

MỤC LỤC
Giáo Dân (Lumen Gentium) ………………………………………………………………… Vatican 2
ĐƯỢC THA THỨ NHIỀU NÊN YÊU THƯƠNG
NHIỀU ……… Bác
sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD.
SỰ CAO CẢ CỦA MỘT TỘI NHÂN ………………………………... Lm.
Giuse Tuấn Việt, O.Carm.
TẠ ƠN HỒNG ÂN ĐỨC TIN CAO QUÍ - NGÂN KHÁNH
TUYÊN THÁNH VIỆT NAM ……………………………………………………………………………. TGM.
Giuse Ngô Quang Kiệt
TRÁCH NHIỆM LÀM NGƯỜI ………………………………………. HY. Gioan B. Phạm Minh Mẫn
MUỐN HIỂU ĐÚNG NEW EVANGELIZATION …………………. Linh
mục Antôn Mai Trọng Minh
ĐÔI THOẠI NĂM ĐƯC TIN - CON NGƯỜI CÓ
LINH HỒN KHÔNG ? …..LM ĐAN VINH- HHTM
Mẹ và
bạn gái ………………………………...…………………………… Lm. Minh Anh chuyển ngữ
Những hỗ trợ và khó
khăn gia đ́nh có thể mang lại cho linh mục trong
thời gian gặp thử thách, đau ốm và yếu đuối ……………………………………..…. Lm. Micae Phaolô
Trần Minh Huy, pss.
VIÊM KHỚP VÀ CALCIUM ………………………………………………….… Bác sĩ Nguyễn
Ư Đức
KHAI GIẢNG LỚP GIÁO HUẤN XĂ HỘI CÔNG GIÁO DÀNH
CHO CÁC BẠN TRẺ TẠI GIÁO XỨ PHÚ TRUNG ………………………………………………………………………...
ĐĂNG TR̀NH
![]()
Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II
Khóa V Ngày 21 tháng 11
Năm 1964
Tôi Tớ Các Tôi
Tớ Thiên Chúa
Hiệp Nhất
Với Các Nghị Phụ Của Thánh Công Đồng
Để Muôn Đời
Ghi Nhớ
Hiến Chế Tín
Lư Về Giáo Hội
Lumen Gentium
Bản dịch
Việt Ngữ của Giáo Hoàng Học Viện Piô X
Chương IV: Giáo Dân 40*
30. Giáo dân trong Giáo
Hội. Sau khi xác định những
chức vụ của các phẩm trật, Thánh Công Đồng
sẵn ḷng đề cập đến bậc sống
của những Kitô hữu được gọi là giáo dân.
Mặc dầu tất cả những ǵ nói về Dân Thiên
Chúa đều có liên quan đến giáo dân, tu sĩ cũng
như giáo sĩ, nhưng có một số điều
đặc biệt thuộc về giáo dân nam nữ, v́
địa vị và sứ mệnh của họ; những
điều mà hoàn cảnh đặc biệt của
thời đại chúng ta đ̣i hỏi phải t́m hiểu
nền tảng chung cách thấu đáo hơn. Thực thế, các chủ chăn của Dân Thánh
ấy biết rơ giáo dân giúp ích rất nhiều cho toàn
thể Giáo Hội. Các Ngài biết rằng Chúa Kitô không
đặt các Ngài lên để một ḿnh lănh lấy
tất cả sứ vụ cứu độ của Giáo
Hội đối với thế giới; nhưng nhiệm
vụ cao cả của các Ngài là chăn dắt tín hữu
và nhận biết các phận sự và đoàn sủng
nơi họ, để mọi người cùng góp phần
vào công cuộc chung, tùy theo cách thức của ḿnh. V́
thế, mọi người "phải lấy bác ái mà
thực hành chân lư, nhờ mọi sự hăy lớn lên trong
Đấng làm đầu là Chúa Kitô; nhờ Người, toàn
thân thể được phối hợp và kết tụ
bằng sự liên lạc tương trợ nhau, tùy theo
công dụng khả năng từng phần tử, khiến
thân thể được tiến triển hầu xây
dựng trong đức ái" (x. Eph 4,15-16).
31. Bản tính và
sứ mạng giáo dân. Danh hiệu giáo dân ở đây được
hiểu là tất cả những Kitô hữu không thuộc
hàng giáo sĩ và bậc tu tŕ được Giáo Hội công
nhận; nghĩa là những Kitô hữu đă
được tháp nhập vào Thân Thể Chúa Kitô nhờ
phép Thánh Tẩy, đă trở nên Dân Thiên Chúa, và tham dự
vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương giả
của Chúa Kitô theo cách thức của họ; họ là
những người đang thực hiện sứ
mệnh của toàn dân Kitô giáo trong Giáo Hội và trên trần
gian theo phận vụ riêng của ḿnh.
Tính cách trần thế là tính cách riêng biệt và
đặc thù của giáo dân. Thực vậy các
phần tử trong hàng giáo sĩ dù đôi khi có thể lo
những việc trần thế, hoặc hơn nữa,
hành nghề giữa đời, nhưng v́ ơn kêu gọi
đặc biệt, sứ mệnh chính yếu và rơ rệt
của họ vẫn là sứ vụ thánh. Phần các tu sĩ, do bậc sống của
họ, làm chứng cách hùng hồn và cao quí rằng
người ta không thể cải tạo thế giới và
cung hiến nó cho Thiên Chúa được, nếu không có tinh
thần các mối phúc thật. V́ ơn gọi riêng,
giáo dân có bổn phận t́m kiếm nước Thiên Chúa
bằng cách làm các việc trần thế và xếp
đặt chúng theo ư Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là
giữa tất cả cũng như từng công việc và
bổn phận của trần thế, giữa những
cảnh sống thường ngày trong gia đ́nh và ngoài xă
hội; tất cả những điều đó như
dệt thành cuộc sống của họ. Đó là nơi
Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự
hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, như men
từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng
việc thi hành những nhiệm vụ của ḿnh; và
như thế, với ḷng tin cậy mến sáng ngời, và
nhất là với bằng chứng đời sống,
họ tỏ lộ Chúa Kitô cho kẻ khác, v́ thế, họ
có nhiệm vụ đặc biệt soi sáng và xếp
đặt những thực tại trần gian có liên
hệ mật thiết với họ, để chúng không
ngừng phát triển và bành trướng theo Thánh Ư Chúa Kitô,
hầu ca tụng Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu
Độ. 41*
32. Địa vị
giáo dân trong ḷng Dân Thiên Chúa. Giáo Hội do Chúa thiết lập
được tổ chức và điều khiển theo nhiều thể thức khác biệt
rất lạ lùng. "V́ như trong một thân thể,
chúng ta có nhiều chi thể, nhưng mọi chi thể không
có cùng một nhiệm vụ; cũng vậy, chúng ta tuy
nhiều người song là một thân thể trong Chúa Kitô,
nên mỗi người chúng ta là chi thể lẫn nhau"
(Rm 12,4-5).
Thế nên chỉ
có một Dân Thiên Chúa được Ngài tuyển chọn:
"chỉ có một Thiên Chúa, một đức tin,
một Thánh Tẩy" (Eph 4,5), cùng chung
một phẩm giá của những chi thể v́ đă
được tái sinh trong Chúa Kitô, cùng một ân huệ
được làm con cái, một ơn gọi trở nên
trọn lành, một ơn cứu độ và một
niềm hy vọng duy nhất và một đức ái không
phân chia. V́ thế, trong Chúa Kitô và trong Giáo Hội, không c̣n có
sự hơn kém v́ nguồn gốc hay dân tộc, v́
địa vị xă hội hoặc v́ nam nữ, bởi
lẽ "không c̣n là người Do Thái hoặc Hy Lạp,
nô lệ hay tự do, nam hay nữ, v́ anh em hết thảy
đều là một trong Chúa Giêsu Kitô" (Gal 3,38, bản Hy Lạp; x. Col 3,11).
V́ thế, tuy trong
Giáo Hội, tất cả không cùng đi một
đường, nhưng tất cả vẫn cùng
được mời gọi nên thánh, và đồng
thừa hưởng đức tin trong sự công chính
của Thiên Chúa (x. 2P 1,1). Mặc dù theo ư Chúa Kitô, có những
người được chọn làm tiến sĩ, làm
người phân phát các nhiệm tích hay chủ chăn lo cho
kẻ khác, nhưng giữa tất cả mọi
người vẫn có sự b́nh đẳng thực
sự, b́nh đẳng về phương diện phẩm
giá và hoạt động chung của mọi tín hữu
để xây dựng thân thể Chúa Kitô. Thực vậy,
nếu Chúa phân biệt những thừa tác viên có chức
thánh với các thành phần khác của Dân Thiên Chúa th́ sự
phân chia này vẫn hàm chứa một sự hiệp
nhất, v́ chủ chăn và các tín hữu khác liên kết
với nhau do những mối dây liên hệ chung. Các chủ chăn trong Giáo Hội noi gương
Chúa phải phục vụ lẫn nhau và phục vụ các
tín hữu khác; phần các tín hữu phải sẵn ḷng
hợp tác với các chủ chăn và những người
giảng dạy. Như thế, tuy khác
biệt nhau, nhưng tất cả đều làm chứng
sự duy nhất kỳ diệu trong Thân Thể Chúa Kitô.
Thực vậy, chính sự khác biệt về ân huệ,
chức vụ và hoạt động lại là mối dây
kết hợp con cái Thiên Chúa làm một, v́ "mọi
sự ấy là công tŕnh của cùng một Thánh Thần duy
nhất" (1Cor 12,11).
V́
thế, nhờ ḷng ưu ái của Thiên Chúa, giáo dân
được làm em Chúa Kitô, Đấng đă đến không
phải để được phục vụ, nhưng
để phục vụ, dù Người là Chúa tể muôn
loài (x. Mt 20,28). Cũng vậy, họ làm em những
người đă lănh nhận chức vụ thánh, những
kẻ đang lấy quyền Chúa Kitô mà giảng dạy,
thánh hóa và cai quản để chăn dắt gia đ́nh
Chúa, hầu mọi người chu toàn giới luật
mới là luật bác ái. Thánh Augustinô đă dùng những
lời tuyệt diệu này để nói lên điều
đó: "Làm Giám Mục cho anh em, tôi rất sợ; là tín
hữu với anh em, tôi rất an tâm. Giám
Mục là một chức vụ, tín hữu là một ân phúc. Giám Mục là một danh
hiệu nguy hiểm, tín hữu là danh hiệu đem ơn
cứu độ" 1. 42*
33. Tông đồ
giáo dân. Giáo hữu được qui tụ trong Dân Thiên
Chúa và cấu tạo thành Thân Thể duy nhất của Chúa
Kitô dưới quyền của một Đầu duy nhất;
dù họ là ai, họ vẫn được kêu gọi dùng
hết sức lực đă lănh nhận do ḷng từ ái
của Đấng Tạo Hóa và do ân huệ Đấng Cứu
Thế để như những chi thể sống
động, phát triển và thánh hóa Giáo Hội không
ngừng.
V́ thế, giáo dân
làm tông đồ là thông phần vào chính sứ mệnh
cứu độ của Giáo Hội; nhờ lănh nhận
phép Thánh Tẩy và Thêm Sức, mỗi tín hữu đều
được Chúa đề cử làm tông đồ;
đàng khác các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, thông ban và
nuôi dưỡng trong họ đức ái đối với
Thiên Chúa và đối với loài người, nhân
đức này là linh hồn của mọi hoạt
động tông đồ. Nhưng giáo dân được
đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội hiện
diện và hoạt động nơi và trong những hoàn
cảnh mà nếu không có họ, th́ Giáo Hội sẽ không
trở thành muối của thế gian 2. Như thế, v́ những ân huệ đă lănh
nhận, mọi giáo dân vừa là chứng nhân vừa là
dụng cụ sống động cho chính sứ mệnh
Giáo Hội, "tùy theo độ lượng ân sủng
Chúa Kitô ban cho" (Eph 4,7).
Ngoài việc tông
đồ này, một việc có liên quan đến mọi
Kitô hữu không trừ ai, giáo dân có thể c̣n
được mời gọi góp phần trực tiếp
hơn và bằng nhiều cách vào công cuộc tông đồ
của hàng giáo phẩm 3, giống như những tín hữu nam nữ
đă chịu vất vả v́ Chúa Kitô để giúp
đỡ Tông đồ Phaolô rao giảng Phúc Âm (x. Ph 4,3; Rm 16,3tt). Đàng khác, họ có
những khả năng mà Hàng Giáo Phẩm có thể dùng vào
một số phận vụ thuộc hàng giáo sĩ có
mục đích thiêng liêng.
Bởi
vậy, nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là
làm cho ư định cứu độ của Thiên Chúa ngày
càng lan tới tất cả mọi
người ở mọi nơi và mọi thời
đại. V́ thế, khắp nơi phải
mở đường cho họ tích cực tham gia vào công
cuộc cứu độ của Giáo Hội, tùy sức
lực họ và tùy nhu cầu của thời đại.
43*
34. Nhiệm vụ tư tế và phụng tự. 44* Chúa Giêsu Kitô, Linh Mục thượng phẩm và
vĩnh cửu, v́ cũng muốn giáo dân tiếp tục công
việc chứng tá và việc phục vụ của ḿnh, nên
đă nhờ Thánh Thần ban cho họ sự sống, và
không ngừng thôi thúc họ thực hành những
điều thiện hảo.
Thực
vậy, những kẻ mà Người đă cho tham dự
mật thiết vào sự sống và sứ mệnh
Người, Người cũng cho họ dự phần
vào chức vụ tư tế, để họ thực
hành việc phụng thờ thiêng liêng hầu tôn vinh Thiên
Chúa và cứu rồi loài người. Bởi thế, v́ giáo
dân đă được hiến dâng cho Chúa Kitô và
được Thánh Thần xức dầu, nên họ
được mời gọi và được ban ơn
cách lạ lùng để Thánh Thần sinh hoa trái nơi
họ ngày càng phong phú hơn. Thực vậy, mọi
hoạt động, kinh nguyện và công cuộc tông
đồ, đời sống hôn nhân và gia đ́nh, công
ăn việc làm thường ngày, việc nghỉ ngơi
thể xác và tinh thần, nếu họ chu toàn trong Thánh
Thần, và cả đến những thử thách của
cuộc sống, nếu họ kiên tŕ đón nhận, th́
tất cả đều trở nên của lễ thiêng liêng
đẹp ḷng Thiên Chúa, nhờ Chúa Giêsu Kitô (x. 1P 2,5), v́
những của lễ ấy được thành kính dâng
lên Chúa Cha cùng với Ḿnh Thánh Chúa khi cử hành lễ tạ
ơn. Như thế, giáo dân cung hiến
thế giới này cho Thiên Chúa nhờ biết phụng
thờ Ngài bằng hành động thánh thiện khắp
nơi. 45*
35. Nhiệm vụ
ngôn sứ và chứng nhân. Chúa Kitô, vị Tiên Tri cao cả, Đấng đă
dùng chứng tá đời sống và sức mạnh của
lời nói để công bố Nước Chúa Cha;
Người chu toàn chức vụ tiên tri, cho đến lúc
sự vinh hiển của Người tỏ ra trọn
vẹn; Người chu toàn chức vụ đó không
những nhờ hàng giáo phẩm, là những người
nhân danh và lấy quyền Người mà giảng dạy
nhưng cũng nhờ các giáo dân; sở dĩ Người
đă đặt họ làm chứng nhân, đồng
thời ban cho họ cảm thức đức tin và ơn
dùng ngôn từ nữa (x. CvTđ 2,17-18; Kh 19,10) là để
sức mạnh Phúc Âm sáng ngời trong đời sống
thường ngày, trong gia đ́nh và ngoài xă hội. Nếu
giáo dân vững ḷng tin cậy mà lợi dụng thời gian
hiện tại (x. Eph 5,16; Col 4,5) và kiên tŕ trông đợi
vinh quang một ngày kia sẽ đến (x. Rm 8,25), họ
sẽ tỏ ra là con cái của lời giao ước;
nhưng niềm hy vọng đó, họ không nên giấu kín
trong ḷng, trái lại họ phải diễn tả nó qua
những cơ cấu của cuộc sống trần gian,
bằng cách hoán cải không ngừng và chiến đấu
chống lại "bá chủ của thế gian tăm
tối này và bọn tà thần" (Eph 6,12).
Như những bí
tích của luật mới, là của ăn nuôi dưỡng
đời sống và hoạt động tông đồ
của tín hữu, tiên báo trời mới và đất mới
thế nào (x. Kh 21,1), th́ giáo dân cũng
mạnh mẽ loan báo ḷng tin vào điều ḿnh trông
đợi như thế (x. Dth 11,1), nếu họ không
ngần ngại nối kết đời sống
đức tin với việc tuyên xưng đức tin làm
một. Công cuộc rao giảng Phúc Âm đó, nghĩa là
sự loan báo Chúa Kitô bằng đời sống, chứng
tá và lời nói, mang một sắc thái và hiệu quả
đặc biệt v́ được thể hiện trong
những hoàn cảnh chung của trần gian.
Có
một bậc sống rất giá trị để thể
hiện nhiệm vụ đó, bậc sống
được một bí tích đặc biệt thánh hóa,
đó là đời sống hôn nhân và gia đ́nh. Gia
đ́nh là môi trường hoạt động và
trường học tuyệt diệu cho việc tông
đồ giáo dân. Từ gia đ́nh, Kitô
giáo thấm nhập vào tất cả các tổ chức
cuộc sống và dần dần biến đổi các
tổ chức ấy; nơi gia đ́nh, vợ chồng t́m
thấy ơn gọi riêng của ḿnh là làm chứng cho nhau
và cho con cái ḷng tin và t́nh yêu Chúa Kitô. Gia
đ́nh Kitô giáo lớn tiếng loan truyền sức
mạnh của nước Thiên Chúa và niềm cậy trông
vào một đời sống hạnh phúc. Như
thế bằng gương lành và chứng tá, gia đ́nh Kitô
giáo làm cho thế gian nhận biết tội lỗi ḿnh,
đồng thời sáng soi những kẻ đang kiếm
t́m chân lư.
V́ thế, giáo dân có thể và phải có một
hoạt động cao quí là truyền bá Phúc Âm cho thế
giới, cả lúc họ bận tâm lo lắng những
việc trần thế. Dù khi thiếu thừa tác viên có chức thánh
hoặc khi các ngài bị ngăn trở v́ bách hại, có
những giáo dân thay thế các ngài thi hành một vài phận
vụ thánh tùy khả năng của họ; dù có một
số giáo dân đă dốc toàn lực vào việc tông
đồ, tất cả vẫn phải cộng tác vào
việc mở mang và phát triển Nước Chúa Kitô trên
trần gian. V́ vậy giáo dân phải khéo léo t́m hiểu sâu
xa hơn chân lư Chúa mạc khải, và tha thiết nài xin Thiên
Chúa ban ơn khôn ngoan cho ḿnh. 46*
36. Địa vị
vương giả. Chúa Kitô đă vâng lời cho đến chết,
và v́ thế Người được Chúa Cha tôn vinh (x. Ph
2,8-9), và đă vào trong vinh quang
nước Người. Mọi vật đều suy
phục Người, cho đến khi Người cùng
với mọi tạo vật suy phục Chúa Cha, để
Thiên Chúa nên tất cả mọi sự (x. 1Cor 15,27-28). Người cũng thông ban cho các môn
đệ quyền bính đó để họ
được hưởng sự tự do vương
giả, và chiến thắng ách thống trị của
tội lỗi nơi họ, bằng một đời
sống từ bỏ và thánh thiện (x. Rm 6,12),
hơn nữa để, khi phụng sự Chúa Kitô nơi
tha nhân, họ khiêm nhường và kiên nhẫn dẫn
đưa anh em ḿnh đến cùng Đức Vua, Đấng mà
phụng sự Người là thống trị. Thực
thế, Chúa cũng muốn nhờ cả giáo dân để
mở rộng nước Người, nước của
chân lư và sự sống, của ân sủng và thánh thiện,
của công lư, t́nh yêu và ḥa b́nh 4; trong nước này, chính tạo vật cũng
được hưởng tự do rạng ngời
của con cái Thiên Chúa (x. Rm 8,21). Lời Chúa hứa thật
trọng đại và lệnh Người truyền cho các
môn đệ thật lớn lao: "Thực vậy,
tất cả mọi sự đều thuộc về anh
em, c̣n anh em thuộc về Chúa Kitô và Chúa Kitô thuộc về
Thiên Chúa" (1Cor 3,23).
V́ thế, tín
hữu phải nhận biết bản tính sâu xa của
tạo vật, giá trị của chúng, và cùng đích của
chúng là ca tụng Thiên Chúa; đồng thời phải giúp
nhau sống đời thánh thiện, nhờ những
việc trần thế, để thế gian thấm nhuần
tinh thần Chúa Kitô và đạt đến cùng đích
một cách hữu hiệu hơn trong công lư, bác ái và ḥa b́nh.
Giáo dân giữ lấy vai tṛ chính yếu trong khi chu toàn nhiệm vụ phổ quát đó.
Nhờ khả năng chuyên môn trong những việc
trần thế, nhờ các hoạt động của
họ, những hoạt động được ân
sủng Chúa Kitô nâng lên bậc siêu nhiên, giáo dân hăy đem toàn
lực hợp tác để nhờ lao công con người,
kỹ thuật và văn hóa nhân loại khai thác những
của cải được tạo dựng hầu
mưu ích cho mọi người và phân chia cân xứng
hơn giữa họ theo ư định của Đấng
Tạo Hóa và sự soi sáng của Ngôi Lời Ngài; và tùy cách
thức riêng của chúng, chúng giúp phát triển toàn diện
sự tự do của con người và sự tự do
của Kitô hữu. Như thế, nhờ các phần tử
của Giáo Hội, Chúa Kitô sẽ đem ánh sáng cứu độ
của Người chiếu soi toàn thể nhân loại
mỗi ngày một hơn.
Đàng khác, khi các
thể chế và cảnh sống của thế giới gây
nên dịp tội, giáo dân phải góp sức làm cho các
thể chế và cảnh sống đó trở nên lành
mạnh, để chúng phù hợp với các tiêu chuẩn
của đức công b́nh, và giúp phát huy việc luyện
tập các nhân đức hơn là ngăn trở chúng. Hành động như thế, giáo dân sẽ làm cho
những giá trị luân lư thấm nhập vào văn hóa và các
công tŕnh của loài người. Và
nhờ vậy, cánh đồng thế giới mới
được chuẩn bị kỹ càng hơn để
đón nhận hạt giống Lời Thiên Chúa, và nhiều
cửa được mở rộng thêm hơn cho Giáo
Hội để sứ điệp ḥa b́nh thấm nhập
vào thế gian.
Chính
công cuộc cứu độ đ̣i hỏi tín hữu
phải lưu tâm phân biệt đâu là quyền lợi và
nghĩa vụ của họ với tư cách một
phần tử của Giáo Hội, đâu là quyền lợi
và nghĩa vụ với tư cách một phần tử
trong xă hội loài người. Họ phải cố
gắng ḥa hợp cả hai loại nghĩa vụ và
bổn phận đó với nhau, và hăy nhớ rằng trong
mọi lănh vực trần thế, lương tâm Kitô giáo
phải luôn hướng dẫn họ, v́ không một
hoạt động nào của con người, dù thuộc
phạm vi trần thế, có thể vượt khỏi
quyền thống trị của Thiên Chúa. V́ thế, trong
thời đại chúng ta, hơn bao giờ hết,
người tín hữu cũng phải làm sáng tỏ sự
phân biệt và ḥa hợp các nghĩa vụ và bổn
phận này trong phương thức hành động của
họ, để sứ mệnh của Giáo Hội có
thể đáp ứng những hoàn cảnh đặc
biệt của thế giới ngày nay cách trọn vẹn
hơn. Thực vậy, nếu phải công nhận rằng
xă hội trần gian, v́ lo lắng việc trần thế
cách hợp pháp nên có quyền điều hành theo những
qui tắc riêng biệt, th́ cũng phải loại bỏ
cách chính đáng tà thuyến chủ trương xây dựng
xă hội bất cần đạo lư, và chủ
trương chống lại hay hủy diệt tự do tín
ngưỡng của người công dân 5. 47*
37. Tương quan
với hàng giáo phẩm. Như mọi Kitô hữu khác, giáo
dân cũng có quyền được các chủ chăn có
chức thánh ban phát dồi dào ơn trợ lực chứa
đựng trong kho tàng thiêng liêng của Giáo Hội,
đặc biệt là Lời Thiên Chúa và các bí tích 6. Như con cái Thiên
Chúa và như anh em trong Chúa Kitô, họ cũng sẽ tŕnh bày
với các vị ấy những nhu cầu và khát vọng
của ḿnh một cách tự do và tín cẩn. Nhờ
sự hiểu biết, khả năng chuyên môn và uy tín
của họ, họ có thể và đôi khi c̣n có bổn
phận phải bày tỏ cảm nghĩ ḿnh về
những việc liên quan đến lợi ích của Giáo
Hội 7. Họ nên thực
hiện điều đó, nếu cần, nhờ vào các
cơ quan đă được Giáo Hội thiết lập
nhằm mục đích ấy; và họ hăy luôn chân thành, can
đảm và khôn ngoan, kính trọng và yêu mến những
người thay mặt Chúa Kitô v́ nhiệm vụ thánh
của các ngài.
Như mọi tín
hữu khác, với tinh thần vâng lời của
người Kitô hữu, giáo dân cũng hăy mau mắn
chấp nhận những điều mà các chủ chăn có
nhiệm vụ thánh đại diện Chúa Kitô, đă
quyết định với tư cách những thầy
dạy và những nhà lănh đạo trong Giáo Hội; làm
như thế, họ đă theo gương Chúa Kitô, Đấng
đă vâng lời cho đến chết, để mở
đường hạnh phúc của sự tự do con cái
Thiên Chúa cho tất cả mọi người. Giáo dân
đừng quên dùng lời cầu nguyện phó dâng cho Thiên
Chúa các vị lănh đạo của ḿnh, để các ngài
hoan hỷ mà không than văn thi hành nhiệm vụ chăm sóc
linh hồn chúng ta, nhiệm vụ mà các ngài sẽ phải
trả lẽ (x. Dth 13,17).
Phần các chủ
chăn có chức thánh, các ngài phải nh́n nhận và nâng cao
phẩm giá và trách nhiệm của giáo dân trong Giáo Hội,
các ngài nên sẵn sàng chấp nhận những ư kiến khôn
ngoan của họ, tin cẩn giao phó cho họ những công
tác để họ phục vụ Giáo Hội, cho họ
tự do và quyền hạn để hành động;
hơn nữa, các ngài cũng nên khuyến khích họ tự
đảm lấy trách nhiệm. Với t́nh cha con, các ngài
hăy cẩn thận xem xét, trong Chúa Kitô, những kế
hoạch, thỉnh cầu và khát vọng của họ 8. Đàng khác, các chủ chăn phải nh́n nhận và
tôn trọng sự tự do chính đáng của mọi
người trong lănh vực trần thế.
Họ
hy vọng rằng, sự liên lạc mật thiết
giữa giáo dân và chủ chăn sẽ đem lại
rất nhiều lợi ích cho Giáo Hội: thực vậy,
nhờ sự liên lạc đó, giáo dân ư thức trách
nhiệm ḿnh một cách vững vàng hơn; ḷng hăng say
của họ được phát triển, và họ góp
sức dễ dàng hơn vào công việc của các chủ
chăn. Phần các chủ chăn, nhờ sự trợ
lực kinh nghiệm của giáo dân, các ngài có thể phán
đoán minh bạch và đúng đắn hơn về
những vấn đề thiêng liêng cũng như trần
thế; như vậy, toàn thể Giáo Hội
được vững mạnh nhờ tất cả
mọi chi thể, sẽ chu toàn hữu hiệu hơn
sứ mệnh ḿnh đối với sự sống của
thế gian. 48*
38. Giáo dân, linh hồn của thế giới. Trước
mặt nhân loại, mỗi giáo dân phải là chứng nhân
của sự phục sinh và sự sống của Chúa Giêsu,
đồng thời là dấu hiệu của Thiên Chúa
hằng sống. Tất cả và mỗi người
góp phần nuôi dưỡng thế giới bằng
những hoa trái thiêng liêng (x. Gal 5,22) và truyền
bá cho thế gian tinh thần của những người
nghèo khó, hiền lành và hiếu ḥa, những người mà
Phúc Âm Chúa đă tuyên bố là có phúc (x. Mt 5,3-9). Tóm lại, "người Kitô hữu hăy làm cho
thế giới sống như linh hồn làm cho thân xác
sống" 9. 49*
Chú Thích:
40* Vị trí và cơ cấu của chương này
cho ta thấy tầm quan trọng của nó. Lần
đầu tiên trong lịch sử, Công Đồng bàn nguyên
một chương đặc biệt về giáo dân, và
ở đây mới chỉ nhằm tới nền tảng
thần học về cơ cấu Giáo Hội dưới
khía cạnh ơn gọi của giáo dân. Những
khía cạnh thực tiễn như về những h́nh
thức tổ chức chẳng hạn, sẽ
được đề cập trong sắc lệnh
đặc biệt về Tông Đồ Giáo Dân. Và những vấn đề trọng đại
nói lên mối tương quan giữa Giáo Hội và các giá
trị trần thế, sẽ được nghiên cứu
tỉ mỉ trong Hiến Chế Mục Vụ về Giáo
Hội Trong Thế Giới Ngày Nay.
Từ
những cuộc tranh luận trong Công Đồng và từ chính
những nghị định, chúng ta có thể kết
luận rằng, giáo dân không chỉ được
định nghĩa một cách đơn giản như
không phải là giáo sĩ, nhưng trước hết
phải được công nhận là thuộc về Dân
Chúa.
Do đó, chúng ta sẽ nghiên cứu chương này dựa
trên chương II, bởi v́ những đặc
điểm của giáo dân mô tả ở đây, có liên quan
phần lớn tới phần tử Dân Chúa. (Xem
tiếp các chú thích 41* - 49*).
41* Công Đồng bắt đầu bằng số 31
để trả lời cho câu hỏi đă
được đặt ra: giáo dân là ǵ trong viễn
tượng một khoa thần học về Giáo Hội?
Công Đồng đưa ra ánh sáng những yếu tố tích cực
biểu thị đặc tính của giáo dân, và yếu
tố chính là tính cách trần thế, nghĩa là
người đảm nhận qui hướng về Thiên
Chúa những sự việc trần thế mà họ dấn
thân. Vậy những đặc điểm của một
giáo dân là:
- Sống giữa
mọi người và trong xă hội nhờ dây liên lạc
gia đ́nh và nghề nghiệp.
- Thánh hóa trần
gian như men bột qua việc minh chứng bằng
đời sống trong khi thi hành nhiệm vụ riêng
biệt trong nghề nghiệp của ḿnh.
- Trách vụ làm cho
những thực tại trần thế biết ca tụng
Đấng Sáng Tạo và Cứu Thế, những thực
tại mà họ được nối kết chặt chẽ
như Chúa Kitô muốn.
Đó là
t́nh trạng tạo nên một giáo dân, khiến họ có
thể là chứng nhân tông đồ đích thực
giữa trần gian.
1 T. Augustinô, Serm. 340 : PL 38, 1483.
42* Số 32 tŕnh bày ư tưởng giáo dân là phần
tử Dân Chúa có địa vị là con cái Chúa,
được mời gọi nên thánh và lănh nhận ơn
Chúa. Về vấn đề này Công Đồng quả
quyết hai điểm:
- Phép Thánh Tẩy
ban cho mọi người lănh nhận sự b́nh
đẳng căn bản.
- Mọi
người phải liên kết với nhau: mục tử
không những là thủ lănh nhưng c̣n là người
phục vụ Dân Chúa.
2 Xem Piô XI, Tđ. Quadragesimo anno, 15-5-1931
: AAS 23 (1931), trg 212t. Piô XII, diễn từ De quelle
consolation, 14-10-1951 : AAS 43 (1951), trg 790t.
3 Xem Piô XII, diễn từ Six ans se sont écoulés, 5-10-1957 : AAS 49 (1957), trg 927.
43* Số 33: Tiếp theo đó, Công Đồng tuyên
bố hoạt động tông đồ giáo dân tham dự
vào sứ mệnh cứu rỗi của Giáo Hội v́
đặt nền tảng trong phép Thánh Tẩy và phép Thêm
Sức. Tính cách đặc biệt của tông đồ
giáo dân là làm cho Giáo Hội hiên diện và hoạt
động trong mọi hoàn cảnh của thế giới.
Vả lại, giáo dân vẫn có thể
cộng tác chặt chẽ với hàng giáo phẩm trong
việc tông đồ của giáo sĩ đích danh. Sắc Lệnh về Tông Đồ Giáo Dân sẽ
lặp lại và quảng diễn ư tưởng đó.
44* Trong các số 34-36, căn cứ vào ba
tước hiệu căn bản của Chúa Kitô, Công
Đồng muốn chứng minh cách thức đặc
biệt mà giáo dân, với tước hiệu là phần
tử Dân Chúa, được tham dự vào các nhiệm
vụ khác nhau đó.
Tham
dự vào chức tư tế cộng đồng. Đoạn này
lặp lại các số 10 và 11 về chức tư tế
cộng đồng của người đă chịu phép
Thánh Tẩy và được thực thi trong việc
phụng tự: chức tư tế đó diễn tả
và thánh hóa đời sống thường nhật của
giáo dân và nhờ đó mà giáo dân thánh hóa thế gian.
Tham dự vào
sứ mệnh tiên tri của Chúa Kitô: giáo dân minh chứng
đức tin và đức ái trong thế giới nghề
nghiệp và kỹ thuật, trong những điều
kiện thông thường mà họ sinh sống; đặc
biệt làm chứng trong tổ ấm và gia đ́nh công giáo,
nơi đă được bí tích Hôn Nhân thánh hóa và thánh
hiến.
4 Sách lễ Roma, trích kinh Tiền Tụng lễ
Kitô Vua.
5 Xem Leô XIII, Tđ. Immortale Dei, 1-11-1885
: ASS 18 (1885), trg 166tt. N.t., Tđ. Sapientiae christianae, 10-1-1890 : ASS 22 (1888-90), trg 397tt. Piô XII, diễn
từ Alla vostra filiae, 23-3-1958: AAS 50 (1958), trg 220: "tính cách
thế tục hợp pháp và lành mạnh của quốc
gia".
47* Số 36: Vương giả. Tham dự vào
chức vị vương giả của Chúa Kitô: ở
đây bàn về sự kiện giáo dân thánh hóa thế gian, v́
họ đem sở trường tham gia vào công cuộc t́m
kiếm và xây dựng trần thế: vai tṛ đó làm họ
thích hợp với việc tán trợ công cuộc chuẩn
bị cho Phúc Âm (x. số 16) qua những giá trị nhân
bản.
7 Xem Piô XII, diễn từ De quelle consolation, n.v.t.,
trg 789: "Trong những trận chiến dứt khoát,
đôi khi những kẻ ở tiền tuyến lại có
những sáng kiến tốt đẹp nhất...". n.t., diễn từ L'importance de la presse cathol., 17-2-1950: AAS 42 (1950), trg 256.
48* Số 37 đưa ra nguyên tắc tốt
đẹp giữa giáo dân và hàng giáo phẩm. Giáo dân phải
theo tinh thần Kitô giáo mà trọng kính tuân phục giáo
phẩm, và giáo phẩm cũng phải biết thẳng
thắn tiếp nhận giáo dân, biết lấy tinh thần
kính trọng và bác ái mà lắng nghe họ, biết thừa
nhận và đề cao địa vị và trách nhiệm
của họ trong Giáo Hội. Giáo Hội cũng phải
tôn trọng sự tự do chính đáng của họ trong
nước trần gian.
9 Epist. ad Diognetum, 6 :x.b. Funk I, trg
400. - Xem T. Gioan Kim Khẩu, in Mt bài giảng 46 (47), 2: PG 58,
478, về men trong bột.
49* Để kết luận, số 38 quả quyết
mỗi giáo dân tùy theo cảnh huống
của ḿnh phải là chứng nhân của Phục Sinh và là
dấu hiệu của Thiên Chúa hằng sống.
“
Tin Mừng theo thánh Gioan đă từng ghi
nhận h́nh ảnh lưỡi đ̣ng đâm thấu Trái
Tim Chúa Giêsu: “Một người lính lấy
giáo ĐÂM CẠNH SƯỜN NGƯỜI. Tức th́, MÁU
CÙNG NƯỚC CHẢY RA. Người xem thấy việc
này đă làm chứng, và lời chứng của
người ấy xác thực; và người ấy
biết ḿnh nói sự thật để cho cả anh em
nữa cũng tin” (Ga 19, 34-35).
Thiên Chúa có một Trái Tim. Nơi
Rất Thánh Trái Tim Chúa Giêsu, Trái Tim Thiên Chúa đă thổn
thức, đă bị xâu xé, đă tổn thương,
đă đớn đau v́ tội lỗi trần thế.
Nơi Rất Thánh Trái Tim Chúa Giêsu, một Trái Tim thể lư
bằng thịt mềm, đă lột tả đến cao
độ, đến vô cùng, khối t́nh và sự hiến
dâng chính ḿnh của Thiên Chúa v́ cả trần thế và
từng con người nơi trần thế.
Thiên Chúa đă để Con của Người
chết cho loài người sống. Thiên Chúa đă tự nguyện hiến dâng ḿnh cho
loài người bằng chính sự đau đớn
của Người nơi Trái Tim đă thương tích
của Chúa Giêsu.
I. TRÁI TIM THIÊN CHÚA:
1. Một trái tim yêu lạ
thường.
Đó là một trái tim bốc
lửa yêu thương. Yêu đến vô cùng.
Yêu đến quên ḿnh. Yêu
đến cạn kiệt tấm thân. Yêu
đến hiến tế chính ḿnh. Chúa Giêsu diễn
tả t́nh yêu cao độ ấy, một t́nh yêu ngút ngàn,
một t́nh yêu vô biên vô cương bằng một câu
đơn sơ nhưng thấm thía: “Thiên Chúa yêu thế
gian đến nỗi đă ban Con Một, để ai tin
vào Con của Người th́ khỏi phải chết,
nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).
“Yêu đến nỗi…” “đă
ban”, là một t́nh yêu hết mức. Chẳng
hạn, một lần nào, ta chạm phải nỗi
đau. Để diễn tả sự đau
đớn trong ta là vô cùng, ta thốt lên, “tôi đau
đến nỗi…”. Cũng vậy,
động từ “yêu đến nỗi…” nơi Thiên Chúa,
là động từ mạnh mẽ, khắc ghi sâu thẳm,
cưu mang và trao ban đến không c̣n ǵ giữ lại cho
ḿnh.
Thiên Chúa yêu chúng ta bằng một t́nh yêu mà muôn
đời chúng ta không thể hiểu nỗi.
Người yêu đến nỗi hiến ḿnh nơi Con
của Người v́ ta. Người thổn
thức v́ Trái Tim người ắp đầy h́nh bóng
từng người chúng ta. Một Trái Tim chất
chứa một t́nh yêu lớn lao đến mức, không bao
giờ loại trừ bất cứ cá nhân nào, mà chỉ
luôn luôn đón nhận, chỉ một ḷng mong muốn
được loài người đón nhận, dù loài
người đầy bội phản, đầy tội
lỗi và tội ác, không ngừng xúc phạm đến
Người, đến Trái Tim của Người. Đó
cũng là một t́nh yêu lạ lùng đến mức Thiên
Chúa tự nguyện đi bước trước
để yêu ta, để dâng tặng chính ḿnh Người
cho ta, một t́nh yêu lạ lùng đă khiến thánh Gioan tông
đồ reo lên: “T́nh yêu cốt ở điều này:
không phải chúng ta đă yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính
Người đă yêu thương chúng ta, và sai Con của
Người đến làm của lễ đền tội
cho chúng ta” (1Ga 4, 10). Thánh Phaolô cũng ca ngợi t́nh yêu vô
điều kiện của Chúa, một t́nh yêu hiến ḿnh
cho kẻ nghịch với ḿnh: “Quả vậy, khi chúng ta
không có sức làm được ǵ v́ c̣n là hạng
người vô đạo, th́ theo đúng
kỳ hạn, Đức Kitô đă chết v́ chúng ta.
Hầu như không ai chết v́ người công chính,
hoạ may có ai dám chết v́ một người
lương thiện chăng. Thế mà
Đức Kitô đă chết v́ chúng ta, ngay khi chúng ta c̣n là
những người tội lỗi; đó là bằng
chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Phương
chi bây giờ chúng ta đă được nên công chính
nhờ Máu Đức Kitô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ
được Người cứu khỏi cơn thịnh
nộ của Thiên Chúa” (Rm 5, 5-9).
Một trong những lần hiện ra với
thánh nữ Maria Margarita Alacoque (1647-1690), Chúa Giêsu đă
mở Trái Tim Người để thánh nữ chứng
kiến. Người thốt lên những lời thổn
thức: “Hăy nh́n xem Trái Tim này, Trái Tim yêu thương con
người qúa sức đến không tiếc sự ǵ cho
đến tiêu hao kiệt quệ. Phải
đền tạ Trái Tim Thánh v́ những xúc phạm của
loài người. Cha hứa với con rằng Trái Tim
sẽ rộng mở để tràn đổ muôn vàn ơn
phúc trên những kẻ tôn kính Trái Tim Cha”.
2. Một Trái Tim ấp ủ tâm tư hiến
tế.
Thánh
Phaolô đă từng mời gọi: “Anh em hăy có nơi anh
em tâm tư như đă có trong Đức Kitô Giêsu” (Phil 2,5). Nhưng tâm tư của Chúa
là tâm tư nào? Ngay sau lời mời gọi này, thánh
nhân lập tức cho thấy “tâm tư như đă có trong
Đức Kitô Giêsu” là TÂM TƯ HIẾN TẾ: “Đức
Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải
nhất quyết duy tŕ địa vị ngang hàng với
Thiên Chúa, nhưng đă hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc
lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống
như người trần thế. Người lại c̣n
hạ ḿnh, vâng lời cho đến nỗi bằng ḷng
chịu chết, chết trên cây thập tự” (Phil 2,
6-8). Sự tự hy sinh của Chúa Giêsu là
sự tự hiến tế. Nhưng
sự tự hiến tế ấy là chính t́nh yêu cao cả
của Thiên Chúa, đă chấp nhận hiến tế ḿnh
nơi chính cuộc hiến tế đớn đau của
Chúa Giêsu.
Tin Mừng nhiều lần cho thấy Chúa
nhắc đến hiến tế của Người. Qua
đó, ta thấy được h́nh ảnh luôn mang trong tâm
tư của Chúa là h́nh ảnh hiến tế để
cứu chuộc:
- Khi
hiến ḿnh thành tấm bánh cho ta, Chúa Giêsu khẳng
định: “Đây là Ḿnh Thầy, hiến tế v́ các
con” (Lc 22, 20).
- Khi
diễn tả cái chết hy sinh để mang ơn cứu
độ, Chúa Giêsu khẳng định: “Nếu hạt
lúa gieo vào ḷng đất mà không thối đi, th́ nó vẫn
trơ trọi một ḿnh. C̣n nếu nó chết đi, nó
mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,
24).
- Trong
bữa tiệc ly, khi từ giả các môn đệ
để vào tử nạn, Chúa Giêsu khẳng định: “Đă
đến giờ Con Người được vinh quang” (Ga
12, 23).
-
Cũng trong giờ ly biệt, Chúa Giêsu khẳng định
cái chết trên thập giá là cái chết đưa loài
người quy về một mối của ơn cứu
độ: “Khi Thầy chịu treo lên khỏi mặt
đất, Thầy sẽ kéo mọi người lên
với Thầy” (Ga 12, 32).
- Ngay
trong cơn hấp hối để đón nhận
quyết định hiến dâng trọn vẹn đời
ḿnh, Chúa Giêsu đă thổn thức cầu nguyện: “Lạy
Cha, xin cho Con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng
theo ư Con, mà xin theo ư Cha” (Mc 14, 36).
C̣n nhiều những lời diễn tả sự
hiến dâng của Chúa Giêsu cho trần gian. Tâm tư của Chúa là tâm tư chứa đầy
ư thức hiến tế mà Chúa vẫn và sẽ thực
hiện suốt đời trần thế. Bởi
nếu một đời làm người, Chúa Giêsu luôn
ấp ủ và ư thức ḿnh là Đấng cứu
độ trần gian theo ư Thiên Chúa, th́
một đời ấy, là một đời Chúa hiến
tế. Nếu sự tự hiến tế của Chúa
chỉ đột nhiên xảy ra, nghĩa là không hề có trước
trong tâm tư của Người, th́ sự tự hiến
tế ấy đă là giá trị, đă là quư báu, đă là t́nh
yêu lớn. Nhưng nếu sự tự hiến tế
ấy chất chứa đầy trong tâm tư của Chúa,
mà Chúa ấp ủ hết mọi ngày trong đời sống,
th́ cuộc hiến tế của Chúa quả thật
lớn lao, và lớn đến vô cùng
không thể kể xiết. Bởi tâm tư
hiến tế ngày qua ngày cũng chính là Chúa chấp nhận
chết từng ngày cho ta. Thánh giá của
Chúa, thánh giá mà Người chấp nhận tự hiến
ḿnh, là thánh giá một đời của Chúa. V́ thế, thánh giá trên đồi tử nạn
chỉ là chặn cuối, là cao trào của cuộc hiến
tế mà Chúa ấp ủ trong tâm tư Người. Như thế, tâm tư ấy, phải là tâm tư
mà Chúa quyết đi đến cùng để tự
hiến ḿnh cho trần gian.
Và
nếu Thiên Chúa hiến tế chính ḿnh nơi Chúa Giêsu, th́
trong Chúa Giêsu, một khi chất chứa đầy tâm
tư tự hiến tế qua hết mọi thời gian,
cũng có nghĩa là Thiên Chúa tự hiến tế chính ḿnh
cho trần gian, không phải một lúc nào, nhưng là sự
tự hiến tế qua hết mọi thời gian.
Thiên Chúa đă ôm lấy tâm tư hiến tế
ấy từ đời đời, khi Người
quyết định cứu chuộc trần gian.
Người đă thật sự tự hiến tế ḿnh,
khi Chúa Giêsu nhập thể, bước vào trần gian,
sống giữa trần gian, chấp nhận khổ đau
và chết cho trần gian.
Nói cách
khác, Trái Tim đầy yêu thương của Thiên Chúa, là
một Trái Tim ấp ủ cuộc hiến tế chính ḿnh
từ muôn đời đến muôn đời. Tâm tư
hiến tế ấy của Thiên Chúa đă thành hiện
thực, hay Thiên Chúa đă thực sự hiến tế,
một khi Thiên Chúa chấp nhận hiến tế Chúa Giêsu,
Con Một duy nhất của Người. Hiến tế
trong Con là một hiến tế dữ dội, là một
sự tự hiến trọn vẹn, cao cả không c̣n
điều ǵ lớn lao hơn, mạnh
mẽ hơn. Chúng ta có kinh nghiệm này: Thà hy sinh chính ḿnh. Nếu phải chứng kiến người ḿnh
yêu quư đớn đau trong hy sinh, ḷng ta chắc chắn se
thắt lại, đau đớn trong ta chắc chắn
sẽ ghê gớm hơn.
Hiểu
nỗi ḷng của Thiên Chúa cách nhân hóa như thế, ta
mới thấy Trái Tim hiến tế của Thiên Chúa không
đơn giản chút nào. Nhờ đó, ta
hiểu được sự đớn đau quằng
quại của Thiên Chúa lớn đến mức
độ nào khi chứng kiến Người Con của
ḿnh hy sinh trong hiến tế ấy. Người
đau trong nỗi đau của Chúa Giêsu. Người khốn cùng trong sự khốn cùng
của Chúa Giêsu. Người tan thương trong
nỗi tan thương của Chúa Giêsu. Người
chết lặng trong cái chết câm nín của Chúa Giêsu.
II. TRÁI TIM THIÊN CHÚA VỚI ĐỜI THÁNH HIẾN.
Nếu Trái Tim Thiên Chúa là một Trái Tim yêu
đến lạ thường và là Trái Tim hằng ấp
ủ tâm tư hiến tế, th́ chúng ta cũng phải
bắt chước Người mà yêu thương, mà
chấp nhận hiến tế cho nhau, v́ Chúa. Trong yêu thương đă là sự hiến tế
v́ nhau. Và trong sự tự hiến tế v́ anh chị
em ḿnh hằng ngày, ta đă chứng tỏ t́nh yêu của ta
đối với Chúa, như Chúa dạy:
“Thầy ban cho anh em một điều răn
mới là anh em hăy yêu thương nhau; anh em hăy yêu
thương nhau như Thầy đă yêu thương anh em” (Ga 13,
34).
“Anh em hăy có nơi anh em tâm tư như đă có
trong Đức Kitô Giêsu” (Phil 2,5).
Mang lấy tâm tư hiến tế của Chúa,
chúng ta không c̣n biết sợ ǵ, chỉ một ḷng tiến
đến cùng trong lư tưởng dấn thân cho Chúa và cho
nhau. Đó chính là t́nh yêu mà chúng ta có
để thể hiện hiến tế đời ḿnh, và
trao ban chính ḿnh cho anh chị em của ta.
Trái Tim Chúa vẫn hiện diện giữa chúng ta. Hăy nh́n vào Trái Tim yêu thương vô cùng của Chúa,
để chúng ta học lấy bài học yêu thương
từng ngày trong đời sống thánh hiến của
ḿnh. Yêu thương như Chúa, ta sẽ thực
sự sống hiến tế như Chúa: Hiến tế
một đời trong tâm tư và trong sự dâng hiến
đời ḿnh.
Hăy yêu như Chúa. V́ có yêu
thương nhau như Chúa yêu, ta mới có thể cùng nhau
vượt qua thử thách. Nhất là
đời sống cộng đoàn, t́nh yêu càng không thể
vắng bóng. Phải có t́nh yêu, cộng
đoàn mới vững mạnh. T́nh yêu là
sức mạnh nền tảng của đời sống
cộng đoàn. Không có t́nh yêu, đời sống
cộng đoàn trở thành nhà tù giam nhau, v́ ở đó
chỉ toàn đố kỵ, ganh, ghét, oán, hận, giận,
thù, xoi mói, nóng nảy, xích mích, thiếu tế nhị,
thiếu quan tâm, thiếu tin tưởng, thiếu kính
trọng, chia phe, lập đồng minh…
Có yêu thương nhau th́ mới đón nhận
nhau. Mối phúc thứ bảy, là mối phúc mà
những ai sống đời sống cộng đoàn
phải học thật kỹ: “Phúc thay ai xây dựng ḥa
b́nh, v́ họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt
5, 9). Đón nhận nhau cũng là cách ta
thể hiện hiến tế đời ta để yêu bằng
t́nh yêu cao thượng cho những người sống cùng
ta. Nhất là đón nhận cả những anh chị
em trái tính, trái nết, những người mà lời nói
của họ sao cứ mặn, hành động của
họ sao cứ cay, những tương quan mà họ
biểu lộ ra ngoài sao cứ đắng… Đón
nhận như thế là một phần đấu,
nhưng đầy rát buốt. Đó
thực là việc “xây dựng ḥa b́nh”, nhất là “xây
dựng ḥa b́nh” trong chính cộng đoàn ḿnh đang sống
cách cao đẹp. Nhưng cũng
thực là hiến tế trong t́nh yêu.
Có yêu nhau cuộc sống mới không nhạt
nhẽo. Chính t́nh yêu là cách tốt nhất
để thêm một chút mặn mà, một chút ngọt ngào
cho đời dâng hiến của từng anh chị em chúng
ta. Cứ suy nghĩ cho kỹ mà xem, tất cả chúng
ta đây, đă bỏ tất cả: Cả quê nhà, cả
những kỷ niệm đẹp của một thời
đă qua nơi khung trời b́nh yên nào đó, cả bạn
bè, cả cha mẹ, và mọi người thân yêu nhất…
Đối với bản thân, ta cũng từ bỏ
cả giây phút hiện tại để từng thời
gian trôi qua, ta chỉ biết có đời sống dâng
hiến. Ta cũng từ khước bao nhiêu ước
mơ, từ khước cả tương lai đời
ḿnh, để chỉ sống có một ước mơ duy
nhất: sống cho trọn vẹn ơn gọi hiến
dâng. Có thể nói mà không sợ sai rằng, tất cả
chúng ta đây đă từ bỏ chính ḿnh, để chỉ
c̣n vỏn vẹn một hy vọng: đêm ngày thuộc
về Chúa. Vậy th́ tại sao chúng ta không yêu
nhau, hay không yêu nhau cho đủ. Chúng ta
có c̣n ǵ, có c̣n ai ngoài những anh chị em đang sống
với ta, đang từng ngày sớt chia với ta lư
tưởng ơn gọi tận hiến? Anh chị
em đang cùng chung sống với ta hôm
nay là chính cha mẹ, là chính anh em ruột thịt, là chính quê
hương, là chính ước mơ, là chính ngôi nhà
đầy ắp tiếng cười thơ dại
của tuổi thơ trong kư ức đời ta… Hôm nay,
chính giây phút này, những con người này hiểu ta
hơn cha mẹ ta hiểu ta. Khi ta vui, khi ta cất lên
tiếng hát, hay khi ta mất b́nh an, khi ta
đau ốm, khi ta không c̣n biết dựa vào ai…, họ
biết, họ thấy, họ cảm thông, họ cùng khóc,
họ cùng cười với ta trước khi mọi
người thân yêu ruột thịt của ta có thể nghe,
có thể biết… Vậy th́ v́ lư do ǵ, ta c̣n đố
kỵ, c̣n chưa thể thân thiện, chưa thể ḥa vào
ṿng tay của người đang
sống bên ta, đang hiện diện và làm việc với
ta trong chính nơi đây, trong chính cộng đoàn này?
Cuộc sống chung mà không có yêu
thương là cuộc sống địa ngục. Nó sẽ gây nên không biết bao nhiêu nhạt
nhẽo, bạc bẽo và đổ vỡ.
Có yêu thương nhau, mới có thể đi
đến cùng trong đời tu. Cá nhân
hay tập thể đều cần đến t́nh yêu. Thiếu t́nh yêu của từng cá nhân, cộng
đoàn tu tŕ tan ră. Thiếu t́nh yêu làm
nền tảng trong một cộng đoàn tu tŕ, từng cá
nhân sẽ thấy ḿnh như bị bách hại, bị
ngược đăi. T́nh yêu cũng là phương
thế hữu hiệu nâng đỡ đời tu. V́ thế, từng cá nhân trong
cộng đoàn tu tŕ hăy yêu, và hăy chân thành đón nhận t́nh
yêu để ơn gọi của ḿnh được
triển nở, được lớn lên và bền
vững. Không biết yêu, và cũng không
đón nhận t́nh yêu, sẽ là một tổn thương
lớn đến chính ơn gọi của ḿnh, nếu
không muốn nói là tự triệt tiêu ơn gọi
đời ḿnh.
Có yêu thương nhau, mọi công việc
đạo đức mới không giả tạo, không vô
hồn. Hằng ngày, từ khi trời c̣n chưa sáng cho
tới khi tối mịt, chúng ta hiện diện bên nhau bao
nhiêu lần để cầu nguyện, để chầu
Ḿnh Thánh Chúa, để dâng thánh lễ, để chiêm
ngắm Chúa, để suy niệm, để nói và nghe
về t́nh yêu của Chúa... Ngay cả khi làm việc, học
tập, nghỉ ngơi, ăn uống…
ta đều đặt ḿnh sống trong Chúa. Vậy
mà cơi ḷng ḿnh vẫn c̣n đó những ư nghĩ chưa phù
hợp với t́nh yêu, chưa xứng đáng với ḷng
mong mỏi của Chúa là hăy yêu như Chúa? Chúa không ưa lối sống giả tạo.
Trong Tin Mừng, nhiều lần Chúa lên án
thói đạo đức giả. Người
đ̣i phải trả lại thế gian những ǵ là thói
của thế gian, và phải“trả cho Thiên Chúa những
ǵ của Thiên Chúa” (Mt 22, 21). Chúa căn dặn các
môn đệ: “Các con hăy coi chừng men biệt phái,
tức là thói đạo đức giả” (Lc 12, 1). Chúa thẳng
thừng lên án thói đạo đức
giả: “Khốn cho các ngươi, hỡi các luật
sĩ và biệt phái giả h́nh! Các ngươi giống như
mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên
trong th́ đầy xương người chết và
đủ mọi thứ ô uế. Các ngươi cũng
vậy, bên ngoài th́ có vẻ công chính trước mặt
thiên hạ, nhưng bên trong là giả h́nh và gian ác”(Mt 23, 27-28;
Lc 11, 44). Hăy cố gắng yêu. Yêu
để sự giả tạo không thể len lỏi vào
đời tu của cá nhân và vào đời sống chung của cộng đoàn. Nếu
chưa thể yêu như Chúa, th́ hăy yêu v́ Chúa dạy yêu,
để các việc đạo đức của từng
người bớt giả tạo, nhưng thánh thiện
hơn, có hồn hơn.
Có yêu thương nhau th́ mới có thể cùng nhau
loan truyền t́nh yêu của Chúa hiệu quả, và làm
chứng cho t́nh yêu ấy cách đúng nghĩa nhất, chân
thành nhất, cao đẹp nhất và thực tế nhất.
Nếu không biết yêu thương, chúng ta lại đi nói
về Thiên Chúa, Đấng là t́nh yêu, th́ có khác ǵ chiếc
loa phóng thanh: to tiếng nhưng trống rỗng. Có yêu, mới có thể cảm nghiệm t́nh yêu.
Khi đă cảm nghiệm t́nh yêu, mới có
thể nói chính xác về t́nh yêu.
Có yêu mới có thể giữ được t́nh
hiệp nhất trong cộng đoàn. Chúng ta
hăy lắng nghe lới thánh Phaolô dạy: “Tôi khuyên nhủ
anh em hăy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên
Chúa đă ban cho anh em. Anh em hăy ăn ở thật khiêm
tốn, hiền từ và nhẫn nại ;
hăy lấy t́nh bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Anh em
hăy thiết tha duy tŕ sự hiệp nhất mà Thần Khí
đem lại, bằng cách ăn ở
thuận hoà gắn bó với nhau. Chỉ có một thân
thể, một Thần Khí, cũng như anh em đă
được kêu gọi để chia sẻ cùng một
niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm
tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của
mọi người, Đấng ngự trên mọi
người, qua mọi người và trong mọi
người” (Ep 4, 1-6). T́nh hiệp
nhất là quư giá, v́ nó là thành tố chứng minh chúng ta hoàn
toàn thuộc về Chúa Kitô. Bởi Chúa Kitô không có mong
muốn nào khác ngoài mong muốn con người hăy yêu nhau,
sống hiệp nhất với nhau. Mong muốn của Chúa
muôn đời vẫn là: “Tất cả nên một,
như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ
cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ
tin rằng Cha đă sai con. Phần con, con đă ban cho
họ vinh quang mà Cha đă ban cho con, để họ
được nên một như chúng ta là một: Con ở
trong họ và Cha ở trong con, để họ
được hoàn toàn nên một; như vậy, thế
gian sẽ nhận biết là chính Cha đă sai con và đă yêu
thương họ như đă yêu thương con”(Ga 17,
21-23). T́nh hiệp nhất c̣n cho thấy cộng đoàn mà
ḿnh đang hiện diện, là cộng đoàn thể
hiện giá trị chân chính của đời tu.
Nó là cơ sở mà nhiều người nh́n vào để
phê phán hay khen ngợi, để học tập hay hay
giễu cợt chúng ta. Thậm chí
người ta sẽ nh́n vào t́nh hiệp nhất của
một cộng đoàn tu tŕ để lượng giá,
cả đến bôi nhọ Hội Thánh. V́ thế, hiểu
được tầm quang trọng của t́nh yêu hiệp
nhất, bằng mọi giá, mỗi cá nhân phải thực
hiện cho bằng được t́nh yêu hiệp nhất
giữa cộng đoàn của ḿnh, cho dù có phải hy sinh
bản thân, hy sinh tất cả những ǵ tư riêng
của bản thân. Đó chính là sống
hiến tế để mưu cầu t́nh yêu.
Có yêu thương nhau th́ mới đến
được với người nghèo, người
khổ đau, người bệnh tật, người
thiếu thốn b́nh an. Không yêu thương, sẽ là
một phản chứng cho việc chúng ta sống bác ái. Người ta không thể hiểu nổi, một
người ra sức làm việc bác ái mà lại không
thể t́m thấy t́nh yêu nội tại nơi chính bản
thân người ấy. Hơn nữa,
nếu không yêu thương, làm sao có thể cúi xuống, làm
sao có thể cảm thông với tất cả mọi anh
chị em cơ nhở. Yêu phải là
điều kiện tiên quyết cho việc chúng ta dấn
thân cho anh chị em đau khổ quanh ḿnh.
Có yêu nhau mới dám cùng nhau chấp nhận cái
chết để minh chứng cho mọi người
biết ḿnh đă tin vào Đấng là Đường, là
Sự Thật và là Sự Sống. Chúng ta không ước ao
chết, không đi t́m cái chết. Nhưng khi cần
để vinh danh Thiên Chúa, vinh danh Hội Thánh, vinh danh lư
tưởng ơn gọi đời ḿnh, và v́ anh chị em,
chúng ta can đảm đón nhận cái
chết như Chúa Giêsu chết v́ chúng ta. Bởi
yêu nhau và dám chết cho nhau, mới là người đáng
tin. Khi đó, mọi người càng nhận ra chúng ta
tin và nên giống Đấng Cứu Chuộc ḿnh.
T́nh yêu là cốt lơi của Tin Mừng, là sự
thúc đẩy Thiên Chúa hiến thân v́ con người, th́
t́nh yêu cũng là điểm quan trọng nhất của
đời sống chung. Khi yêu nhau, ta làm toát lên vẻ
đẹp của ḿnh, khơi gợi cho con người
niềm hy vọng và xác tín mạnh mẽ vào Đấng
đă yêu thương chúng ta trước. Và như thế, “mọi
người sẽ nhận biết anh em là môn đệ
của Thầy ở điểm này: là anh em có ḷng yêu
thương nhau” (Ga 13,35). Khi yêu như thế, ta cũng được
ở lại trong Chúa và Chúa ở trong ta. Bởi v́, “Thiên
Chúa là T́nh Yêu: ai ở lại trong t́nh yêu th́ ở lại
trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người
ấy” (1 Ga 4,16).
T́nh yêu mà chúng ta dành cho nhau là sự hiến tế
mỗi ngày chúng ta sống v́ Chúa. Và
sống hiến tế mỗi ngày trong cộng đoàn,
nơi từng anh chị em, hay bất cứ con
người nào Chúa ban cho ḿnh, cũng đều là chính t́nh
yêu chúng ta trao dâng về Chúa.
Hăy yêu như Chúa. Hăy hiến
tế v́ Chúa. Có như thế, chúng ta
mới đích thực là người mang t́nh yêu trao dâng cho
nhau và hiến tế v́ nhau.
Trái Tim Thiên Chúa đẹp lạ thường,
đẹp đến nỗi, bút không thể ghi, đá không
thể tạc, v́ Trái Tim ấy có một sức mạnh thu
hút diệu kỳ nhờ t́nh yêu lạ thường và
sự tự hiến tế mănh liệt. Trái
Tim yêu thúc đẩy Trái Tim tự hiến tế. Trái
Tim hiến tế thực là bằng chứng về một
Trái Tim yêu vượt mọi thời gian, vượt trên
tội lỗi, vươn đến tận cùng và mạnh
mẽ công phá mọi rào cản của bóng tối hận
thù, tàn ác, giết chóc… Sức mạnh và
vẻ đẹp diệu kỳ của Trái Tim măi muôn
đời chiếu rọi trên từng người chúng ta
và mời gọi chúng ta tiếp tục phân phát sức
mạnh và vẻ đẹp ấy bằng chính t́nh yêu
chấp nhận mọi hiến tế của từng
người chúng ta.
Ngày 19.6.2013, tṛn 25 năm ngày phong hiển thánh 117
vị tử đạo Việt Nam
Lm. JB NGUYỄN MINH
HÙNG
![]()
Nguyễn
Tiến Cảnh, MD
Xuyên suốt các Tin Mừng nhất lăm, chúng ta
thấy Chúa Giêsu thường ngồi ăn với
những người tội lỗi rồi nhân cơ
hội đó đưa ra những bài học về t́nh môn
đệ, sự thánh thiện, phép ḥa giải và sự tha
thứ.
Như
đă từng làm nhiều lần, Chúa thường nâng
đỡ những người như vậy bằng cách
ngồi ăn với họ và nổi
giận với những kẻ phản đối,
đặc biệt những người lănh đạo tôn
giáo thời đó. Họ x́ xào chống đối Chúa: “Ông
này vào nhà kẻ tội lỗi như là thượng khách”,
hoặc “Coi ḱa, ông này ngồi ăn
cả với những người thu thuế và kẻ
tội lỗi ô uế!” Trái lại, những kẻ
sống bên lề xă hội, những kẻ cùng đinh
khố rách bị người đời ghét bỏ xa lánh
th́ Chúa Giêsu lại coi họ là con người với
bản tính yếu đuối, luôn luôn bị thất
bại chồng chất. Họ thất
vọng v́ đời không khá hơn dù đă cố gắng.
Họ quyết thay đổi cuộc
sống bất công đó một cách ngượng ngùng.
Trong
những bữa ăn, Chúa Giêsu rơ ràng là muốn ḥa giải
với những người tội lỗi. Chúng ta thử
nhớ lại và tưởng tượng xem quang cảnh
sẽ thế nào của câu chuyện về các ông Zacchaeus,
Levi, người đàn bà rửa chân Chúa bằng
nước mắt, các môn đệ trên đường
Emmaus và ông Phêro bên bờ hồ Gallilee? Ngay cả tại
bữa tiệc ly cuối cùng là những giây phút linh thiêng và
cấp bách nhất, Chúa cũng chia sẻ bữa ăn với kẻ tội lỗi. Bàn tiệc có cả Juda (bán Chúa), Phêro (chối Chúa
3 lần) và những môn đệ có vẻ tối dạ và
hay gây gỗ. Giáo Hội sơ khai đă
hiểu biết về phép Thánh Thể qua kư ức đáng
ngại về t́nh bạn của chúa Giêsu nơi bàn
tiệc.
NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÔNG MỜI MÀ ĐẾN
Bài Tin Mừng hôm nay nói về sự tha thứ cho
người đàn bà tội lỗi (Lc 7:36-50).
Người biệt phái, nghi chúa Giêsu là một tiên tri,
đă mời Chúa đến nhà dự tiệc; ông này tự
cho ḿnh là người ngay chính, nên đă được Chúa
tha thứ ít và do đó ông yêu mến Chúa ít. Ngược
lại, người đàn bà tự biết ḿnh tội
lỗi nhiều đă tin tưởng vào Chúa, đến
với Chúa để xin Chúa tha thứ. V́
bà ta được Chúa tha thứ nhiều nên bà ta đón
chào Chúa nồng nhiệt qua cung cách bà ta làm cho Chúa để
biểu lộ t́nh yêu. Bà ta đă yêu
nhiều. Toàn thể câu chuyện cho
thấy mối tương quan giữa tha thứ và yêu
thương.
Tại
sao người đàn bà vô danh lại đến với
Chúa Giêsu và xức dầu thơm
Người mà không sợ thiên hạ dị nghị? Hành
động của bà ta được thúc đẩy
bởi một điều: Bà yêu Chúa Giêsu và bà biết ơn
Chúa v́ Chúa đă tha thứ cho bà. Bà đă làm điều mà
không một người đàn bà Do Thái nào dám làm
trước công chúng như vậy: Rửa chân Chúa bằng
nước mắt rồi xả tóc lau chân người. Bà
cũng làm những điều mà chỉ có t́nh yêu mới
làm được: Bà lấy tất cả những ǵ quí
giá nhất mà bà có để dùng cho chúa Giêsu. T́nh
yêu của bà không tính toán mà nồng nàn và tràn đầy quá
mức.
Chúa kể lại những việc mà người
đàn bà đă làm (c 44-46) không phải với mục
đích để trách ông Simon về những điều
ông không làm. Ông Simon vẫn cố t́nh coi người đàn
bà là kẻ tội lỗi hay ông đă thay đổi ư
nghĩ và hiểu ư nghĩa việc làm của bà ta? Nếu
ông không thay đổi ư nghĩ của ông th́ Chúa sẽ thuyết
phục ông cho ông hiểu rơ những ǵ ông trông thấy: Người
đàn bà được tha thứ nhiều th́ bây giờ bà
ta yêu mến Chúa nhiều (c 47-48).
Người
đàn bà này không phải được tha thứ v́ t́nh yêu
của bà tràn đầy, mà thực ra hành động yêu
của bà có được là do bà đă cảm nghiệm thấy
bà được tha thứ nhiều. Câu 47 tóm gọn
tất cả ư nghĩa tuyệt vời ấy: “Tội
lỗi của bà ta nhiều mà được tha thứ, v́
thế bà ta yêu nhiều”. T́nh yêu của
bà ta chính là hậu quả của sự tha thứ.
Đây là ư nghĩa câu chuyện mà chúng ta phải hiểu theo như thánh sử Luca kể (Lc 7:41-43).
T̀NH YÊU
BAO TRÙM MỌI TỘI LỖI
Chúng ta
nên tự hỏi chúng ta biểu lộ t́nh yêu một cách
cuồng nhiệt hay nhẹ nhàng? Chúa Giêsu đă nói rơ ràng yêu
nhiều là do ḷng ḿnh cảm thấy được tha
thứ nhiều và sạch mọi tội lỗi.“T́nh Yêu bao trùm mọi tội lỗi”(1Pr 4:8), “V́
t́nh yêu thuộc về Thiên Chúa”(1Ga 4:7). Người
đàn bà biểu lộ t́nh yêu một cách nồng nàn là
bằng cớ cho thấy bà ta được Thiên Chúa ban
nhiều ơn huệ. Thái độ khác biệt giữa
ông Simon và người đàn bà tội lỗi cho thấy cách
thức chúng ta chấp nhận hay từ chối ḷng
thương xót của Chúa như thế nào. Ông
Simon tự coi ḿnh thuộc hàng biệt phái cao cấp không
cần đến t́nh yêu và ḷng Chúa thương xót.
Sự tự măn của ông khiến ông không cảm nhận
được ông cần ân sủng
của Thiên Chúa.
Người đàn bà tội lỗi là h́nh ảnh
những ai biết đáp ứng Chúa một cách thích
đáng và hành động của họ phản chiếu chính
hành động của Chúa. Thắc
mắc về câu chuyện được đặt ra,
không phải chỉ với ông Simon mà c̣n với tất
cả chúng ta. “Chúng ta có nh́n ra
được người đàn bà ấy thực sự
chưa?” Không nh́n ra được
người đàn bà và hành động của bà ta một
cách thích đáng là chưa nhận ra được chúa Giêsu
và đặc tính của Người một cách chính xác.
Câu chuyện kết thúc nhưng vẫn c̣n để
ngỏ: Hy vọng ông Simon hiểu biết, cảm nhận
được và có một cái nh́n đúng vẫn c̣n mơ
hồ. Vậy chúng ta th́ sao?
SỰ H̉A GIẢI CỦA KITO GIÁO
Bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta suy niệm
về màu nhiệm, sự cần thiết phải
tha thứ và sự ḥa giải trong truyền thống
Kito Giáo. Hiện có một hiểu lầm
rất lớn là trong bất cứ một cưộc
bất ḥa nào th́ người Kito giáo phải là người
xây dựng ḥa b́nh, không đứng nghiêng về phe nào
cả và phải mang lại ḥa giải cho những phe
đối nghịch nhau. Quan niệm này
vô t́nh đă biến việc ḥa giải thành một nguyên
tắc có tính tuyệt đối phải áp dụng cho
tất cả mọi cuộc tranh chấp. Một
số trường hợp có phe này đúng, phe kia sai, hoặc phe này bất công và đàn áp,
phe kia bất chính lại có tính áp đảo. Là
người Kito giáo, chúng ta không bao giờ được
phép ḥa giải giữa ác và thiện, giữa công bằng và
bất công. Chúng ta phải xa lánh bất
công, tội lỗi, ác quỉ và gian dối.
Thứ đến, trung lập th́ luôn luôn và
hầu như khó có thể thực hành. Trong
những trường hợp tranh chấp do bất công và
áp bức th́ trung lập trên thực tế hoàn toàn bất
khả thi. Nếu chúng ta không đứng
về phe bị áp bức th́ chúng ta sẽ nghiêng về phe
áp bức. “Kéo hai phe lại với nhau
để gọi là ḥa giải” trong những trường
hợp thế này, th́ trước sau rồi chúng ta sẽ
ở vào vị thế có lợi cho phe áp bức, bởi v́
không tài nào chúng ta có thể giữ thế trung lập
được trước kẻ áp bức. Kẻ áp bức luôn luôn che dấu sự thật
trong khi tranh chấp nhưng lại ép kẻ bị áp
bức phải im tiếng thành thụ động
để rồi đưa tới loại ḥa giải
giả tạo và sai lầm không có công lư. Sự
bất công này sẽ tiếp tục và mọi người
có cảm tưởng là công lư chẳng là cái ǵ cả
bởi lẽ tranh chấp và căng thẳng giữa hai phe
đă giảm bớt!
Sau cùng, chúng ta thường quan niệm
người Kito giáo là phải chọn“thế đứng
giữa” trong mọi cuộc xung đột.
Những người e sợ tranh chấp hay đối
đầu, ngay cả khi bất bạo động, th́
thường bị mê hoặc là cần phải có thay
đổi. Hành động gọi là “thận
trọng” của họ thường che dấu nỗi bi
quan không phải là Kito giáo về một tương lai,
một hy vọng Kito giáo thiếu xác thực. Vậy
là họ đă dùng nỗi niềm ưu tư của Kito
giáo để ḥa giải, hầu biện minh cho một h́nh
thức trốn chạy khỏi những thực tế
phũ phàng về bất công và tranh chấp.
THA THỨ CHO NHỮNG LẠM DỤNG T̀NH DỤC
Nhân đây chúng ta thử nh́n vào vấn đề
nóng bỏng hiện nay là vấn đề lạm dụng
t́nh dục đă làm rung động Giáo Hội Thiên Chúa Giáo. Toàn
thế giới đă nghe biết về những tội và
những sa ngă của hàng mục tử
qua những năm tháng trước đây. Người
viết xin lược dịch một phần thư mục vụ của Tổng Giám
Mục Mark Coleridge, giáo phận Canberra và Goulburn ở Úc Châu.
Bức thư đưa ra vào ngày lễ Chúa Thánh Thần
Hiện Xuống năm 2010 nói về việc lạm
dụng t́nh dục giới trẻ trong Giáo Hội Công Giáo
với đầu đề: “Nh́n Mặt, Nghe Tiếng”.
Đức Tổng viết:
“Yếu
tố khác nữa là văn hóa của Giáo Hội Công Giáo
về Tha Thứ được nh́n dưới danh
nghĩa Tội Lỗi và Tha Thứ (Sin and Forgiveness) hơn
là Tội Ác và H́nh Phạt (Crime and Punishment). Nhưng trong
trường hợp giáo sĩ lạm dụng t́nh dục,
chúng ta lại phải đối đầu với tội
ác, và Giáo Hội phải phấn đấu để t́m ra
điểm hội tụ, một đằng giữa
tội lỗi và tha thứ, một đằng giữa
tội ác và h́nh phạt.
“Đúng vậy, tội lỗi th́ cần phải
được tha thứ, nhưng tội ác th́ lại
phải chịu h́nh phạt. Cả
tha thứ lẫn công lư phải được thi hành
như nhau, và làm như vậy tức là theo
đường hội tụ. Điều này
liên quan đến một vấn nại to lớn hơn là
làm sao Giáo Hội thấy được những liên quan
của ḿnh với xă hội một cách tổng quát hơn.
Chúng ta ‘đang ở trong thế giới
nhưng không thuộc về nó’. Nhưng
điều đó có ư nghĩa ǵ ở đây lúc này? Cũng lại có vấn nại lớn về
sự liên quan giữa phán xét của Thiên Chúa và phán xét
của loài người. Giáo Hội nhấn mạnh là
chỉ có Thiên Chúa mới có quyền phán xét, không phải
loài người. Đó là phán xét sau cùng.
“Vậy
th́ làm sao có thể thích hợp được với cách
phán xét của con người khi chúng ta vẫn sống trong
kiểu lư luận về tội ác và h́nh phạt? Chúng ta
đă chậm trễ và vụng về, ngay cả đôi khi
đă phạm tội, trong việc đáp ứng những
vấn nại đó.”
Những
lỗi lầm như vậy về việc ḥa giải
của Kito giáo th́ không đơn thuần chỉ là hiểu
lầm, mà là do thiếu t́nh yêu thương và ḷng trắc
ẩn thực sự đối với những kẻ
đau khổ hay những nạn nhân, hoặc do thiếu
sót không định giá được vấn đề
thực sự đang xẩy ra giữa những tranh căi
nguy hiểm ấy. Theo đuổi nguyên tắc trung lập
vu vơ trong mọi tranh chấp th́
cuối cùng cũng đứng về phía áp bức mà thôi. Đó không phải là ḥa giải và tha thứ mà Chúa
Giêsu đă dạy qua cuộc sống và sứ vụ
của người.
Trong
việc tranh chấp giữa những người biệt
phái và những kẻ tội lỗi, chúa Giêsu luôn luôn
chống đối những kẻ biệt phái và
đứng về phía kẻ tội lỗi, gái giang hồ
và những người thu thuế. Trong tranh chấp giữa người giầu có và
những kẻ nghèo hèn, Chúa đứng về phía kẻ
nghèo khó. Chúa Giêsu kết án những
người biệt phái và người giầu có trong mọi hoàn
cảnh, người tha thứ cho kẻ tội lỗi và
chúc phúc cho kẻ nghèo hèn. Chúa không chủ trương
hứa hẹn với nhà cầm quyền v́ một nền
ḥa b́nh giả tạo về ḥa giải hay hiệp nhất.
Sự ḥa giải, ḥa b́nh và tha thứ mà Thiên Chúa muốn
phải đặt căn bản trên sự thật, công lư
và t́nh yêu thương.
Fleming Island, Florida
June 16, 2013
Bác sĩ Nguyễn Tiến
Cảnh
Mọi
người sống trên trần gian này sau một thời
gian sẽ gặp nhau ở một điểm chung: đều phạm tội. (Rm
3:23) Ai cũng là tội nhân và chẳng ai có
quyền nói ḿnh ít tội lỗi hơn người khác.
Nếu
muốn nói về khác biệt, có thể liệt kê nhanh
như sau: Thứ nhất, mỗi người phạm
tội mỗi kiểu. Thứ hai, mỗi
người ứng xử mỗi cách đối với
tội lỗi của ḿnh. Thứ ba,
mỗi tội nhân có mỗi thái độ đối
với những tội nhân khác. Đây
chính là điều cần bàn kĩ ở đây.
Về điểm này, nh́n chung có ba
loại thái độ làm nên ba loại tội nhân khác nhau,
như sau:
Đầu
tiên là loại tội nhân không đủ khiêm tốn, không
đủ bản lĩnh thừa nhận tội lỗi
ḿnh, trốn chạy nỗi sợ bên trong bản thân
bằng cách phóng chiếu nó ra bên ngoài lên người khác
dưới các h́nh thức mang tính bạo lực như:
kết án, lăng mạ, bêu xấu, nguyền rủa,… Đây là loại tội nhân tầm bậy.
Tiếp
theo là loại tội nhân biết ḿnh đă yếu
đuối vấp ngă, gây ra những tổn thương
trong đời, rồi thống hối ăn năn,
đến với bí tích Ḥa Giải để t́m lại
b́nh an tâm hồn. Đây là loại tội nhân tầm thường.
Cuối cùng là tội nhân đủ khiêm tốn,
đủ bản lĩnh để nh́n nhận ḿnh là
một con người yếu đuối, bất toàn, luôn
măi cậy nhờ ḷng xót thương và tha thứ của
Thiên Chúa. Đặc biệt là nơi tội nhân này có
một điểm sáng khiến họ trở nên giống
Thiên Chúa t́nh yêu (Rm 5:8). Điểm sáng ấy chính là: ḷng
cảm thương và cảm thông đối với các
tội nhân khác. Mặc dù cũng là tội
nhân nhưng thái độ này làm cho họ trở nên
tuyệt vời, đáng yêu, đáng quư. Họ
ghét tội v́ tác hại của nó nhưng yêu thương
người có tội v́ đó là anh chị em đau khổ
của ḿnh. Họ kinh nghiệm sự mỏng gịn
của thân phận con người, nhưng quan trọng
hơn là họ đă thấu hiểu và học
được bài học từ trái tim
nhân hậu của Thiên Chúa. Ḷng nhân hậu là
điều giữ tội nhân này trên nẻo
đường giống Thiên Chúa. Đây
là tội nhân có tầm vóc.
Tất cả đều là tội nhân.
Nhưng thái độ đối với những anh
chị em lỗi tội khác của một tội nhân
sẽ cho thấy người ấy hiểu biết
được bao nhiêu trái tim đầy
t́nh yêu thương vô điều kiện của Thiên Chúa
(1Ga 4:8). Thái độ này sẽ quyết
định họ là tội nhân tầm bậy, tầm
thường hay tầm vóc. Ai càng
biết cảm thương các anh chị em bị tổn
thương v́ tội lỗi sẽ càng trở nên giống
Thiên Chúa và càng ở sâu trong ơn tha thứ và cứu
độ. Ngược lại,
một tội nhân sẽ dễ bị ma quỷ lèo lái
để biến thành công cụ tàn ác của nó khi trong ḷng
thiếu vắng sự khiêm nhường và khinh thường
các tội nhân khác. Một dấu chỉ cho biết
một tội nhân đang bị ma quỷ lèo lái là:
người ấy có khuynh hướng cứ thấy
tội của tha nhân hiện lên trước mắt
rất rơ nhưng lại có ít để ư phản tỉnh
đối với tội lỗi của bản thân (Lc
6:41). Công cụ này sẽ càng nguy hiểm
nếu họ tin rằng họ đang phục vụ Chúa
qua thái độ trên v́ thật ra họ đang bị
lợi dụng để biến thành ác nhân núp dưới
danh nghĩa thiện chí. Ơn tha thứ
của Thiên Chúa thật khó đi vào trong một cơi ḷng kiêu
ngạo và mù ḷa như thế.
Ai biết cảm thương tội nhân,
người ấy có kinh nghiệm thật về Thiên Chúa. Ai không biết cảm thương tội nhân,
người ấy chưa hiểu ǵ về Thiên Chúa. V́ sao? V́ trong mắt Thiên Chúa, tội nhân không
phải là một kẻ xa lạ đáng ghét mà là một
người con yêu dấu vô cùng đang cần
được yêu thương và chữa lành. Các tội
nhân măi măi là con cái của Cha nhân hiền và luôn luôn là anh
chị em thật sự của nhau. Đó là
chân lư không thể nào phủ nhận.
Ai cũng là tội nhân. Chẳng ai có quyền nói ḿnh thánh thiện hơn
người khác. Vấn đề c̣n lại chỉ
là: ḿnh sẽ chọn ở trong vị trí tội nhân tầm
bậy, tầm thường hay tầm vóc.
Tội nhân tầm bậy có nguy cơ trở
thành ác nhân.
Tội nhân tầm thường chỉ dậm
châm tại chỗ.
Tội nhân tầm vóc có thể trở thành thánh
nhân.
Giuse
Việt
[01A+V0613]
Tái bút
1: từ nguồn chính
+ Lúc
ấy, Đức Giêsu trả lời những kẻ
đ̣i giết chết người phụ nữ ngoại
t́nh: “Ai trong các người không có tội th́ hăy ném chị
ấy trước đi.” (Ga 8:7)
+
Nhiều người thu thuế và
người tội lỗi cùng ăn với Đức Giêsu và
các môn đệ, v́ họ đông đảo và đă đi
theo Người. Những kinh sư thuộc nhóm Pharisêu thấy
Người ăn uống với những kẻ tội
lỗi và người thu thuế, th́ nói
với các môn đệ Người: "Sao! Ông ấy ăn uống với bọn thu thuế và
quân tội lỗi!" Nghe thấy thế, Đức Giêsu nói
với họ: "Người khoẻ mạnh không
cần thầy thuốc, người đau ốm mới
cần. Tôi không đến để kêu
gọi người công chính, mà để kêu gọi
người tội lỗi". (Mc 2:15-17; Lc 5:32) …
Đức Giêsu nói: “Hăy về học cho biết ư nghĩa
của câu này: Ta muốn ḷng nhân chứ đâu cần
lễ tế.” (Mt 9:13; Xem thêm Hs 6:6)
+
Hầu như không ai chết v́ người công chính,
họa may có ai dám chết v́ một người
lương thiện chăng. Thế mà
Đức Kitô đă chết v́ chúng ta, ngay khi chúng ta c̣n là
những người tội lỗi; đó là bằng
chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. (Rm 5:7-8)
+ …
Tái bút
2: từ gương sống hôm nay
+ Ai có
mặt ở Roma những tháng ngày này sẽ chứng
kiến một hiện tượng rơ ràng: số
người hành hương và du lịch tăng lên gấp
nhiều lần. Một trong những lí do chính là: để
được thấy Đức Thánh Cha Phanxicô. Ngài là ai? Xin được chia sẻ một
chi tiết đặc biệt về ngài là: sau khi
được hồng y đoàn bầu chọn làm giáo
hoàng, khi được hỏi có sẵn sàng đón nhận
sứ mạng Phêrô lănh đạo Giáo Hội hoàn vũ
không, câu đầu tiên từ miệng Đức Thánh Cha
Phanxicô đương kim là: “Tôi là một tội nhân
lớn” (“Sono un grande peccatore”), rồi ngài nói lên sự tín
thác vào t́nh yêu, ân sủng Chúa và chấp nhận sứ
vụ này. Trong buổi đọc kinh Truyền Tin
đầu tiên, ngài quả quyết: “Ḷng nhân hậu có
thể biến đổi thế giới.” Những ngày sau
đó, ngài tiếp tục xin người khác cầu
nguyện cho ḿnh với lí do “v́ tôi cũng là một tội
nhân, giống như tất cả mọi người.”
(“…perché io sono anche un peccatore, come tutti…”) Vị mục tử
hiền hậu này hăng say rao giảng về ḷng nhân
hậu không bao giờ mệt mỏi dành cho tội nhân
của Thiên Chúa t́nh yêu.
English: http://only3minutes.wordpress.com/the-greatness-of-a-sinner/
1V 8, 55-61; 1Cr 1, 3-9; Mc 5,
18-20
Bài giảng của
Đức TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt -
Châu Sơn, 19-06-2013
Càng nh́n lại biến cố phong thánh Việt nam, tâm t́nh ta càng dâng lên ngập tràn niềm tri ân cảm tạ.
Trước hết tạ ơn v́ những ơn lành lớn lao Chúa ban. Nếu khi thưởng công các thánh Chúa thưởng công chính những ân huệ Chúa ban th́ các thánh Việt nam chính là công tŕnh của Chúa. Với người Việt nam th́ công tŕnh này quá lớn lao.
Lớn lao v́ vượt quá
sức loài người. Chúa đă ban cho các thánh
ơn cao trọng vượt qua những tầm
thường của con người. Thánh
Hồ đ́nh Hy dám bỏ cả công danh phú quí trong triều
đ́nh. Thánh Tôma Thiện dám bỏ
tuổi xanh đầy tương lai hứa hẹn. Thánh nữ Lê thị Thành dám bỏ cả gia
đ́nh hạnh phúc. Thánh Ven dám bỏ quê hương
xứ sở giầu sang xinh đẹp để
đến nơi nghèo nàn khổ cực. C̣n hơn nữa
Chúa ban cho các ngài sức mạnh chịu được
những cực h́nh ghê sợ. Thánh Marchand Du
chịu xẻo 100 miếng thịt. Khi
chết rồi c̣n bị thiêu xác ném tro xuống biển.
Thánh Thọ và thánh Cỏn chịu đánh đ̣n tan nát
rồi bị ném xuống hầm phân cho nước
tiểu ngấm vào xót xa và phá hoại cơ thể. Thánh Đổng dám dùng sắt nung đỏ xóa
chữ “Gia tô tả đạo” sửa lại thành “chính
đạo” khắc trên má. Thánh nữ Lê
thị Thành vẫn tươi cười khi chịu
khổ h́nh. Bị đ̣n vọt
đến tóe máu, thấm vào áo. Ngài nói với con
rằng: Đây là mẹ mặc áo thêu hoa hồng
đấy. Phải có ơn Chúa thật lớn lao mới có thể chịu những cực
h́nh khủng khiếp mà vẫn vui tươi b́nh an như
thế.
Lớn lao v́ số
lượng đông đảo các chứng nhân.
Xưa nay trên đời anh hùng hiếm hoi như những
v́ sao băng. Thế mà tại Việt nam anh hùng tử
đạo đông đảo như những đám mây che
rợp cả bầu trời quê hương. Ước
tính có đến hơn 100 ngàn vị tử đạo.
Có những vị lừng danh tên tuổi.
Có những vị vô danh như hàng trăm vị bị thiêu
trong nhà thờ Bà Rịa. Hàng trăm người bị
thiêu trong nhà thờ Tam Ṭa. Bao nhiêu làng bị tàn sát. Thật lạ lùng. Cả một đoàn
người anh hùng. Tại làng Bút
Đông, quan bắt mọi người có đạo
phải ra tŕnh diện, mghĩ rằng họ sẽ sợ
mà trốn hết. Không ngờ cả làng
hơn 500 người ra tuyên xưng đức tin.
Quả là những anh hùng vượt quá sức loài
người. Quả là ơn Chúa ban dư tràn cho dân Chúa.
Lớn lao v́ Giáo hội
Việt nam được giống Giáo hội Mẹ.
Khởi thủy, Giáo hội sơ khai bị đế
quốc Rôma đă cấm cách bắt bớ trong 300 năm. Năm 313 hoàng đế Trajano mới kư sắc
chỉ tha đạo. Tại Việt nam
khi đạo mới truyền vào, các vua quan cũng đă
bắt đạo suốt 3 thế kỷ 17, 18 và 19. Quả là một thời gian dài ngoài sức
tưởng tượng. Nhưng
nhờ đó ta được nên giống Giáo hội
Mẹ. Thật vinh dự cho Việt nam. Thật
lớn lao ân huệ của Chúa.
Tiếp đến tạ ơn v́ các bậc
tổ tiên khôn ngoan sáng suốt. Thời
ấy các vị thừa sai chưa thông thạo tiếng Việt.
Sao cha ông ta đă hiểu đạo mà tin đạo và theo đạo. Đó là ơn Chúa Thánh
Thần. Như ngày lễ Ngũ Tuần, các tông đồ
nói tiếng Do thái, nhưng người các nước nghe
đều hiểu. Các ngài chỉ
được học giáo lư rất sơ sài. Cha Đắc lộ đă soạn quyển Phép
giảng tám ngày. Sao chỉ học có 8
ngày mà các ngài có một đức tin vững mạnh như
thế. Chắc chắn đó là ơn
Chúa. Đạo được rao
giảng trong thời kỳ cấm cách. Theo
đạo đồng nghĩa với bị kết án tử h́nh. Thế mà sao các ngài vẫn
hăng hái theo đạo và tuyên xưng
đạo? Chắc chắn đó là ơn
Chúa. Đúng là thời lễ Ngũ
Tuần. Đúng là thời lễ
Hiện Xuống. Đúng là ơn Chúa ban tràn lan đặc biệt cho dân tộc Việt
nam.
Sau cùng tạ ơn v́ hồng ân
đức tin Chúa ban. Suy cho cùng
ơn đức tin là ơn cao quí nhất. Ơn làm cho ta nhận biết Chúa. Ơn làm cho ta sống đạo vững mạnh.
Ơn làm cho Giáo hội phát triển. Hăy nh́n lại lịch sử Giáo hội từ
những ngày đầu. Thuở ban sơ ta không có ǵ
hết. Không có nhà thờ. Không
có nhà xứ. Không có ṭa giám mục. Không có tài chính. Chỉ có sự
ghen ghét của vua quan. Chỉ có sự
bắt bớ. Chỉ có khổ h́nh.
Thế mà sao đạo vẫn phát triển.
Thưa v́ ta có đức tin. Có đức tin
là có tất cả. Ngày nay tại sao ta có
đầy đủ phương tiện, con người,
thời cơ thuận lợi, nhưng việc truyền
giáo xem ra khựng lại. Tại sao?
V́ ta thiếu đức tin. Có thể nói
tất cả mọi khủng hoảng thời nay bắt
nguồn từ khủng hoảng đức tin.
Quả thật ơn đức tin là ơn cao quí Chúa ban cho
dân tộc Việt nam.
Ta cùng tạ ơn Chúa v́ trong ngày lễ Tuyên Thánh
Tử Đạo Việt Nam, Giáo hội Việt nam
được sống lại đức tin, tiếp
tục cuộc tử đạo của các thánh. Khi được tin Ṭa Thánh sẽ tuyên thánh
Tử đạo Việt nam, cả một phong trào bắt
bớ mới bùng lên trong đất nước Việt
nam. Nhà Nước vận dụng
mọi phương tiện tuyên truyền chống
đối. Nào là hạch sách, o ép. Nào là kể tội, kể xấu các thánh. Nào là đe dọa sẽ có một cuộc trả
thù, trừng trị đích đáng. Nhưng
đức tin Giáo hội vẫn vững vàng dù phải
chịu đau khổ. Xin kể hai
trường hợp tiêu biểu. Trường
hợp thứ nhất là Đức Cha Đaminh Nguyễn
văn Lăng, Giám mục Xuân lộc. Khi
thấy người ta nói những lời sai trái về các
thánh tử đạo, về Giáo hội, Ngài không chịu
được. Ngài bất ngờ qua
đời đêm 22-02-1988. trong tay
c̣n mở tờ báo Công giáo Dân tộc với bài viết
chống việc phong thánh. Rơ ràng bài báo đọc đêm
trước khiến ngài bức xúc, đau khổ rất
nhiều trước khi chết. Trường hợp
thứ hai là Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh văn
Căn. Một lần, ông Mai chí Thọ, đứng
đầu ngành công an triệu tập Hội đồng
Giám mục để lên án việc phong thánh tử
đạo. Ông nói nhiều lời xúc phạm
đến các thánh. Từ hàng ghế đầu,
Đức Hồng Y Căn đột ngột đứng
dậy ra qú giữa hội trường và khóc lớn
tiếng nói rằng: Các ông có thể nhục mạ chúng tôi,
nhưng không được phép nhục mạ cha ông tổ
tiên chúng tôi. Cả hội trường xôn xao.
Rồi hội nghị bẽ bàng kết thúc
không kèn không trống. Các ngài đă minh chứng một
đức tin lớn lao. Đức
tin đó khiến các ngài đồng cảm với Giáo
hội. Đức tin đó khiến các
ngài hiệp thông với khổ h́nh của các Thánh Tử
Đạo, đến nỗi chịu nhục nhă v́ các ngài.
Và đau khổ đến chết v́ các ngài.
Chính nhờ thế việc Tuyên Thánh vẫn
tiến hành. Chính nhờ thế Giáo
hội Việt nam vẫn vững vàng phát triển qua
những khó khăn thử thách.
Mừng 25 năm Tuyên Thánh Tử Đạo
Việt Nam đúng vào năm Đức Tin,
phải chăng Chúa muốn nhắc nhở ta biết
ơn cao trọng nhất là ơn đức tin. Và điều quan trong nhất trong đời là
thực hành đức tin. Và trong thời kỳ Tân
PHúc âm hóa, ta càng phải sống đức tin. Tertuliano nói:
Máu tử đạo là hạt giống sinh người tín
hữu. Tôi xin nói cách khác. Đức
tin chính là hạt giống sinh đức tin. Các thánh
tử đạo là hạt giống đức tin gieo
xuống, chịu mục nát đi, đă sinh hoa kết
quả ban cho Giáo hội Việt nam mùa gặt đức
tin dồi dào phong phú.
Trong tâm t́nh tạ ơn long trọng, ta hăy cùng vua
Salômn nài xin Thiên Chúa tiếp tục ở với chúng ta
như đă ở với cha ông chúng ta. Ta hăy cùng thánh Phaolô
tạ ơn v́ Chúa không để ta thiếu một ân huệ nào. Và để đáp lại, ta
hăy nghe lời Chúa dạy: “Hăy kể lại cho mọi
người biết việc Chúa đă làm” cho dân tộc
Việt Nam. Ta hăy loan truyền ơn lành của Chúa bằng
chính đời sống đức tin trong thời
đại mới. Đức tin bằng
việc làm thật sự. Đức tin trong những
hi sinh từ bỏ đau đớn v́ không chiều theo những áp lực, dù ngọt ngào của
thời đại hôm nay. Đức tin sẵn sàng chịu
đau khổ, chịu thiệt tḥi v́ Chúa.
Lạy Chúa, chúng con xin tạ ơn Chúa muôn
đời. Lạy Các Thánh Tử Đạo Việt Nam xin
cầu cho chúng con. Amen.
+
TGM.Giuse Ngô Quang Kiệt
![]()
Kính gởi : linh mục, tu sĩ, giáo dân, trong gia đ́nh giáo phận
Anh chị em rất thân mến,
1.
Trách nhiệm làm người hôm
nay.
Tập "Hướng Dẫn Mục Vụ" năm Đức Tin gợi ư cho chúng ta, trong tháng 7.2013, quan tâm đặc biệt đến trách nhiệm làm người chăm lo cho gia đ́nh, cho cộng đoàn trong Giáo Hội, trong xă hội. Lời Chủ Chăn tháng 7 nầy ghi nhận lại những cảm nghĩ về trách nhiệm làm người trước những thách đố của xă hội theo nền kinh tế thị trường hôm nay, với nhiều mâu thuẫn và bất hợp lư, nhiều bạo lực và đấu tranh loại trừ nhau.
Qua bí tích Thánh Tẩy, Thánh Thể, Thêm Sức, Hôn
Phối, Truyền Chức Thánh, mọi thành phần dân Chúa,
linh mục, tu sĩ, giáo dân, được mời gọi
chia sẻ chức năng mục tử của Chúa Giêsu
trong việc chăm lo cho gia đ́nh, cho cộng đoàn trong
Giáo Hội cũng như trong xă hội. Đồng
thời cùng chia sẻ đời sống cầu nguyện
của Ngài và đón nhận ơn Chúa Thánh Thần
đổi mới ḷng trí con người, giúp mỗi
người ngày càng trở nên mục tử như ḷng Chúa
mong muốn, và như dân Chúa mong đợi.
2. Thế nào là người mục tử như ḷng Chúa mong muốn?
Thiên Chúa là Cha giàu ḷng
từ bi, nhân hậu, đă thương gửi đến
cho chúng ta Người Con Một là Đức Giêsu. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa làm người
thể hiện ḷng Chúa thương xót vô biên trong sứ
vụ phục vụ cho sự sống của gia đ́nh
nhân loại. Đó là mẫu gương tuyệt
vời cho mọi người đảm nhận sứ
mạng yêu thương chăm lo và dẫn dắt đoàn
dân Chúa đi đến sự sống mới, sự
sống dồi dào trong ánh sáng chân lư và an
b́nh. Trong khi thi hành sứ vụ nầy,
Đức Giêsu thể hiện ḷng Chúa từ bi
thương xót vô biên đối với mọi hạng
người trong cộng đồng xă hội.
Đối với các tông
đồ, môn đệ trong mọi hoàn cảnh, cả
lúc phản Thầy và thỏa hiệp trục lợi,
như Giuđa. Lúc sử dụng
bạo lực chống trả bất công rồi lại
chối Thầy, như Phêrô. Lúc nguy khó th́ bỏ
cuộc về làng quê ḿnh, như hai môn đệ làng Êmau...
Đối với
người dân cùng khổ, bệnh tật, lúc cùng nhau kéo
đến từ mọi miền đất nước,
theo chân Ngài nhiều ngày, cậy nhờ ḷng thương xót
vô biên của Ngài giúp họ vượt qua đói kém,
bệnh tật, chết chóc...
Đối
với những nhà cầm quyền muốn loại trừ
Ngài, hành h́nh Ngài, đóng đinh Ngài. Lúc Ngài
đang hấp hối trên thập giá, Ngài xin Cha trên trời
ban cho họ ḷng từ bi, bao dung, thương xót, hỷ
xả hành vi vô nhân, bất công của họ...
3. Thế nào là người mục tử như ḷng dân mong đợi?
Có hai loại quyền lực trong gia đ́nh, trong
cộng đoàn, trong xă hội : quyền
lực cứng và quyền lực mềm. Quyền lực
cứng làm cho mọi người sợ và tránh né, hoặc
làm cho họ bất măn và chống trả...Trong gia đ́nh,
quyền lực cứng được thể hiện khi
cha mẹ bày tỏ sự tức giận, la rầy, đánh
đập, xua đuổi con cái... Trong Giáo Hội và trong xă
hội, khi những người lănh đạo làm ra
luật lệ mang tính chuyên chế và phi nhân bản, không
mang tính thiên thời, địa lợi, nhân ḥa, khi cách
đối xử của họ làm cho mọi người
sợ sệt, tránh né, hoặc bất măn, chống đối...
Quyền lực mềm, lôi
cuốn, hấp dẫn, mọi người.
Tấm gương quyền lực mềm rơ ràng nhất mà
chúng ta có thể t́m gặp nơi Đức Giáo Hoàng Phanxicô
khi Ngài thi hành quyền bính và sứ vụ Phêrô, với con
tim đầy ḷng Chúa từ bi thương xót đối
với mọi người, đặc biệt đối
với người nghèo khổ, bị xă hội bỏ
rơi, loại trừ. Ngài thể hiện ḷng Chúa từ bi
thương xót qua nhiều cử chỉ khác nhau
:
-
Như qua cử chỉ hôn nhẫn hồng y của tôi, v́
tôi đồng hành với dân Chúa Việt Nam trung thành
sống ḷng tin cậy mến trong hoàn cảnh gặp
nhiều mất mát, khó khăn, thử thách.
-
Như qua cử hành nghi thức Rửa chân Thứ Năm
Tuần Thánh với cho những người trẻ
sống trong nhà tù giam hăm con người trong tuyệt
vọng.
-
Vượt mọi rào cản, nề nếp, đến
với trẻ nhỏ, gặp gỡ mọi người,
tiếp cận với bệnh nhân...
- Trong
cuộc gặp gỡ với Hội Đồng Giám
Mục Ư gồm 245 Hồng Y, Giám Mục, Đức Thánh
Cha chỉ cho thấy những sai xót trong quan hệ
đạo đời. Kết thúc, Ngài đến thân
mật bắt tay từng vị một
trong số 245 Hồng Y, Giám Mục...
-
Mời gọi dân Chúa năm châu cùng với Ngài chầu Chúa
Giêsu Thánh Thể, chiêm ngắm đỉnh cao ḷng Chúa
thương xót nơi cử chỉ hiến thân, hiến
cả mạng sống ḿnh v́ sự sống và sự
hợp nhất của gia đ́nh nhân loại...
4. Cầu nguyện và cộng tác với ơn
đổi mới của Chúa Thánh Thần
Gần đây, Đức Thánh Cha Phanxicô có lời
khuyên các mục tử đang chăm lo đời sống
con người : - hăy kiên tŕ cầu
nguyện và cộng tác với ơn đổi mới
của Chúa Thánh Thần giúp ḿnh ngày càng trở nên mục
tử nhân lành, - bằng không, người mục tử có
nguy cơ trở thành sói dữ, làm cho chiên khiếp sợ
và tránh né, thậm chí sát hại chiên. Suy nghĩ về
lời khuyên đó cùng những chỉ dẫn về
cầu nguyện, đồng thời nh́n lại
đời sống cầu nguyện của bản thân
cũng như của mọi thành phần dân Chúa,
đặc biệt là buổi gia đ́nh giáo phận cùng
cầu nguyện hiệp thông với Chúa Giêsu Thánh Thể,
vào lúc 22:00g Chúa Nhật 2.6.2013 vừa qua, tôi ghi nhận
lại những chỉ dẫn cốt yếu về
việc cầu nguyện với ḷng đầy tin cậy
mến, và những hiệu quả kỳ diệu mà
việc cầu nguyện mang lại cho nhiều người,
nhiều gia đ́nh. Nhằm mở
đường cho đời sống cầu nguyện
của người tín hữu vượt qua thói quen vô ư
thức, cùng khung nếp gây nhàm chán cho nhiều
người, đặc biệt người trẻ hôm nay.
5. Cầu nguyện với ḷng đầy tin cậy mến
Cầu nguyện là gặp gỡ Chúa Cha, cội rễT́nh Yêu nhân hậu,
Là chiêm ngắm Chúa Con đầy ḷng từ bi
thương xót vô biên,
Kết hợp Với Thánh Thần, suối
nguồn T́nh Chúa bao dung vô tận.
Chân thành cầu nguyện là mở rộng ḷng trí với Cha trên trời,
Đón nhận Lời Ngài là Lời ban ánh sáng Chân
Lư và An B́nh,
Lời ban sức sống mới chan ḥa từ bi
bao dung nhân hậu.
Chuyên cần cầu nguyện là nguồn nước trong lành,
Tưới cho hạt mầm mọi hồng ân Chúa thương ban,
Phát triển xanh tươi, trổ hoa thơm, sanh trái lành.
Cầu nguyện tăng năng lực đổi mới quyền lực trong xă hội,
Từ quyền lực cứng gây nên nghi ngại
sợ sệt, tạo ra chống đối,
Thành quyền lực mềm
hấp dẫn lôi cuốn nhân tâm người người.
Cầu nguyện giúp mọi người chuyên lo cho gia đ́nh cùng xă hội,
Thoát khỏi nguy cơ thành sói dữ, làm chiên
sợ, thậm chí hại chiên,
Ngày càng trở nên chủ chiên lành
hy sinh v́ sự sống của đoàn chiên.
Chuyên cần cùng cầu nguyện trong gia đ́nh, trong cộng đoàn,
Giúp mọi người, mọi thế hệ,
liên kết và hợp nhất nên một,
Luôn sống đồng tâm với nhau trong yêu
thương và an b́nh.
Gioan B.
Phạm Minh Mẫn - Hồng Y Tổng Giám mục

Con đă cố
gắng liên hệ với một số linh mục (học
tṛ cũ ) đang rao giảng Tin Mừng
ở Đài loan . Đây là bài của Cha Antôn Mai
Trọng Minh mấy năm rao giảng Lời Chúa ở
Đài loan và bây giờ du học và tồt nghiệp tại
Mỹ viết cho con, Con xin gửi đến Quư Đức
Cha, Quư Cha và các bạn đọc .
Lm.
PX. Nguyễn Hùng Oánh (giới thiệu bài viết)
I. Evangelizing, evangelize và evangelist:
Trong Hiến Chế Tín Lư về Giáo Hội số
17 (Lumen Gentium) Giáo Hội coi lời thánh Phaolô như lời
tự nhủ chính ḿnh: “khốn cho tôi
nếu tôi không giảng tin mừng” (1 Cor. 9:16) và không
ngừng sai các sứ giả Tin Mừng đến giúp
đỡ những giáo hội trẻ cho đến khi
tự họ vững mạnh và có thể tiếp tục
công việc rao giảng Tin Mừng.” (She makes the words of the
Apostle her own: “Woe to me, if I do not preach the Gospel, and continues
unceasingly to send heralds of the Gospel until such time as the infant
churches are fully established and can themselves continue
the work of evangelizing.) (vat lumen, web)
Bản dịch Hán ngữ: 「如果不傳福音,我就有禍了!」(格前:九,16),便繼續不斷地派遣福音使者,使有一日新生的教會健全地設立起來,而且也負起宣傳福音的責任。(LG 17)
chữ evangelizing tương đương với chữ
宣 傳 福 音 (Tuyên
truyền Phúc Âm)
Danh động từ evangelizing phát xuất
từ động từ evangelize có nghĩa là rao
giảng tin mừng (to preach the Gospel to) (Cf. Mer evan, web)
Danh từ evangelist, nghĩa là Người
loan báo tin mừng, (bản dịch nhóm PVCGK, xem cat con, web)
được sử dụng trong Cv 21:8, Ephêsô
4:11, và 2
Timothê 4:5.
Từ điển Bách Khoa Công Giáo khi bàn về danh
từ evangelist viết: “The Apostles, indeed, were
evangelists, inasmuch as they preached the Gospel (Acts 8:25; 14:20; 1 Corinthians 1:17); Philip likewise was both a deacon (Acts 6:5) and an evangelist (Acts 8:4-5; 8:40; 21:8); in like manner was St. Timothy exhorted by St. Paul to do the work of an evangelist (2 Timothy 4:5).” (new cath, web) “Các Tông
đồ là evangelists, v́ họ loan báo Tin Mừng; Philip
vừa là thầy sáu vừa là Người loan báo Tin
Mừng; trong cùng cách thức, thánh Phaolô khích lệ thánh
Timôthê làm công việc của người loan báo Tin
Mừng.” (2 Timôthê 4,5)
Bản dịch Hán ngữ dịch từ evangelist
là 傳揚福音者(Người
rao giảng Phúc Âm.) (cath 05645, web)
II. Bàn về từ ngữ the new evangelization
Tông thư Tertio Millennio Adveniente, số 21 của
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ra ngày 14 tháng 11 năm
1994, viết: “The theme underlying them all is evangelization, or
rather the new evangelization, the foundations of which were laid down in the
apostolic exhortation Evangelii Nuntiandi of Pope Paul VI...” (new jp02, web) “chủ
đề đặt nền tảng cho tất cả là
rao giảng Tin Mừng, hay đúng hơn là cách thức
mới rao giảng Tin Mừng, bắt nguồn từ
những ǵ được viết trong Tông huấn Evangelii
Nuntiandi của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI…”
Văn kiện của thượng Hội
Đồng Giám Mục Thế Giới lần thứ XIII,
THE NEW EVANGELIZATION FOR THE TRANSMISSION OF THE CHRISTIAN FAITH
(Phương pháp mới cho việc rao giảng đức
tin Kitô Giáo) số 45 khi nói về ư nghĩa cụm từ new
evangelization viết: "The commemoration of this half of the
millennium of evangelization will achieve its full meaning, if as bishops, with
your priests and faithful, you accept it as your commitment; a commitment, not
of re-evangelization, but rather of a new evangelization; new in its
ardour, methods and expression.” (new jp02, web)
“sự tưởng niệm về rao giảng Tin Mừng
trong nửa thiên niên kỷ sẽ đạt
được trọn ư nghĩa của nó, nếu với
tư cách là các giám mục, cùng các linh mục và các giáo
hữu của các ngài chấp nhận nó như sự dâng
hiến, không phải tái tuyên giảng Phúc Âm, nhưng
đúng hơn là cách thức mới để rao
giảng Phúc Âm; mới trong sự nhiệt thành,
phương pháp và diễn đạt.” Hơn
nữa Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhấn
mạnh “sự nhận thức mới về sứ vụ
cứu độ mà Giáo Hội nhận từ Đức
Kitô.”(xem vat_instru, web)
Vậy new evangelization phải hiểu là
cách thức mới để rao giảng Phúc Âm chứ
không thể hiểu là Tin Mừng mới hay Phúc âm
mới.
The new evangelization dịch theo
tiếng Hán là 新福傳 TÂN PHÚC
TRUYềN (Cách mới rao giảng Phúc Âm.) (Xem dic ZnewE, web) 福傳 (phúc truyền=Rao
giảng Phúc Âm) được sử dụng như danh
từ như khi viết 福傳工作 (Công
việc rao giảng Phúc Âm)
III. Ư nghĩa từ ngữ Phúc âm hóa:
Ư nghĩa chữ hóa化: Theo
Hán Việt từ điển trích dẫn (hanviet, web)
chữ hóa化 có
nghĩa như sau: (Động từ) Đặt sau tính từ
hoặc dành từ, biểu thị chuyển biến thành
trạng thái hay tính chất nào đó. ◎Như: lục hóa 綠化, ác hóa 惡化, điện khí hóa 電氣化, khoa học hóa 科學化, hiện đại hóa 現代化.
Phúc âm hóa có nghĩa là làm cho chuyển
biến theo tinh thần Phúc Âm.
IV. Tân Phúc Âm hóa:
Bây giờ bàn về
cụm từ tân Phúc Âm hóa新福音化. Bởi v́ chữ tân 新 (mới) làm tính
từ không thể đứng trước để
bổ nghĩa cho động từ hóa化.
Theo đúng văn phạm Hán th́ Tân Phúc Âm hóa có nghĩa
là làm cho chuyển biến theo tinh
thần Phúc Âm mới (Tân Phúc Âm). Ở
đây chữ tân bổ nghĩa cho Phúc Âm chứ
không thể bổ nghĩa cho động từ hóa.
(Chữ hóa nếu sử dụng như danh
từ th́ ư nghĩa sẽ khác hẳn và không phù hợp
với chữ new evangelization.) Khi
viết như thế th́ lại nảy sinh ra Phúc Âm
mới. Điều này hoàn toàn xa lạ
với Giáo Hội Công Giáo.
Ngược lại,
Đức giáo hoàng Gioan XXIII không muốn thay đổi
một chân lư đức tin nào. Ư định
của ngài khi triệu tập công đồng
được trích lại trong cuốn 101 Question and
answers on Vatican II như sau: “Pope John said he didn’t want
to change any of the articles of faith. He did want the council Fathers to
figure out new ways of getting the faith message across to the world.”
(Sullivan, p.13) “Đức Giáo Hoàng Gioan nói
rằng ngài không muốn thay đổi bất kỳ chân lư
đức tin nào. Ngài mong muốn các
nghị phụ của công đồng t́m ra phương
thức mới để truyền đạt sứ
điệp đức tin cho thế giới.”
Nói tóm, Giáo Hội đón
nhận và bảo tồn đức tin tinh tuyền từ
Đức Kitô. Giáo Hội luôn
phải t́m ra cho ḿnh sự nhiệt thành mới và cách
thức mới, phù hợp với từng thời
đại để truyền đạt cho nhân loại
sứ điệp Tin Mừng mà ḿnh đă đón nhận.
Đó là ư nghĩa của New
evangelization (Tân Phúc Truyền.)
Linh mục Antôn Mai
Trọng Minh
![]() |
VÂN
ĐÊ 07: Tôi đă ở bên
rất nhiều người sắp chết, mà khi họ
chết tôi chẳng thấy có linh hồn nào bay
ra cả. Các nhà tôn giáo lợi dụng bản năng
muốn tồn tại măi của con người nên đă
bày đặt ra linh hồn thiêng lieng bất tử
để làm tiền những người ngu
dốt tin theo. Thực sự chết đi là
hết.
TRẢ LỜI:
I. CON NGƯỜI CÓ LINH
HỒN, NHƯNG THIÊNG LIÊNG NÊN TA KHÔNG THẤY
ĐƯỢC.
1. Giác quan con người
có giới hạn:
Trong
vũ trụ thiên nhiên, có nhiều vật hiện hữu
thực sự, nhưng lại vượt quá tầm
tiếp nhận của giác quan con người.
Chẳng hạn: Mắt ta đâu có xem thấy ḍng
điện, đâu nh́n thấy được quang
tuyến X, tia xích ngoại tuyến hay
tử ngoại tuyến… Nhưng ai dám quả quyết không
có điện, không có những tia kia?
Giả như tạo hóa cho mắt con người xem
được 4000 tỷ rung động của ánh sáng
trong một giây đồng hồ, th́ bộ mặt
thực chung quanh ta sẽ thay đổi hẳn: Chúng ta
sẽ chỉ c̣n thấy các bộ xương ngướ
đeo đồng hồ ṭn ten ở cổ tay đi lang
thang ngoài đường phố: Tai cũng thế, nó
chỉ có thể tiếp nhận âm thanh trong một
giới hạn nào đó. Tai của loài chó được
huấn luyện có thể nghe được tiếng c̣i
siêu âm của chủ, đang khi tai con
người đành chịu bất lực không thê nghe
được.
Như
vậy, KHÔNG XEM THẤY LINH HỒN BAY RA NƠI MÔT
NGƯỜI CHẾT, KHÔNG PHẢI LÀ YẾU TỐ
ĐỦ ĐỂ QUẢ QUYẾT CON NGƯỜI KHÔNG CÓ
LINH HỒN.
2. Con người có linh
hồn có đăc tính thiêng liêng :
Con người có linh
hồn, nhưng sở dĩ ta không thấy được
v́ linh hồn có đặc tính thiêng liêng vô h́nh khác hẳn
vật chất. Cũng như dù không trông thấy ḍng
điện nhưng ta vẫn công nhận có điện, khi
thấy được hiệu quả của nó làm sáng bóng
đèn, làm quay máy quạt thế nào, th́ cũng vậy, dù
mắt ta không trông thấy linh hồn thiêng liêng nhưng
vẫn công nhận có linh hồn, nhờ thấy
được hiệu quả của linh hồn làm cho thân
xác sống động, và là nguyên nhân phát sinh tư
tưởng và ư chí tự do qua trung gian óc năo con
người.
II. CHẾT KHÔNG PHẢI LÀ
HẾT.
Con người vốn có
2 phần: thân xác vật chất và linh hồn thiêng liêng siêu
h́nh. Chết là khi thân xác không c̣n sống động, không ăn uống, đi đứng, nói năng
suy nghĩ... Nói cách khác: chết là khi linh hồn ĺa ra
khỏi xác. Khi ấy thân xác chỉ c̣n là
một khối vật chất, gồm những tế bào
không liên kết chặt chẽ với nhau như khi c̣n
sống, v́ thiếu sợi dây kết hợp là linh hồn.
Xác con người sẽ theo định luật biến
hóa của vật chất như bao vật khác: thịt
xương, sẽ bị thối rữa do ảnh
hưởng của nhiệt độ, không khí, vi trùng,v.v…để trở thành những chất
khác.
Chết đi không
phải là hết như có người lầm tưởng,
v́ linh hồn con người không tiêu tan theo
thể xác, nhưng sẽ c̣n tồn tại măi v́ những
lư do như sau:
1. V́ linh hồn có
đặc tính thiêng liêng:
Linh
hồn là nguyên lư sự sống của thân xác con
người. Người ta chỉ có thể nh́n
thấy hiệu quả của sự sống với hai tài
năng là trí khôn và ư chí, nhưng không thể thấy
được v́ có đặc tính thiêng liêng vô h́nh. V́
linh hồn không phải vật chất cũng không bị
biến hóa do ảnh hưởng của hoàn cảnh
vật chất theo các định
luật tiến hóa, nên linh hồn bất diệt, và luôn
tồn tại măi măi.
2. V́ là một
điều hợp lư:
a) Nh́n vào vạn vật
trong vũ trụ thiên nhiên, ta nhận thấy có một
sự xếp đặt trật tự hoàn hảo, vật
dưới phải phục vụ cho vật trên, vật
này làm thỏa măn vật khác. Chẳng hạn: Mắt có
khả năng và nhiệm vụ xem th́ trong thực tế đă
có ánh sáng, h́nh thể, màu sắc… đáp ứng với
khả năng xem ấy. Tai có khả năng
và nhiệm vụ nghe th́ thực sự đă có âm thanh,
tiếng đông làm thỏa măn khả năng nghe ấy.
Con cá có khả năng và nhu cầu sống dưới
nước, th́ khi thấy ở đâu có cá,
đương nhiên ta cũng thấy có nước là
thỏa măn nhu cầu cần nước ấy v.v…Cũng
thế, về phạm vi tinh thần, hầu như mọi
người đều tự nhiên muốn đươc
tồn tại măi măi, đều có nhu cẩu
được trường sinh bất tử… th́ thực
tế cũng phải có đời sống vĩnh cửu
sau khi chết để đáp ưng ước vọng
chung tự nhiên ấy mới hợp lư.
b) Giả như bạn
có thể nói chuyện với một bào thai,
th́ bạn sẽ nói với nó vê một đời sống
tương lai của bào thai mà chính bạn đă có kinh
nghệm và thực sự đang sống như sau:
- Hỡi bào thai, đời sống của mày ngắn
ngủi nhưng tiếp theo c̣n một đời sống
khác thực sự và lâu dài.
Vậy bào thai
sẽ trả lời bạn ra sao? Nếu thiếu suy
nghĩ th́ chắc nó sẽ trả lời:
- Tôi chỉ công nhận
có thực những ǵ tôi trông thấy và kiểm nghiệm
được. Do đó chỉ có một đời
sống hiện tại tôi đang sống, c̣n đời
sống khác như ông nói chỉ là sự bịa đặt
mê tín, không thể tin được.
Nhưng nếu có chút trí
khôn suy nghĩ chắc bào thai sẽ cho
rằng bạn có lư và tự nhủ:
- Ừ nhỉ, đây tôi
có hai tay, mỗi ngày một phát triển
hoàn bị thêm, Thế mà tôi chẳng cần dùng tới nó chút
nào cả. Tôi cũng không thể duỗi chúng ra
được! Nhưng tại sao tôi lại có hai cánh tay? Chắc là để dành cho
một chặng đường tương lai mà sau này tôi
sẽ cần đến chúng. Chân tôi
cũng mọc dài ra mà tôi cũng phải buộc co gấp
chúng. Vậy có chân làm ǵ trong khi hiện
giờ tôi không cần mà mỗi ngày nó một phát triển
thêm? Chắc là tôi sẽ phải sống
ở một hoàn cảnh khác mà ở đó tôi sẽ
phải sử dụng chân để bước đi.
Tại sao có hai mắt? Trong căn pḥng
tối tăm dày đặc này th́ có mắt cũng như
mù. Vậy có mắt để làm ǵ? Chắc
là tôi sẽ bước sang một thế giới
đầy màu sắc và ánh sáng và khi ấy tôi sẽ cần
sử dụng tới đôi mắt…
Tóm lại: Nếu bào thai có thể suy nghĩ về sự tiến
triển của nó, th́ nó sẽ hiểu rằng: Phải có
một đời sống khác ngoài bụng mẹ,
đời sống mà hiện nay nó chưa có chút kinh
nghiệm, nhưng chắc chắn phải có v́ hợp
với nhu cầu phát triên tự nhiên của nó.
-
Đối với linh hồn con người với hai tài
năng là trí khôn và ḷng muốn cũng vậy: khi c̣n
trẻ, chúng ta thường suy xét thiếu khôn ngoan.
Nhưng với năm tháng, dần dần trí óc học
hỏi mở mang theo và con người
mỗi ngày càng tăng thêm vốn liếng hiểu biết,
khôn ngoan. Thế rồi khi chưa sử
dụng sự khôn ngoan được bao lâu, th́ thần
chết lại đến dẫn đưa chúng ta
xuống mồ. Như vậy, trí khôn
thêm hiểu biết khôn ngoan làm ǵ nếu thực sự
chết đi là hết? Vậy cũng như tay chân, mặt mũi dần dần xuất
hiện với bào thai là để đề pḥng cho
đời sống ngoài đời thế nào, th́ tâm hồn
con người dần dần thêm kiến thức khôn ngoan,
cũng là để nhằm đến đời sống
khác thiêng liêng vĩnh cửu sau khi chết vậy.
- Hơn nũa nếu
chết là hết thực sự th́ người tốt có
khác ǵ kẻ xấu? Kẻ ăn trộm, tiểu nhân
với những bậc vĩ nhân quân tử có ǵ là khác biệt ? Nếu chết là
hết th́ cần chi phải kêu gọi từ bi hỉ
xả, đề cao sự lương thiện công
bằng? Chết mà hết thực sự th́ ai làm lành
là ngu, nhân từ là nhu nhược, bác ái
là dại dột. Chết mà hết th́
sống trên đời cứ việc giết người
cướp của thật nhiều, hưởng thụ
khoáí lạc cho đă, cần chi phải đề cao tinh
thần nhân đạo? Chết mà hết th́ tại
sao phải cử hành giây phút mạc niệm anh linh
những liệt sĩ ? Dựng
đài tưởng niệm hoặc dâng hương
trước di ảnh người quá cố? Nhưng
may mắn thay, hầu hết nhân loại đều không
thưa nhận chết là hết, mà mọi người
đều tin chắc chắn có đời sống vĩnh
cửu sau khi chết.
Socrate, nhà hiền
triết Hi Lap thế kỉ năm trước công nguyên,
khi được một người bạn hỏi ư
kiến về việc chôn cất ông như thế nào, ông
trả lời : ”Anh có thể vùi thân xác
tôi như thế nào tùy ư … nhưng c̣n chính tôi, anh không
thể chôn vùi được.” câu nói ấy đă chứng
tỏ Socrate tin tưởng linh hồn vẫn c̣n tồn
tại sau khi chết.
Nghiên cứu những di
tích thơi kỳ tiền sử ta thấy một
điểu chắc chắn là mọi dân tộc đều
tin có đời sống trường cửu sau khi chết.
Thực vậy, từ Âu sang Á, từ Bắc xuống Nam,
ở Úc cũng như ở Mỹ hoặc Trung Hoa, đâu
đâu cũng có những dấu tích chứng minh con
người tin tưởng một đời sống
bất diệt khi ho đê khí giới, dụng cụ,
lương thực trong tầm tay người chết là
có ư đê họ có thể sử dụng ở thế
giới bên kia. Trong mộ chôn của người Ai Cập
hầu hết đều có thuyền bồng, là để
cho người quá cố đi sang kiếp khác. Ngày nay dân Pic-mê, một dân tộc sống trong thâm
sơn cùng cốc ở Phi Châu, Úc Châu tượng trưng
cho cố nhân ngày xưa c̣n tồn tại, cũng tin linh
hồn bất tử. Nói đâu xa, nếu ai đó
muốn điều tra về ḷng tin tưởng linh
hồn bất diệt của con người thời
đại ngày nay như thế nào, th́ cứ ra nghĩa
trang trong những ngày lễ các linh hồn, hoặc ngày
lễ Vu Lan … sẽ biết.
Ngay
những người ngoài miệng tuyên bố không tin,
nhưng trong thực hành vẫn làm những việc
chứng tỏ ḷng tin vào lúc sắp chết, nhiều
người đă bỏ lập trường của ḿnh
đê quay về với niềm tin: Điển h́nh hơn
cả là cái chết của Voltaire, một người
chống đối tôn giáo say mê nhất. Với
ng̣i bút sắc bén, ông đă cố hạ bệ Thiên Chúa và
đánh đổ Giáo hội. Châm ngôn của ông là: ”Phải tiêu diệt đứa quái gở“
(tiếng dùng để ám chỉ Thiên Chúa). Không
một lời gian dối nào mà ông tởm gớm, không
một lời cáo gian nào mà ông ghê sợ. Ông chiêu mộ
một nhóm người lấy tên là nhóm “Anh em Beelzebuth”
với mục đích t́m cách hạ bệ Thiên Chúa . Năm 1753 ông đă tuyên án
cho Thiên Chúa như sau: “20 năm nữa Thiên Chúa có thể
hồi hưu, v́ không c̣n ai thèm phục vụ Ngài nữa“. Đúng 20 năm sau, năm 1773 Voltaire đă tắt
thở cách thê thảm trên giường bệnh. Khi
gần chết ông trông thấy những h́nh ảnh rùng ḿnh
ghê rợn đến nỗi ông la lên :
“Một bàn tay đang lôi kéo tôi đến với
Đức Chúa trời … Đây quỷ muốn tôi … Tôi trông
thâư hỏa ngục ghê quá“. Rồi ông tru trếu gầm thét
như thú vật hung dữ, lấy móng tay
cấu xé thịt ḿnh và rứt ra từng miếng. Một
bà già chuyên giúp đỡ những người hấp
hối sau khi chứng kiến cái chết của Voltaire
đă nói: “Khi ấy tôi ở gần giường Voltaire
đang hấp hối. Tôi không c̣n muốn
chứng kiến 1 người vô đạo chết
nữa”. Một người khác cũng đă nói thêm:
“nếu quỉ có thể chết được th́
chắc cũng không chết dữ như Voltaire”.
3. V́
chính Thiên chúa đă mạc khải cho biết có đời
sống vĩnh cửu
Ngoài
những lư lẽ suy luận của trí khôn nói trên, những
người Thiên Chúa giáo c̣n có một lư chứng chắc
chắn có đời sống vĩnh cửu sau khi chết
dựa vào mạc khải của Thiên Chúa trong Thánh Kinh,
đặc biệt là lời giảng dạy của
Đức Giesu về đời sống của con
người sau khi chết như sau: ”Linh
hồn con người sẽ chịu xét xử về công
việc của ḿnh đă làm khi c̣n sống. Đến ngày
tận thế, mọi xác chết đều
được Thiên Chúa dùng quyền phép của Ngài mà cho
sống lại để cùng chịu phán xét và chung số phận với linh hồn”.
Để
chứng minh lời dạy bảo về việc kẻ
chết sống lại, Đức Giesu đă dùng quyền
phép riêng của Ngài để tự sống lại sau khi
chết chưa đủ 3 ngày. Ngài
đă hiện ra với các môn đệ nhiều lần,
trước khi về trời ngự bên hữu Đức
Chúa Cha.
Thánh
Phaolô tông đồ đă viết: “Nếu việc kẻ
chết sống lại mà không có th́ Đức Kitô cũng
chẳng sống lại. Và nếu Chúa Kitô không sống
lại, tất nhiên lời tôi giảng cũng uổng công
và Đức tin của chúng ta cũng hóa ra vô ích. Nếu
những người chết không sống lại th́ Thiên
Chúa đă không cho Ngài sống lại…”
KẾT
LUẬN : Với những lư lẽ do dự, suy luận
của trí khôn con người, với những lời
mạc khải của Thiên Chúa về một đời
sống vĩnh cửu sau khi chết, linh hồn con
người không bị tiêu hủy nhưng sẽ tồn
tại măi măi…Chúng ta có thể quả quyết mà không sợ
lầm lẫn: CHẾT ĐI KHÔNG PHẢI LÀ HẾT,
CHẾT KHÔNG PHẢI LÀ TRỞ VỀ VỚI HƯ VÔ
NHƯNG LINH HỒN SẼ TỒN TẠI MĂI ĐỂ
ĐƯỢC HẠNH PHÚC BẤT DIỆT HAY SẼ
PHẢI TRẦM LUÂN NƠI HỎA NGỤC MUÔN ĐỜI,
TÙY THEO ĐỜI SỐNG CỦA CON NGƯỜI KHI C̉N
SỐNG Ở TRẦN GIAN NÀY.
PHÚT HÔI TÂM
Chúa phán: “Linh hồn
Thầy buồn phiền đến nỗi chết
, anh em ở lại đây và tỉnh thức vơi
Thây..."(Mc 14,,28-31). “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha”
Lạy Chúa Giê-su. Qua
lơi Chúa câu nguyên, chúng con xác tin răng: môi ngươi
chúng con đêu có môt linh hôn thiêng liêng bât tư.
Làm cho than xác song đông. Chêt là khi linh hôn
ĺa ra khỏi xác vê vơi Thiên Chúa, Đâng đă thô3i hơi
ban linh hôn cho than xác băng bùn đât của A-đam xưa.
Xin cho chúng con luôn song đẹp long Chúa, đê sau này con
đươc Chúa đón nhân vào Nươc Chúa muôn
đơi. Amen.
LM ĐAN VINH- HHTM
Nguyên tác: Taking Flight - Bay Lên Đi
Tác
giả: Anthony de Mello, S.J.
Chỉ dẫn:
Tốt nhất, các câu
chuyện sẽ được đọc theo
thứ tự như đă sắp xếp. Mỗi
lần đọc không quá một hoặc hai mẩu
chuyện nếu bạn ước ao có được
một cái ǵ đó hơn là chỉ giải trí.
Lưu ư:
Các chuyện
kể trong tập sách này đến từ nhiều
đất nước, nhiều nền văn hoá và tôn giáo
khác nhau; chúng thuộc về những di sản thiêng liêng,
những câu chuyện hài hước được ưa
chuộng của ḍng đời nhân loại.
Những ǵ tác giả làm là
xâu kết chúng lại với nhau theo
một ư hướng đặc thù. Công
việc của tác giả là công việc của
người thợ dệt và thợ nhuộm, tác giả
chẳng có công trạng ǵ về những tấm vải và
những sợi chỉ.
LTS. Chỉ dẫn
và lưu ư trên đây là của tác giả. Tuy nhiên, v́
Đặc San GSVN chỉ phát hành 2 tuần một lần
nên mỗi số báo BBT xin giới thiệu trung b́nh từ 5
đến 7 mẫu chuyện. Bạn đọc có thể
lưu lại để nghiền ngẫm suy tư.
Chủ đề : BẢN NGĂ
168.
Mẹ và bạn gái
Một phụ nữ
bị tổn thương trước thái độ
của cậu con trai mười lăm tuổi. Mỗi
lần họ đi ra ngoài với nhau, cậu đều đi
trước bà.
“Ồ, không thưa mẹ”,
cậu bối rối trả lời. “Chỉ v́ trông mẹ
quá trẻ đến nỗi con sợ bạn con nghi là con
có bạn gái mới”.
Sự tổn thương
của bà biến mất như thể bởi phép
thuật.
ڰ
169.
Bánh sinh nhật
Một ông cụ
đứng ở cửa một nhà hàng xóm với một
miếng bánh trong tay.
“Hôm nay, bà nhà tôi tám
mươi sáu tuổi”, ông nói, “và bà ấy muốn anh dùng
một miếng bánh sinh nhật của bà”.
Chủ nhà nhận miếng
bánh, ḷng đầy cảm kích, đặc biệt v́ ông
cụ đă đi bộ nửa dặm để mang
đến.
Nửa giờ sau ông cụ
trở lại, “Có vấn đề ǵ sao, thưa cụ?”,
người kia hỏi.
“Ồ!”, ông lim dim đáp,
“Agatha bảo tôi trở lại để nói với anh
rằng, bà ấy mới chỉ tám mươi lăm”.
ڰ
170.
Giẫm chân lên nhau
Một con gà trống
đang bới móc chung quanh chuồng ngựa tại một
trang trại lớn.
Con ngựa trở nên lo
lắng và bắt đầu đi loanh quanh, con gà ngước
nh́n và bảo, “Anh à, tốt hơn cả hai chúng ta nên
cẩn thận, bằng không, chúng ta có thể giẫm chân
lên nhau đấy”.
Hăy đoán xem
con kiến nói ǵ với con voi khi ông Noê cho các con vật
xếp hàng để lên tàu.
Nó bảo,
“Đừng có đẩy!”.
ڰ
171.
Voi và gia đ́nh bọ chét
Một con bọ chét
quyết định cùng gia đ́nh dời đến
lỗ tai của một con voi. V́ thế nó la lên, “Thưa
ông Voi, gia đ́nh tôi và tôi dự định chuyển đến
tai ông. Tôi nghĩ phải công bằng khi báo cho ông một
tuần để ông xem xét vấn đề và sẽ cho
tôi hay liệu ông có phản đối ǵ không”.
Con voi, thậm chí không ư
thức đến sự tồn tại của con bọ
chét, vẫn giữ điềm tĩnh. V́ thế, sau
một tuần cẩn thận chờ đợi, con bọ
chét cho rằng con voi đồng ư và chuyển đến.
Một tháng sau, bà bọ
chét cho rằng tai voi không phải là nơi lành mạnh
để sống và yêu cầu chồng ḿnh chuyển
đi. Ông bọ chét van bà ở lại ít nhất một
tháng nữa kẻo làm tổn thương cảm xúc của
con voi.
Cuối cùng, nó tŕnh bày cách
khéo léo có thể, “Thưa ông Voi, chúng tôi dự định
chuyển đến vùng khác. Dĩ nhiên điều này không
liên can ǵ đến ông, bởi v́ lỗ tai của ông th́
rộng và ấm. Chỉ rằng vợ tôi thích sống bên
bạn bè ở chân con trâu. Nếu ông phản đối
việc chuyển đi của chúng tôi, xin cho tôi hay trong ṿng
một tuần”.
Con voi không nói ǵ, v́ thế
con bọ chét thay đổi chỗ ở với một
lương tâm trong sạch.
Vũ trụ
đâu để ư ǵ đến sự tồn tại
của bạn. Cứ thanh thản mà sống!
ڰ
172.
Ai quấy rầy ai?
Ca đoàn tập dợt
lần cuối trong sự lộn xộn v́ ban đạo
cụ đang bận rộn đặt những
đường ranh lên sân khấu.
Khi một chàng trai bắt
đầu giáng những nhát búa đinh tai không thể
chịu được th́ người nhạc
trưởng cho ngừng hát và nh́n anh tỏ vẻ van xin.
“Xin nhạc trưởng
cứ cho tiếp tục hát”, người công nhân vui vẻ
nói, “Họ không quấy rầy tôi”.
ڰ
![]() |
Lm. Micae-Phaolo Trần Minh Huy,
pss.
BẢN
THẢO
ỨNG
SINH LINH MỤC HỌC & SỐNG LINH ĐẠO LINH
MỤC GIÁO PHẬN
GIÁO
TR̀NH TU ĐỨC LỚP THẦN II & III
ĐẠI
CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE HÀ NỘI
2011-2012
CHƯƠNG
HAI
ỨNG SINH LINH
MỤC GIÁO PHẬN HỌC VƯỢT LÊN KHỦNG HOẢNG
VÀ TÁI ĐỊNH HƯỚNG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ
VỤ ƠN GỌI LINH MỤC
C. ỨNG SINH LINH MỤC GIÁO PHẬN HỌC VÀ
SỐNG TƯƠNG QUAN VỚI GIA Đ̀NH (tiếp theo)
III. Những hỗ trợ và khó khăn gia đ́nh
có thể mang lại cho linh mục trong thời gian gặp
thử thách, đau ốm và yếu đuối.
Ngày nay, đời sống
linh mục gặp rất nhiều khó khăn do khủng
hoảng căn tính linh mục, cũng như do ảnh
hưởng của xă hội bị tục hoá và hưởng
thụ. T́nh trạng lạm dụng t́nh dục đă làm
ảnh hưởng tới uy tín của Giáo hội nói chung và cách riêng hàng linh mục. Đây là
những hỗ trợ và khó khăn mà gia đ́nh, bà con có
thể mang lại cho linh mục trong thời gian thử
thách, đau ốm và yếu đuối, v́ ngoài ơn Chúa
nâng đỡ, gia đ́nh và bà con anh chị em cũng
đóng một vai tṛ quan trọng cho đời sống và
sứ vụ của linh mục, v́ lời cầu nguyện
và đời sống gương mẫu của gia đ́nh
là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho linh
mục.
III.1. Những hỗ trợ
từ phía gia đ́nh
III.1a. Khi linh mục gặp
thử thách
· Khi linh mục gặp
phải những khó khăn trong công việc mục vụ
hoặc trong tương quan với bề trên và anh em, gia
đ́nh vừa là người ngoài cuộc có cái nh́n khách
quan, vừa là người thân cận luôn muốn
điều tốt cho linh mục, sẽ có những phân
tích, nhận xét và góp ư một cách chân thành cho linh mục
dễ dàng hơn.
· Không người nào có thể
gần gũi, hiểu biết và cảm
thông với linh mục hơn là gia đ́nh, v́ thế, linh
mục cũng dễ dàng tin tưởng và đón nhận
những góp ư của gia đ́nh ḿnh hơn.
· Khi bị hiểu lầm, con
người dễ cảm thấy chán nản, bị cám
dỗ thoái chí, ù ĺ, muốn buông xuôi. Lúc này, gia
đ́nh là nơi để linh mục có thể giăi bày, chia
sẻ để bớt căng thẳng.
· Người thân với
những lời khuyên tích cực là nguồn động viên
để linh mục thêm can đảm và kiên nhẫn
giải quyết vấn đề. Đôi khi,
v́ danh dự của gia đ́nh, mà linh mục sẽ cố
gắng sống tốt hơn, vượt lên mọi khó
khăn thử thách.
III.1b. Khi linh mục bị
đau ốm
Khi đau ốm,
người ta thường cảm thấy yếu
đuối và cần có người nâng đỡ, ủi
an. Tuy có con chiên bổn đạo chăm sóc, nhưng linh mục
cũng ngại v́ giáo dân bận rộn việc gia đ́nh,
nhất là khi ḿnh đau ốm lâu ngày. Vậy
gia đ́nh lui tới chăm sóc và động viên sẽ nâng
đỡ linh mục rất nhiều.
Người nhà đến
chăm sóc và phục vụ sẽ giúp cho linh mục
nhiều thuận tiện hơn với những công
việc tế nhị như vệ sinh, ăn
uống, thuốc men…
Ngoài ra, sự gần gũi và t́nh cảm ruột thịt của
gia đ́nh cũng tạo cho linh mục niềm tin
tưởng ḿnh không bị bỏ rơi, không bị cô
đơn.
III.1c. Khi linh mục yếu
đuối hoặc sa ngă
Khi linh mục yếu
đuối sa ngă về đời
sống t́nh cảm và khiết tịnh, đa số
người bên ngoài thường nh́n với con mắt không
thiện cảm, thậm chí c̣n chê trách và muốn tẩy
chay. Lúc khủng hoảng này, linh mục
dễ bị chán nản bỏ cuộc nếu không có
người thông cảm, nâng đỡ và góp ư giải
quyết.
Gia đ́nh, bà
con, nhất là cha mẹ, với t́nh cảm ruột thịt,
có thể có những lời khuyên bảo tốt nhất cho
linh mục quyết tâm vượt qua những yếu
đuối ấy.
Ngoài danh dự
và ơn gọi cá nhân, linh mục sẽ v́ danh dự gia
đ́nh mà thêm động lực vươn lên, can
đảm đứng dậy khỏi vấp ngă để
tiếp tục sứ vụ của ḿnh.
III.2. Những khó khăn
từ phía gia đ́nh
III.2a. Khi linh mục gặp
thử thách
Nhiều khi thay v́ nhận
được những lời động viên khích lệ th́ linh
mục có thể phải chịu những lời trách móc
chê bai từ phía gia đ́nh dễ làm cho bị tổn
thương, thất vọng.
Một số
gia đ́nh, bà con anh chị em có đời sống không
tốt khiến linh mục phải suy nghĩ, không yên tâm
làm việc mục vụ được rồi dẫn
đến chán nản.
III.2b. Khi linh mục bị
đau ốm
Khi đau ốm, cô
đơn và chán nản, không ai có thể gần gũi và chăm sóc linh mục tốt
bằng bằng t́nh máu mủ ruột thịt của cha
mẹ, anh chị em bà con. Nhưng nếu không
được gia đ́nh quan tâm động viên th́ linh
mục càng cảm thấy cô đơn hơn.
Khi ốm
đau, bệnh tật mà gặp phải sự hờ
hững lạnh nhạt, linh mục càng khổ tâm hơn
về mặt tinh thần.
Có khi gia đ́nh v́ ở xa nên không thể
thường xuyên tới thăm nom và giúp đỡ linh
mục được.
Nhưng người nhà
của linh mục đến phục vụ, giúp đỡ
trong lúc đau ốm cũng có sự khó: bị giáo dân
hiểu lầm là cha chỉ muốn người nhà
đến phục vụ thôi, và cảm thấy xa cách
đối với cha xứ của ḿnh.
Khi có giáo dân nghĩ “một
người làm quan cả họ được nhờ”,
sợ người nhà đến thu quén
của cải của linh mục mang về, khiến gia
đ́nh và anh em họ hàng e ngại không muốn tới
phục vụ.
Những linh mục cứ
phải gia đ́nh bà con đến phục vụ mới
yên tâm th́ cũng tội nghiệp cho con chiên bổn
đạo phải nghĩ ngợi “khi mạnh khỏe cha
phục vụ ḿnh, mà khi đau ốm th́ ḿnh lại bỏ
mặc cha!”
Khi đau
yếu, con người dễ trở nên khó tính khó nết,
việc giúp đỡ của gia đ́nh hay bổn
đạo cũng là một hy sinh và gánh nặng cho họ.
Linh mục
cũng có khi tủi thân v́ khi mạnh khỏe, ai cũng
năng tới nhờ cậy, mà khi gặp khó khăn,
thử thách, đau ốm th́ ai cũng tránh xa, sợ
vất vả liên luỵ.
III.2c. Khi linh mục yếu
đuối hoặc sa ngă
Thay v́ cảm thông chia sẻ
khi linh mục yếu đuối hoặc sa
ngă, gia đ́nh bà con có thể quay ra chỉ trích làm cho linh
mục càng cảm thấy tiêu cực và chán nản hơn.
Gia đ́nh, bà
con anh chị em cũng có khi phải nghĩ ngợi,
buồn ḷng v́ linh mục không muốn cho gia đ́nh biết
chuyện riêng của ḿnh sợ cha mẹ và anh em họ hàng
buồn.
Gia đ́nh và bà con cũng có
thể xa lánh linh mục v́ sợ phải liên luỵ, làm cho
linh mục dễ thất vọng, bỏ cuộc v́ sự
xa cách đó.
Có thể có hai cảnh trái
nghịch: gia đ́nh là chỗ dựa tinh thần tốt
nhất cho linh mục, nhất là những khi gặp
thử thách, đau ốm hoặc yếu đuối sa ngă, nhưng gia đ́nh cũng có thể gây
ra cho linh mục những khó khăn riêng. Ngoài
ơn Chúa trợ giúp, linh mục cũng rất cần
lời cầu nguyện, sự cảm thông nâng đỡ
và chia sẻ từ phía gia đ́nh. Muốn
được thế, linh mục cần sống tốt
mối tương quan với cha mẹ, anh chị em thân
thuộc. Mọi người phải ư thức
rằng làm linh mục không phải để thu
quén cho gia đ́nh, nhưng là để hiến thân phụng
sự Chúa và phục vụ mọi người.
Cộng
đồng giáo xứ là gia đ́nh thiêng liêng của linh
mục. Nếu có được mối tương quan
hài ḥa giữa hai gia đ́nh này, gia đ́nh máu mủ và gia
đ́nh giáo xứ của linh mục th́ tốt đẹp
biết bao nhiêu cho đời sống và sứ vụ
của linh mục trong mọi cảnh ngộ.
tôi tên là Ninh H Vi ở Sugar Lane, Texas.
Hôm trước tôi có hỏi bác sĩ về chứng mất ngủ. Được bác sĩ giải đáp chu đáo, tận t́nh. Tôi áp dụng một số điều chưa biết và quả là có kết quả. Chẳng hạn thay v́ nằm nướng th́ tôi xuống giường uống sữa nóng và làm lặt vặt. Giấc ngủ t́m lại dễ dàng hơn. Xin cảm ơn bác sĩ rất nhiều.
Tôi có một thắc mắc khác, là gần đây các khớp xương đầu gối hơi đau đau. Đi lên cầu thang hay bước lên xe cũng phải chùng người xuống xong mới trở lại b́nh thường. Tôi "nghi" là bị lăo hoá khớp xương. Nếu vậy th́ hơi sớm với tôi (54 tuổi). Các người quen tôi có người 70 vẫn chạy nhảy ào ào.
Nếu muốn khớp xương cứng mạnh hơn tôi có cần uống thêm calcium bán ở các hiệu thuốc tây không hay là cảm giác này do ảnh hưởng bởi thời tiết đang thay đổi mùa.
Bác sĩ cho tôi lời khuyên là tôi cần bổ sung chất xương hay chờ xem thời tiết ổn định hơn?
Chào bà Ninh
Các cụ ta vẫn nói “Ăn được ngủ được là Tiên”.
Xin mừng bà đang là “Tiên” một nửa. Tiên ½ v́ bây giờ do áp dụng vài mẹo vặt mà tôi đề nghị, bà đă có giấc ngủ dễ dàng hơn. Mai đây, khi mà bà “Ăn được” ngon lành th́ bà sẽ là Tiên 100% rồi đấy nhỉ?!. Lúc đó xin nhớ tới chúng tôi cũng như độc giả ở dưới trần thế này nhé.
Hôm nay bà lại nêu ra vài thắc mắc khác về “khớp xương đầu gối hơi đau đau” mà bà nghi là bị “lăo hóa” mấy khớp xương. Và than là mới 54 tuổi khớp đă hóa già hơi sớm, chả bù với chúng bạn thất thập cổ lai hy mà vẫn cọn chạy nhảy ào ào.
Vậy th́ chúng tôi lại có dịp “tư vấn” với bà. Đây là nghề của tôi từ khi về hưu, gói ghém cất ống nghe ống chích vào kho đấy bà ạ.
Bà cho biết là mới tuổi 54 mà đă thoái hóa viêm khớp gối, phải chùng người xuống mỗi khi lên cầu thang hoặc xuống xe mới trở lại b́nh thường.
Th́ xin thưa cùng bà là thực ra khớp đă bắt đầu thoái hóa ở tuổi sớm hơn rồi đấy bà ạ. Theo cơ quan CDC Hoa Kỳ, từ tuổi 40, đă bắt đầu có những thay đổi trong cấu tạo của khớp. Sớm hơn nữa, từ 25 tuổi trở lên đă có 13% người nhen nhúm bị viêm khớp và từ 65 tuổi trở lên th́ tỷ lệ bị bệnh khá cao, những 33%. Tức là 100 người th́ 13 người bị viêm ở tuổi từ trên 25 và cứ 100 người ở tuổi trên 65 th́ 33 người bị bệnh. Biết đâu bà đang ở trong nhóm thứ nhất này.
Ngoài ra cũng nên để ư là viêm khớp có thể không rơ nguyên nhân hoặc là hậu quả của những thương tích nặng nhẹ ở khớp, rối loạn nội tiết, chuyển hóa, bệnh thần kinh hoặc bẩm sinh.
Mấy người bạn thất thập của bà vẫn chạy nhẩy ào ào th́ cũng chưa chắc là họ không bị viêm khớp. Có thể là họ bị viêm khớp nhưng đă áp dụng những phương thức trị bệnh khác nhau như vận động cơ thể, tiêu thụ đầy đủ chất dinh dưỡng, tránh rủi ro gây bệnh, cho nện họ vẫn sinh hoạt b́nh thường. Cũng có thể là họ có tạng người tốt, có gen di truyền ngon lành từ cha mẹ, ḍng họ.
Tiện thể cũng kế bà nghe là người quá kư là hay bị viêm khớp đầu gối lắm đấy, v́ đầu gối liên tục chịu đựng một sức nặng quá mức. Rồi lại c̣n liên tục chấn thương v́ thể thao quá mạnh, lao động chân tay quá mức, nâng nhấc vật quá nặng, lên gối xuống gối hơi nhiều hoặc khớp làm động tác nhắc đi nhắc lại như máy.
Và quư bà thường nhiều rủi ro bị viêm khớp hơn quư ông. Tại Hoa Kỳ có khoảng 27 triệu người bị Viêm khớp th́ nữ giới chiếm 60%. Tại sao ư? Ít nhất có ba giải thích là do di truyền, cấu tạo sinh học và ảnh hưởng của hormon.
Theo bác sĩ Yusuf Yazici, Đại học Y Nữu Ước, con gái có mẹ bị viêm khớp th́ hay bị bệnh này ở cùng tuồi và cùng loại khớp, đặc biệt là khớp bàn tay và đầu gối.
Các nhà nghiên cứu cho hay, hormon nữ estrogen bảo vệ sụn ở khớp, chống lại hiện tượng viêm. V́ thế, khi tới tuổi măn kinh, ngoài 50, quư bà mất sự bảo vệ này, cho nên viêm khớp thường xảy ra.
Về cấu trúc sinh học, th́ các nhà nghiên cứu nêu ra nhiều lư do. Cũng theo bác sĩ Yazici, thiên chức của quư bà là 9 tháng mang nặng đẻ đau cho nên hay bị viêm khớp. Bởi v́ phải sanh đẻ cho nên gân cốt ở phần dưới cơ thể có đàn tính nhiều hơn ở đàn ông, khiến cho khớp dễ siêu vẹo với hậu quả là dễ bị tổn thương. Ông ta cũng giải thích thêm rằng bề ngang hông phụ nữ rộng hơn hai khớp đầu gối, khớp này không ở đường thẳng đứng như ở đàn ông, cho nên không vững chắc, dễ bị tổn thương. Một nghiên cứu khác cho hay, mỗi lần sanh là một lần tăng rủi ro bị viêm khớp gối và hông ở quư bà.
Bây giờ tới câu bà hỏi là “Nếu muốn khớp xương cứng mạnh hơn tôi có cần uống thêm calcium bán ở các hiệu thuốc tây không”.
Tôi không biết bà đă đi khám bệnh chưa, đă chụp x-quang khớp đầu gối coi xem có bị viêm, đă đo bone density để coi mức độ đậm đặc của xương…Nếu đă đi rồi th́ chắc là bà đang được bác sĩ hướng dẫn điều trị nếu các xét nghiệm bất thường, kể cả việc uống thêm calcium. C̣n nếu chưa th́ nên đi bác sĩ gia đ́nh để được khám và làm các xét nghiệm định bệnh.
C̣n việc dùng thêm calcium, th́ tôi xin có ư kiến như sau.
B́nh thường, ở người dưới 50 tuổi, cần khảng 1000 mg calcium mỗi ngày, c̣n ở người nhiều tuổi hơn cần khoảng 1200 mg/ngày. Nếu chúng ta tiêu thụ đầy đủ, cân bằng các chất dinh dưỡng th́ ta đă có đủ số calcium này. Calcium có nhiều trong sữa, sữa chua, pho mát, cải bắp, broccoli, spinach, cauliflower, đậu, pumpkin.. hoặc trong nước uống có tăng cường calcium, trong cereal điểm tâm, bánh ḿ…Nếu không tiêu thụ đầy đủ th́ cần bổ sung, dùng thêm calcium mua ở tiệm thuốc tây.
Cũng lưu ư bà là có nhiều loại calcium khác nhau mà 3 loại sau đây là thường dùng:
- Calcium citrate như Citrical, dễ được hấp thụ, hơi đắt mà lại có ít calcium.
- Calciun carbonate như Tums, Rolaid, rẻ tiền, nhiều calcium, phải uống khi ăn cơm hoặc uống ly nước có chất chua như nước cam, thường hay gây táo bón và gas.
- Calcium phosphate, rẻ tiền hơn, dễ hấp thụ, không gây táo bón vào gas.
Ngoài ra, cần:
- Đọc kỹ nhăn hiệu với phân lượng, cách dùng
- Uống làm nhiều liều lượng nhỏ trong ngày, v́ cơ thể chỉ hấp thụ được 500 mg một lúc.
- Cần uống thêm sinh tố D v́ cơ thể cần sinh tố này để có thề dùng calcium tốt hơn. Nên mua sản phẩm có cả 2 thành phần này.
- Không dùng calcium bổ sung quá 1200 mg/ngày ngoại trừ khi có ư kiến của bác sĩ hoặc nhà dinh dưỡng. Dùng trên 2500 mg/ngày có thể đưa tới tổn thương cho thận và làm giảm tiêu thụ sắt, kẽm, magnesium.
- Calcium và một vài loại
dược phẩm như kháng sinh, hạ huyết áp,
thuốc Fosamax, Bonniva có tác dụng qua lại với nhau,
cho nên cần uống calci trước hoặc sau các
loại dược phẩm này.
C̣n chuyện
thời tiết với viêm khớp. tôi xin bà
cho “hưỡn” kỳ sau nói. Bài này hôm nay cũng dài
rồi, để bà cũng như tôi đứng lên
vươn vai, chim bay c̣ bay cho thư dăn
cơ thể, bớt cứng khớp.
Vắn tắt đôi
lời, hy vọng giải đáp thắc mắc của bà.
Bà có thể vào trang web của tôi:
www.bsnguyenyduc.com để
đọc thêm mấy bài về Viêm Khớp mà tôi post lên
đó.
Chúc bà thân tâm thường an
lạc
Bác
sĩ Nguyễn Ư Đức
Video Sống Khỏe
- Sống Vui:
http://www.erct.com/2-ThoVan/NguyeYDuc/00-Video-Menu.htm
![]() |
Tối 3/6/2013, tại nhà xứ của Giáo xứ Phú Trung, lớp Giáo huấn Xă hội của Giáo hội Công giáo (GHXHCG) đă được khai giảng bởi Linh mục Giuse-Maria Lê Quốc Thăng, trưởng Ban Công Lư và Ḥa B́nh Tổng Giáo phận Sài G̣n – cũng là linh mục chánh xứ Giáo xứ Phú Trung.
Lớp
học này sẽ được tổ chức đều
đặn từ 19h đến 21h vào mỗi thứ 2 hàng
tuần, kéo dài khoảng 3 tháng. Mỗi buổi học
sẽ gồm 3 phần: Phần đầu, chính cha
Giuse-Maria sẽ chia sẻ bài giảng; Phần 2, lớp
sẽ chia thành các nhóm nhỏ để thảo luận
về đề tài bài học; Phần cuối, các nhóm
sẽ cùng nhau đúc kết những vấn đề
đă suy tư, rút ra bài học cho bản thân cũng như
t́m định hướng để sống và
thực hành Giáo huấn.
Thành phần lớp học đa số là các
bạn trẻ. Cụm từ GHXHCG
với các bạn có lẽ khá mới mẻ, khá thú vị và
kích thích sự t́m ṭi học hỏi – nhất là qua phần
gợi mở cũng khá ấn tượng hấp dẫn
của vị linh mục trưởng Ban Công Lư và Ḥa B́nh.
Qua buổi học mở đầu, cha Giuse-Maria đă giúp
mọi người h́nh dung được GHXHCG là ǵ thông
qua việc triển khai rất sáng hai ư sau:
1/ GHXHCG
được đặt nền tảng trên
Thánh Kinh, các Thông điệp và Công Đồng của Giáo
hội, là một h́nh thức Phúc Âm hóa, Tin Mừng hóa
các thực tại xă hội. V́
thế GHXHCG chính là phương thế mới
để rao giảng Tin Mừng hôm nay.
2/
Nội dung chính của GHXHCG gói gọn trong một chữ: CON
NGƯỜI – là thụ tạo mà Chúa đă công phu sáng
tạo một cách kỳ diệu, và cứu độ
một cách kỳ diệu hơn bằng chính Con Một
của Đấng tạo thành trời đất,
để con người được trở nên CON
THIÊN CHÚA, đồng thừa tự với
Đức Kitô. Chính hai mầu nhiệm Sáng
Tạo và Cứu Độ cực kỳ cao trọng và
thiêng liêng này đă làm nên PHẨM GIÁ CON NGƯỜI –
một PHẨM GIÁ bất khả xâm phạm.
CON
NGƯỜI ấy được GHXHCG đặt tại
trung tâm của 5 ṿng tṛn đồng tâm lần lượt
thể hiện phẩm giá con người qua các giềng
mối giữa CON NGƯỜI và GIA Đ̀NH,
QUỐC GIA, CỘNG ĐỒNG QUỐC
TẾ và BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG.
Rất
thực tế, GHXHCG trang bị cho mỗi người
những nguyên tắc để suy tư, những tiêu
chuẩn để phán đoán, những chỉ dẫn
để hành động nhằm hướng
dẫn cách thế dấn thân loan báo Tin Mừng trong mọi
lĩnh vực của đời sống xă hội, từ văn
hóa, lao động, kinh tế, đến chính trị, ḥa
b́nh… . GHXHCG cũng chỉ ra 4 giá trị mà mỗi
người phải theo đuổi: T̀NH YÊU,
CÔNG LƯ, SỰ THẬT, TỰ DO.
Đúng
như Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI nhận
định trong thông điệp Caritas In
Veritate (T́nh yêu trong chân lư): “GHXHCG có một chiều
kích liên ngành quan trọng, từ viễn cảnh này có thể
chu toàn một phận vụ có hiệu quả ngoại
thường. Giáo huấn này cho phép ĐỨC TIN, THẦN HỌC, SIÊU H̀NH HỌC
và KHOA HỌC t́m
được vị trí của ḿnh trong sự cộng tác để phục vụ con
người. Chính ở
đây mà GHXHCG cụ thể hóa chiều kích khôn ngoan
của ḿnh.” (số 31).
Buổi
học đă kết thúc trong sự thân thiện, háo hức
và b́nh an trong trong lời cầu nguyện và phép lành Chúa ban
qua tay vị linh mục khả ái.
ĐĂNG TR̀NH
![]()
-
Mọi liên lạc: Ghi danh, thay đổi địa
chỉ, đóng góp ư kiến, bài vở..., xin gởi về
địa chỉ
-
Những nội dung sẽ được đề cao và
chú ư bao gồm:
Trao
đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế
trong việc mục vụ của Giáo sĩ; Những tài liệu của Giáo
hội hoặc của các Tác giả nhằm mục đích
Thăng tiến đời sống Giáo sĩ; Cổ vơ
ơn gọi Linh mục; Người Giáo dân tham gia công
việc “Trợ lực Giáo sĩ” bằng đời
sống cầu nguyện và cộng tác trong mọi lănh
vực; Mỗi Giáo dân phải
là những “Linh mục” không có chức Thánh; Đối
thoại trong tinh thần Bác ái giữa Giáo dân và Giáo sĩ…
(Truyền giáo hay xây pháo đài?)
-
Quy vị cũng có thể tham khảo những số báo
đă phát hành tại
Rất
mong được sự cộng tác, hưởng ứng
của tất cả Quí vị
Xin chân thành cám ơn tất cả anh
chị em đă sẵn ḷng cộng tác với chúng tôi
bằng nhiều cách thế khác nhau.
TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam
Lm. Luca Phạm
Quốc Sử USA