thiên Chúa . Năm 1753 ông đă tuyên án cho Thiên Chúa như sau: “20 năm nữa Thiên Chúa có thể hồi hưu, v́ không c̣n ai thèm phục vụ Ngài nữa“. Đúng 20 năm sau, năm 1773 Voltaire đă tắt thở cách thê thảm trên giường bệnh. Khi gần chết ông trông thấy những h́nh ảnh rùng ḿnh ghê rợn đến nỗi ông la lên : “Một bàn tay đang lôi kéo tôi đến với Đức Chúa trời … Đây quỷ muốn tôi … Tôi trông thâư hỏa ngục ghê quá“. Rồi ông tru trếu gầm thét như thú vật hung dữ, lấy móng tay cấu xé thịt ḿnh và rứt ra từng miếng. Một bà già chuyên giúp đỡ những người hấp hối sau khi chứng kiến cái chết của Voltaire đă nói: “Khi ấy tôi ở gần giường Voltaire đang hấp hối. Tôi không c̣n muốn chứng kiến 1 người vô đạo chết nữa”. Một người khác cũng đă nói thêm: “nếu quỉ có thể chết được th́ chắc cũng không chết dữ như Voltaire”.

3. V́ chính Thiên chúa đă mạc khải cho biết có đời sống vĩnh cửu

Ngoài những lư lẽ suy luận của trí khôn nói trên, những người Thiên Chúa giáo c̣n có một lư chứng chắc chắn có đời sống vĩnh cửu sau khi chết dựa vào mạc khải của Thiên Chúa trong Thánh Kinh, đặc biệt là lời giảng dạy của Đức Giesu về đời sống của con người sau khi chết như sau: ”Linh hồn con người sẽ chịu xét xử về công việc của ḿnh đă làm khi c̣n sống. Đến ngày tận thế, mọi xác chết đều được Thiên Chúa dùng quyền phép của Ngài mà cho sống lại để cùng chịu phán xét và chung số phận với linh hồn”.

Để chứng minh lời dạy bảo về việc kẻ chết sống lại, Đức Giesu đă dùng quyền phép riêng của Ngài để tự sống lại sau khi chết chưa đủ 3 ngày. Ngài đă hiện ra với các môn đệ nhiều lần, trước khi về trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha.

Thánh Phaolô tông đồ đă viết: “Nếu việc kẻ chết sống lại mà không có th́ Đức Kitô cũng chẳng sống lại. Và nếu Chúa Kitô không sống lại, tất nhiên lời tôi giảng cũng uổng công và Đức tin của chúng ta cũng hóa ra vô ích. Nếu những người chết không sống lại th́ Thiên Chúa đă không cho Ngài sống lại…”

KẾT LUẬN : Với những lư lẽ do dự, suy luận của trí khôn con người, với những lời mạc khải của Thiên Chúa về một đời sống vĩnh cửu sau khi chết, linh hồn con người không bị tiêu hủy nhưng sẽ tồn tại măi măi…Chúng ta có thể quả quyết mà không sợ lầm lẫn: CHẾT ĐI KHÔNG PHẢI LÀ HẾT, CHẾT KHÔNG PHẢI LÀ TRỞ VỀ VỚI HƯ VÔ NHƯNG LINH HỒN SẼ TỒN TẠI MĂI ĐỂ ĐƯỢC HẠNH PHÚC BẤT DIỆT HAY SẼ PHẢI TRẦM LUÂN NƠI HỎA NGỤC MUÔN ĐỜI, TÙY THEO ĐỜI SỐNG CỦA CON NGƯỜI KHI C̉N SỐNG Ở TRẦN GIAN NÀY.

PHÚT HÔI TÂM

Chúa phán: “Linh hồn Thầy buồn phiền đến nỗi chết , anh em ở lại đây và tỉnh thức vơi Thây..."(Mc 14,,28-31). “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha”

Lạy Chúa Giê-su. Qua lơi Chúa câu nguyên, chúng con xác tin răng: môi ngươi chúng con đêu có môt linh hôn thiêng liêng bât . Làm cho than xác song đông. Chêt là khi linh hôn ĺa ra khỏi xác vê vơi Thiên Chúa, Đâng đă thô3i hơi ban linh hôn cho than xác băng bùn đât của A-đam xưa. Xin cho chúng con luôn song đẹp long Chúa, đê sau này con đươc Chúa đón nhân vào Nươc Chúa muôn đơi. Amen.

LM ĐAN VINH- HHTM

 

VỀ MỤC LỤC

Text Box: Mẹ và bạn gái
 

Lm. Minh Anh chuyển ngữ

Nguyên tác: Taking Flight - Bay Lên Đi

Tác giả: Anthony de Mello, S.J.

Chỉ dẫn:

Tốt nhất, các câu chuyện sẽ được đọc theo thứ tự như đă sắp xếp. Mỗi lần đọc không quá một hoặc hai mẩu chuyện nếu bạn ước ao có được một cái ǵ đó hơn là chỉ giải trí.

Lưu ư:

Các chuyện kể trong tập sách này đến từ nhiều đất nước, nhiều nền văn hoá và tôn giáo khác nhau; chúng thuộc về những di sản thiêng liêng, những câu chuyện hài hước được ưa chuộng của ḍng đời nhân loại.

Những ǵ tác giả làm là xâu kết chúng lại với nhau theo một ư hướng đặc thù. Công việc của tác giả là công việc của người thợ dệt và thợ nhuộm, tác giả chẳng có công trạng ǵ về những tấm vải và những sợi chỉ.

LTS. Chỉ dẫn và lưu ư trên đây là của tác giả. Tuy nhiên, v́ Đặc San GSVN chỉ phát hành 2 tuần một lần nên mỗi số báo BBT xin giới thiệu trung b́nh từ 5 đến 7 mẫu chuyện. Bạn đọc có thể lưu lại để nghiền ngẫm suy .

Chủ đề : BẢN NGĂ

168. Mẹ và bạn gái

Một phụ nữ bị tổn thương trước thái độ của cậu con trai mười lăm tuổi. Mỗi lần họ đi ra ngoài với nhau, cậu đều đi trước bà.

“Ồ, không thưa mẹ”, cậu bối rối trả lời. “Chỉ v́ trông mẹ quá trẻ đến nỗi con sợ bạn con nghi là con có bạn gái mới”.

Sự tổn thương của bà biến mất như thể bởi phép thuật.

ڰ

169. Bánh sinh nhật

Một ông cụ đứng ở cửa một nhà hàng xóm với một miếng bánh trong tay.

“Hôm nay, bà nhà tôi tám mươi sáu tuổi”, ông nói, “và bà ấy muốn anh dùng một miếng bánh sinh nhật của bà”.

Chủ nhà nhận miếng bánh, ḷng đầy cảm kích, đặc biệt v́ ông cụ đă đi bộ nửa dặm để mang đến.

Nửa giờ sau ông cụ trở lại, “Có vấn đề ǵ sao, thưa cụ?”, người kia hỏi.

“Ồ!”, ông lim dim đáp, “Agatha bảo tôi trở lại để nói với anh rằng, bà ấy mới chỉ tám mươi lăm”.

ڰ

170. Giẫm chân lên nhau

Một con gà trống đang bới móc chung quanh chuồng ngựa tại một trang trại lớn.

Con ngựa trở nên lo lắng và bắt đầu đi loanh quanh, con gà ngước nh́n và bảo, “Anh à, tốt hơn cả hai chúng ta nên cẩn thận, bằng không, chúng ta có thể giẫm chân lên nhau đấy”.

Hăy đoán xem con kiến nói ǵ với con voi khi ông Noê cho các con vật xếp hàng để lên tàu.

Nó bảo, “Đừng có đẩy!”.

ڰ

171. Voi và gia đ́nh bọ chét

Một con bọ chét quyết định cùng gia đ́nh dời đến lỗ tai của một con voi. V́ thế nó la lên, “Thưa ông Voi, gia đ́nh tôi và tôi dự định chuyển đến tai ông. Tôi nghĩ phải công bằng khi báo cho ông một tuần để ông xem xét vấn đề và sẽ cho tôi hay liệu ông có phản đối ǵ không”.

Con voi, thậm chí không ư thức đến sự tồn tại của con bọ chét, vẫn giữ điềm tĩnh. V́ thế, sau một tuần cẩn thận chờ đợi, con bọ chét cho rằng con voi đồng ư và chuyển đến.

Một tháng sau, bà bọ chét cho rằng tai voi không phải là nơi lành mạnh để sống và yêu cầu chồng ḿnh chuyển đi. Ông bọ chét van bà ở lại ít nhất một tháng nữa kẻo làm tổn thương cảm xúc của con voi.

Cuối cùng, nó tŕnh bày cách khéo léo có thể, “Thưa ông Voi, chúng tôi dự định chuyển đến vùng khác. Dĩ nhiên điều này không liên can ǵ đến ông, bởi v́ lỗ tai của ông th́ rộng và ấm. Chỉ rằng vợ tôi thích sống bên bạn bè ở chân con trâu. Nếu ông phản đối việc chuyển đi của chúng tôi, xin cho tôi hay trong ṿng một tuần”.

Con voi không nói ǵ, v́ thế con bọ chét thay đổi chỗ ở với một lương tâm trong sạch.

Vũ trụ đâu để ư ǵ đến sự tồn tại của bạn. Cứ thanh thản mà sống!

ڰ

172. Ai quấy rầy ai?

Ca đoàn tập dợt lần cuối trong sự lộn xộn v́ ban đạo cụ đang bận rộn đặt những đường ranh lên sân khấu.

Khi một chàng trai bắt đầu giáng những nhát búa đinh tai không thể chịu được th́ người nhạc trưởng cho ngừng hát và nh́n anh tỏ vẻ van xin.

“Xin nhạc trưởng cứ cho tiếp tục hát”, người công nhân vui vẻ nói, “Họ không quấy rầy tôi”.

ڰ

VỀ MỤC LỤC

Text Box: Những hỗ trợ và khó khăn gia đ́nh có thể mang lại cho linh mục trong thời gian gặp thử thách, đau ốm và yếu đuối.
 

 


Lm. Micae-Phaolo Trần Minh Huy, pss.

BẢN THẢO

ỨNG SINH LINH MỤC HỌC & SỐNG LINH ĐẠO LINH MỤC GIÁO PHẬN

GIÁO TR̀NH TU ĐỨC LỚP THẦN II & III

ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE HÀ NỘI

2011-2012

CHƯƠNG HAI

ỨNG SINH LINH MỤC GIÁO PHẬN HỌC VƯỢT LÊN KHỦNG HOẢNG VÀ TÁI ĐỊNH HƯỚNG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ ƠN GỌI LINH MỤC

C. ỨNG SINH LINH MỤC GIÁO PHẬN HỌC VÀ SỐNG TƯƠNG QUAN VỚI GIA Đ̀NH (tiếp theo)

 

III. Những hỗ trợ và khó khăn gia đ́nh có thể mang lại cho linh mục trong thời gian gặp thử thách, đau ốm và yếu đuối.

 

 

Ngày nay, đời sống linh mục gặp rất nhiều khó khăn do khủng hoảng căn tính linh mục, cũng như do ảnh hưởng của xă hội bị tục hoá và hưởng thụ. T́nh trạng lạm dụng t́nh dục đă làm ảnh hưởng tới uy tín của Giáo hội nói chung và cách riêng hàng linh mục. Đây là những hỗ trợ và khó khăn mà gia đ́nh, bà con có thể mang lại cho linh mục trong thời gian thử thách, đau ốm và yếu đuối, v́ ngoài ơn Chúa nâng đỡ, gia đ́nh và bà con anh chị em cũng đóng một vai tṛ quan trọng cho đời sống và sứ vụ của linh mục, v́ lời cầu nguyện và đời sống gương mẫu của gia đ́nh là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho linh mục.

 

 

III.1. Những hỗ trợ từ phía gia đ́nh

III.1a. Khi linh mục gặp thử thách

·                 Khi linh mục gặp phải những khó khăn trong công việc mục vụ hoặc trong tương quan với bề trên và anh em, gia đ́nh vừa là người ngoài cuộc có cái nh́n khách quan, vừa là người thân cận luôn muốn điều tốt cho linh mục, sẽ có những phân tích, nhận xét và góp ư một cách chân thành cho linh mục dễ dàng hơn.

 

·        Không người nào có thể gần gũi, hiểu biết và cảm thông với linh mục hơn là gia đ́nh, v́ thế, linh mục cũng dễ dàng tin tưởng và đón nhận những góp ư của gia đ́nh ḿnh hơn.

 

·        Khi bị hiểu lầm, con người dễ cảm thấy chán nản, bị cám dỗ thoái chí, ù ĺ, muốn buông xuôi. Lúc này, gia đ́nh là nơi để linh mục có thể giăi bày, chia sẻ để bớt căng thẳng.

 

·        Người thân với những lời khuyên tích cực là nguồn động viên để linh mục thêm can đảm và kiên nhẫn giải quyết vấn đề. Đôi khi, v́ danh dự của gia đ́nh, mà linh mục sẽ cố gắng sống tốt hơn, vượt lên mọi khó khăn thử thách.

 

III.1b. Khi linh mục bị đau ốm

 

Khi đau ốm, người ta thường cảm thấy yếu đuối và cần có người nâng đỡ, ủi an. Tuy có con chiên bổn đạo chăm sóc, nhưng linh mục cũng ngại v́ giáo dân bận rộn việc gia đ́nh, nhất là khi ḿnh đau ốm lâu ngày. Vậy gia đ́nh lui tới chăm sóc và động viên sẽ nâng đỡ linh mục rất nhiều.

 

Người nhà đến chăm sóc và phục vụ sẽ giúp cho linh mục nhiều thuận tiện hơn với những công việc tế nhị như vệ sinh, ăn uống, thuốc men…

 

Ngoài ra, sự gần gũi và t́nh cảm ruột thịt của gia đ́nh cũng tạo cho linh mục niềm tin tưởng ḿnh không bị bỏ rơi, không bị cô đơn.

 

III.1c. Khi linh mục yếu đuối hoặc sa ngă

 

Khi linh mục yếu đuối sa ngă về đời sống t́nh cảm và khiết tịnh, đa số người bên ngoài thường nh́n với con mắt không thiện cảm, thậm chí c̣n chê trách và muốn tẩy chay. Lúc khủng hoảng này, linh mục dễ bị chán nản bỏ cuộc nếu không có người thông cảm, nâng đỡ và góp ư giải quyết.

 

Gia đ́nh, bà con, nhất là cha mẹ, với t́nh cảm ruột thịt, có thể có những lời khuyên bảo tốt nhất cho linh mục quyết tâm vượt qua những yếu đuối ấy.

 

Ngoài danh dự và ơn gọi cá nhân, linh mục sẽ v́ danh dự gia đ́nh mà thêm động lực vươn lên, can đảm đứng dậy khỏi vấp ngă để tiếp tục sứ vụ của ḿnh.

 

 

III.2. Những khó khăn từ phía gia đ́nh

III.2a. Khi linh mục gặp thử thách

Nhiều khi thay v́ nhận được những lời động viên khích lệ  th́ linh mục có thể phải chịu những lời trách móc chê bai từ phía gia đ́nh dễ làm cho bị tổn thương, thất vọng.

 

Một số gia đ́nh, bà con anh chị em có đời sống không tốt khiến linh mục phải suy nghĩ, không yên tâm làm việc mục vụ được rồi dẫn đến chán nản.

 

III.2b. Khi linh mục bị đau ốm

 

Khi đau ốm, cô đơn và chán nản, không ai có thể gần gũi và chăm sóc linh mục tốt bằng bằng t́nh máu mủ ruột thịt của cha mẹ, anh chị em bà con. Nhưng nếu không được gia đ́nh quan tâm động viên th́ linh mục càng cảm thấy cô đơn hơn.

 

Khi ốm đau, bệnh tật mà gặp phải sự hờ hững lạnh nhạt, linh mục càng khổ tâm hơn về mặt tinh thần. Có khi gia đ́nh v́ ở xa nên không thể thường xuyên tới thăm nom và giúp đỡ linh mục được.

 

Nhưng người nhà của linh mục đến phục vụ, giúp đỡ trong lúc đau ốm cũng có sự khó: bị giáo dân hiểu lầm là cha chỉ muốn người nhà đến phục vụ thôi, và cảm thấy xa cách đối với cha xứ của ḿnh.

 

Khi có giáo dân nghĩ “một người làm quan cả họ được nhờ”, sợ người nhà đến thu quén của cải của linh mục mang về, khiến gia đ́nh và anh em họ hàng e ngại không muốn tới phục vụ.

 

Những linh mục cứ phải gia đ́nh bà con đến phục vụ mới yên tâm th́ cũng tội nghiệp cho con chiên bổn đạo phải nghĩ ngợi “khi mạnh khỏe cha phục vụ ḿnh, mà khi đau ốm th́ ḿnh lại bỏ mặc cha!”

 

Khi đau yếu, con người dễ trở nên khó tính khó nết, việc giúp đỡ của gia đ́nh hay bổn đạo cũng là một hy sinh và gánh nặng cho họ.

 

Linh mục cũng có khi tủi thân v́ khi mạnh khỏe, ai cũng năng tới nhờ cậy, mà khi gặp khó khăn, thử thách, đau ốm th́ ai cũng tránh xa, sợ vất vả liên luỵ.

 

III.2c. Khi linh mục yếu đuối hoặc sa ngă

 

Thay v́ cảm thông chia sẻ khi linh mục yếu đuối hoặc sa ngă, gia đ́nh bà con có thể quay ra chỉ trích làm cho linh mục càng cảm thấy tiêu cực và chán nản hơn.

 

Gia đ́nh, bà con anh chị em cũng có khi phải nghĩ ngợi, buồn ḷng v́ linh mục không muốn cho gia đ́nh biết chuyện riêng của ḿnh sợ cha mẹ và anh em họ hàng buồn.

 

Gia đ́nh và bà con cũng có thể xa lánh linh mục v́ sợ phải liên luỵ, làm cho linh mục dễ thất vọng, bỏ cuộc v́ sự xa cách đó.

 

Có thể có hai cảnh trái nghịch: gia đ́nh là chỗ dựa tinh thần tốt nhất cho linh mục, nhất là những khi gặp thử thách, đau ốm hoặc yếu đuối sa ngă, nhưng gia đ́nh cũng có thể gây ra cho linh mục những khó khăn riêng. Ngoài ơn Chúa trợ giúp, linh mục cũng rất cần lời cầu nguyện, sự cảm thông nâng đỡ và chia sẻ từ phía gia đ́nh. Muốn được thế, linh mục cần sống tốt mối tương quan với cha mẹ, anh chị em thân thuộc. Mọi người phải ư thức rằng làm linh mục không phải để thu quén cho gia đ́nh, nhưng là để hiến thân phụng sự Chúa và phục vụ mọi người.

 

Cộng đồng giáo xứ là gia đ́nh thiêng liêng của linh mục. Nếu có được mối tương quan hài ḥa giữa hai gia đ́nh này, gia đ́nh máu mủ và gia đ́nh giáo xứ của linh mục th́ tốt đẹp biết bao nhiêu cho đời sống và sứ vụ của linh mục trong mọi cảnh ngộ.

 

VỀ MỤC LỤC

Text Box: VIÊM KHỚP VÀ CALCIUM
 

 


Kính gởi bác sĩ Nguyễn Ư Đức,

tôi tên là Ninh H Vi ở Sugar Lane, Texas.

Hôm trước tôi có hỏi bác sĩ về chứng mất ngủ. Được bác sĩ giải đáp chu đáo, tận t́nh. Tôi áp dụng một số điều chưa biết và quả là có kết quả. Chẳng hạn thay v́ nằm nướng th́ tôi xuống giường uống sữa nóng và làm lặt vặt. Giấc ngủ t́m lại dễ dàng hơn. Xin cảm ơn bác sĩ rất nhiều.

Tôi có một thắc mắc khác, là gần đây các khớp xương đầu gối hơi đau đau. Đi lên cầu thang hay bước lên xe cũng phải chùng người xuống xong mới trở lại b́nh thường. Tôi "nghi" là bị lăo hoá khớp xương. Nếu vậy th́ hơi sớm với tôi (54 tuổi). Các người quen tôi có người 70 vẫn chạy nhảy ào ào.

Nếu muốn khớp xương cứng mạnh hơn tôi có cần uống thêm calcium bán ở các hiệu thuốc tây không hay là cảm giác này do ảnh hưởng bởi thời tiết đang thay đổi mùa.

Bác sĩ cho tôi lời khuyên là tôi cần bổ sung chất xương hay chờ xem thời tiết ổn định hơn?

Chào bà Ninh

Các cụ ta vẫn nói “Ăn được ngủ được là Tiên”.

Xin mừng bà đang là “Tiên” một nửa. Tiên ½ v́ bây giờ do áp dụng vài mẹo vặt mà tôi đề nghị, bà đă có giấc ngủ dễ dàng hơn. Mai đây, khi mà bà “Ăn được” ngon lành th́ bà sẽ là Tiên 100% rồi đấy nhỉ?!. Lúc đó xin nhớ tới chúng tôi cũng như độc giả ở dưới trần thế này nhé.

Hôm nay bà lại nêu ra vài thắc mắc khác về “khớp xương đầu gối hơi đau đau” mà bà nghi là bị “lăo hóa” mấy khớp xương. Và than là mới 54 tuổi khớp đă hóa già hơi sớm, chả bù với chúng bạn thất thập cổ lai hy mà vẫn cọn chạy nhảy ào ào.

Vậy th́ chúng tôi lại có dịp “tư vấn” với bà. Đây là nghề của tôi từ khi về hưu, gói ghém cất ống nghe ống chích vào kho đấy bà ạ.

Bà cho biết là mới tuổi 54 mà đă thoái hóa viêm khớp gối, phải chùng người xuống mỗi khi lên cầu thang hoặc xuống xe mới trở lại b́nh thường.

Th́ xin thưa cùng bà là thực ra khớp đă bắt đầu thoái hóa ở tuổi sớm hơn rồi đấy bà ạ. Theo cơ quan CDC Hoa Kỳ, từ tuổi 40, đă bắt đầu có những thay đổi trong cấu tạo của khớp. Sớm hơn nữa, từ 25 tuổi trở lên đă có 13% người nhen nhúm bị viêm khớp và từ 65 tuổi trở lên th́ tỷ lệ bị bệnh khá cao, những 33%. Tức là 100 người th́ 13 người bị viêm ở tuổi từ trên 25 và cứ 100 người ở tuổi trên 65 th́ 33 người bị bệnh. Biết đâu bà đang ở trong nhóm thứ nhất này.

Ngoài ra cũng nên để ư là viêm khớp có thể không rơ nguyên nhân hoặc là hậu quả của những thương tích nặng nhẹ ở khớp, rối loạn nội tiết, chuyển hóa, bệnh thần kinh hoặc bẩm sinh.

Mấy người bạn thất thập của bà vẫn chạy nhẩy ào ào th́ cũng chưa chắc là họ không bị viêm khớp. Có thể là họ bị viêm khớp nhưng đă áp dụng những phương thức trị bệnh khác nhau như vận động cơ thể, tiêu thụ đầy đủ chất dinh dưỡng, tránh rủi ro gây bệnh, cho nện họ vẫn sinh hoạt b́nh thường. Cũng có thể là họ có tạng người tốt, có gen di truyền ngon lành từ cha mẹ, ḍng họ.

Tiện thể cũng kế bà nghe là người quá kư là hay bị viêm khớp đầu gối lắm đấy, v́ đầu gối liên tục chịu đựng một sức nặng quá mức. Rồi lại c̣n liên tục chấn thương v́ thể thao quá mạnh, lao động chân tay quá mức, nâng nhấc vật quá nặng, lên gối xuống gối hơi nhiều hoặc khớp làm động tác nhắc đi nhắc lại như máy.

Và quư bà thường nhiều rủi ro bị viêm khớp hơn quư ông. Tại Hoa Kỳ có khoảng 27 triệu người bị Viêm khớp th́ nữ giới chiếm 60%. Tại sao ư? Ít nhất có ba giải thích là do di truyền, cấu tạo sinh học và ảnh hưởng của hormon.

Theo bác sĩ Yusuf Yazici, Đại học Y Nữu Ước, con gái có mẹ bị viêm khớp th́ hay bị bệnh này ở cùng tuồi và cùng loại khớp, đặc biệt là khớp bàn tay và đầu gối.

Các nhà nghiên cứu cho hay, hormon nữ estrogen bảo vệ sụn ở khớp, chống lại hiện tượng viêm. V́ thế, khi tới tuổi măn kinh, ngoài 50, quư bà mất sự bảo vệ này, cho nên viêm khớp thường xảy ra.

Về cấu trúc sinh học, th́ các nhà nghiên cứu nêu ra nhiều lư do. Cũng theo bác sĩ Yazici, thiên chức của quư bà là 9 tháng mang nặng đẻ đau cho nên hay bị viêm khớp. Bởi v́ phải sanh đẻ cho nên gân cốt ở phần dưới cơ thể có đàn tính nhiều hơn ở đàn ông, khiến cho khớp dễ siêu vẹo với hậu quả là dễ bị tổn thương. Ông ta cũng giải thích thêm rằng bề ngang hông phụ nữ rộng hơn hai khớp đầu gối, khớp này không ở đường thẳng đứng như ở đàn ông, cho nên không vững chắc, dễ bị tổn thương. Một nghiên cứu khác cho hay, mỗi lần sanh là một lần tăng rủi ro bị viêm khớp gối và hông ở quư bà.

Bây giờ tới câu bà hỏi là “Nếu muốn khớp xương cứng mạnh hơn tôi có cần uống thêm calcium bán ở các hiệu thuốc tây không”.

Tôi không biết bà đă đi khám bệnh chưa, đă chụp x-quang khớp đầu gối coi xem có bị viêm, đă đo bone density để coi mức độ đậm đặc của xương…Nếu đă đi rồi th́ chắc là bà đang được bác sĩ hướng dẫn điều trị nếu các xét nghiệm bất thường, kể cả việc uống thêm calcium. C̣n nếu chưa th́ nên đi bác sĩ gia đ́nh để được khám và làm các xét nghiệm định bệnh.

C̣n việc dùng thêm calcium, th́ tôi xin có ư kiến như sau.

B́nh thường, ở người dưới 50 tuổi, cần khảng 1000 mg calcium mỗi ngày, c̣n ở người nhiều tuổi hơn cần khoảng 1200 mg/ngày. Nếu chúng ta tiêu thụ đầy đủ, cân bằng các chất dinh dưỡng th́ ta đă có đủ số calcium này. Calcium có nhiều trong sữa, sữa chua, pho mát, cải bắp, broccoli, spinach, cauliflower, đậu, pumpkin.. hoặc trong nước uống có tăng cường calcium, trong cereal điểm tâm, bánh ḿ…Nếu không tiêu thụ đầy đủ th́ cần bổ sung, dùng thêm calcium mua ở tiệm thuốc tây.

Cũng lưu ư bà là có nhiều loại calcium khác nhau mà 3 loại sau đây là thường dùng:

- Calcium citrate như Citrical, dễ được hấp thụ, hơi đắt mà lại có ít calcium.

- Calciun carbonate như Tums, Rolaid, rẻ tiền, nhiều calcium, phải uống khi ăn cơm hoặc uống ly nước có chất chua như nước cam, thường hay gây táo bón và gas.

- Calcium phosphate, rẻ tiền hơn, dễ hấp thụ, không gây táo bón vào gas.

Ngoài ra, cần:

- Đọc kỹ nhăn hiệu với phân lượng, cách dùng

- Uống làm nhiều liều lượng nhỏ trong ngày, v́ cơ thể chỉ hấp thụ được 500 mg một lúc.

- Cần uống thêm sinh tố D v́ cơ thể cần sinh tố này để có thề dùng calcium tốt hơn. Nên mua sản phẩm có cả 2 thành phần này.

- Không dùng calcium bổ sung quá 1200 mg/ngày ngoại trừ khi có ư kiến của bác sĩ hoặc nhà dinh dưỡng. Dùng trên 2500 mg/ngày có thể đưa tới tổn thương cho thận và làm giảm tiêu thụ sắt, kẽm, magnesium.

- Calcium và một vài loại dược phẩm như kháng sinh, hạ huyết áp, thuốc Fosamax, Bonniva có tác dụng qua lại với nhau, cho nên cần uống calci trước hoặc sau các loại dược phẩm này.

C̣n chuyện thời tiết với viêm khớp. tôi xin bà cho “hưỡn” kỳ sau nói. Bài này hôm nay cũng dài rồi, để bà cũng như tôi đứng lên vươn vai, chim bay c̣ bay cho thư dăn cơ thể, bớt cứng khớp.

Vắn tắt đôi lời, hy vọng giải đáp thắc mắc của bà. Bà có thể vào trang web của tôi:

www.bsnguyenyduc.com  để đọc thêm mấy bài về Viêm Khớp mà tôi post lên đó.

Chúc bà thân tâm thường an lạc

Bác sĩ Nguyễn Ư Đức

Video Sống Khỏe - Sống Vui:

http://www.erct.com/2-ThoVan/NguyeYDuc/00-Video-Menu.htm

 

VỀ MỤC LỤC

Text Box: KHAI GIẢNG LỚP GIÁO HUẤN XĂ HỘI CÔNG GIÁO DÀNH CHO CÁC BẠN TRẺ TẠI GIÁO XỨ PHÚ TRUNG
 

 

 


Tối 3/6/2013, tại nhà xứ của Giáo xứ Phú Trung, lớp Giáo huấn Xă hội của Giáo hội Công giáo (GHXHCG) đă được khai giảng bởi Linh mục Giuse-Maria Lê Quốc Thăng, trưởng Ban Công Lư và Ḥa B́nh Tổng Giáo phận Sài G̣n – cũng là linh mục chánh xứ Giáo xứ Phú Trung.

 

Lớp học này sẽ được tổ chức đều đặn từ 19h đến 21h vào mỗi thứ 2 hàng tuần, kéo dài khoảng 3 tháng. Mỗi buổi học sẽ gồm 3 phần: Phần đầu, chính cha Giuse-Maria sẽ chia sẻ bài giảng; Phần 2, lớp sẽ chia thành các nhóm nhỏ để thảo luận về đề tài bài học; Phần cuối, các nhóm sẽ cùng nhau đúc kết những vấn đề đă suy tư, rút ra bài học cho bản thân cũng như t́m định hướng để sống và thực hành Giáo huấn.

 

Thành phần lớp học đa số là các bạn trẻ. Cụm từ GHXHCG với các bạn có lẽ khá mới mẻ, khá thú vị và kích thích sự t́m ṭi học hỏi – nhất là qua phần gợi mở cũng khá ấn tượng hấp dẫn của vị linh mục trưởng Ban Công Lư và Ḥa B́nh. Qua buổi học mở đầu, cha Giuse-Maria đă giúp mọi người h́nh dung được GHXHCG là ǵ thông qua việc triển khai rất sáng hai ư sau:

 

1/ GHXHCG được đặt nền tảng trên Thánh Kinh, các Thông điệp và Công Đồng của Giáo hội, là một h́nh thức Phúc Âm hóa, Tin Mừng hóa các thực tại xă hội. V́ thế GHXHCG chính là phương thế mới để rao giảng Tin Mừng hôm nay.

 

2/ Nội dung chính của GHXHCG gói gọn trong một chữ: CON NGƯỜI – là thụ tạo mà Chúa đă công phu sáng tạo một cách kỳ diệu, và cứu độ một cách kỳ diệu hơn bằng chính Con Một của Đấng tạo thành trời đất, để con người được trở nên CON THIÊN CHÚA, đồng thừa tự với Đức Kitô. Chính hai mầu nhiệm Sáng Tạo và Cứu Độ cực kỳ cao trọng và thiêng liêng này đă làm nên PHẨM GIÁ CON NGƯỜI – một PHẨM GIÁ bất khả xâm phạm.

 

CON NGƯỜI ấy được GHXHCG đặt tại trung tâm của 5 ṿng tṛn đồng tâm lần lượt thể hiện phẩm giá con người qua các giềng mối giữa CON NGƯỜIGIA Đ̀NH, QUỐC GIA, CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG.

 

Rất thực tế, GHXHCG trang bị cho mỗi người những nguyên tắc để suy tư, những tiêu chuẩn để phán đoán, những chỉ dẫn để hành động nhằm hướng dẫn cách thế dấn thân loan báo Tin Mừng trong mọi lĩnh vực của đời sống xă hội, từ văn hóa, lao động, kinh tế, đến chính trị, ḥa b́nh… . GHXHCG cũng chỉ ra 4 giá trị mà mỗi người phải theo đuổi: T̀NH YÊU, CÔNG LƯ, SỰ THẬT, TỰ DO.

 

Đúng như Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI nhận định trong thông điệp Caritas In Veritate (T́nh yêu trong chân lư): “GHXHCG có một chiều kích liên ngành quan trọng, từ viễn cảnh này có thể chu toàn một phận vụ có hiệu quả ngoại thường. Giáo huấn này cho phép ĐỨC TIN, THẦN HỌC, SIÊU H̀NH HỌCKHOA HỌC t́m được vị trí của ḿnh trong sự cộng tác để phục vụ con người. Chính ở đây mà GHXHCG cụ thể hóa chiều kích khôn ngoan của ḿnh.” (số 31).

 

Buổi học đă kết thúc trong sự thân thiện, háo hức và b́nh an trong trong lời cầu nguyện và phép lành Chúa ban qua tay vị linh mục khả ái.

 

ĐĂNG TR̀NH

 

VỀ MỤC LỤC

Text Box: Giáo sĩ: xuất phát từ giáo dân, hiện diện v́ giáo dân và cậy dựa vào giáo dân
 

 

 

 

- Mọi liên lạc: Ghi danh, thay đổi địa chỉ, đóng góp ư kiến, bài vở..., xin gởi về địa chỉ

 

giaosivietnam@gmail.com

 

- Những nội dung sẽ được đề cao và chú ư bao gồm:

 

Trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong việc mục vụ của Giáo sĩ;  Những tài liệu của Giáo hội hoặc của các Tác giả nhằm mục đích Thăng tiến đời sống Giáo sĩ; Cổ vơ ơn gọi Linh mục; Người Giáo dân tham gia công việc “Trợ lực Giáo sĩ” bằng đời sống cầu nguyện và cộng tác trong mọi lănh vực; Mỗi  Giáo dân phải là những “Linh mục” không có chức Thánh; Đối thoại trong tinh thần Bác ái giữa Giáo dân và Giáo sĩ… (Truyền giáo hay xây pháo đài?)

 

- Quy vị cũng có thể tham khảo những số báo đă phát hành tại

 

www.conggiaovietnam.net

 

Rất mong được sự cộng tác, hưởng ứng của tất cả Quí vị

 

Xin chân thành cám ơn tất cả anh chị em đă sẵn ḷng cộng tác với chúng tôi bằng nhiều cách thế khác nhau.

 

TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam

 

Lm. Luca Phạm Quốc Sử  USA