|
GIỚI THIỆU TÔNG HUẤN
"GIÁO
HỘI TẠI Á CHÂU" (ECCLESIA IN ASIA) |
|
LTS.
BBT GSVN sẽ cho đăng làm nhiều kỳ tài liệu
này, xin Quí vị đón xem. Dưới đây chỉ là vắn tắt giới thiệu.
Nguồn: http://www.simonhoadalat.com
"Giáo Hội tại Á Châu
là tài liệu hậu Thượng Hội Ðồng mà Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã công bố
trong chuyến công du mục vụ của Ngài tại Á Châu, khi Ngài dừng chân ở New
Delhi, Ấn Ðộ vào ngày 6/11/1999. Khi chiêm ngắm đại lục, nơi Ðức Giêsu đã sinh
ra và sống cuộc đời trần thế, nơi Giáo Hội Công Giáo chỉ là một thiểu số nhỏ
bé, nơi những vấn đề không bao giờ chấm dứt và dù là nơi Giáo Hội chịu nhiều
bách hại, Ðức Thánh Cha vẫn nhận thấy Á Châu là một chân trời mới đầy hứa hẹn
cho một "mùa gặt các linh hồn mà Ngài thấy đã chín mùi và phong phú"
cho sứ vụ của Giáo Hội trong Ngàn Năm Thứ Ba (số 9).
1. Á Châu, nơi khai sinh của Ðức Giêsu và của Giáo
Hội. Sự tin tưởng và nhiệt huyết của Ðức Thánh Cha dựa
trên hai yếu tố :
* Mặc dù không gây ấn tượng bề ngoài, nhưng trong lịch sử Ðức Giêsu và Giáo Hội
được khai sinh từ nguồn cội Á Châu. Kế hoạch cứu chuộc kỳ diệu của Thiên Chúa
được "khởi đầu tại Á Châu" (số 1), Thiên Chúa chọn một truyền thống ở
Á Châu ; chính từ Á Châu mà Giáo Hội bắt đầu phát triển (Tây Á Châu : thế kỷ IV
và V ; Ấn Ðộ : năm 52 ; Trung Hoa : thế kỷ V, x, số 9). Mặc dù "đây là một
mầu nhiệm : Ðấng Cứu chuộc thế gian sinh ra ở Á Châu, mà cho đến nay vẫn còn
nhiều người của lục địa này chưa biết đến Ngài" (số 2), nhưng Năm Thánh là
một cơ hội để công bố rằng "Ðấng Cứu Chuộc thế gian ... đã sinh ra ở Á
Châu" (số 2) và trong Ngàn Năm Kitô Giáo Thứ Ba "một mùa gặt phong
phú về đức tin sẽ thu hoạch được trong lục địa rộng lớn và đầy sức sống
này" (số 1).
* Lục địa Á Châu, tuy có nhiều mâu thuẫn về kinh tế, chính
trị, văn hóa và tôn giáo, nhưng đang phát triển trong sự cộng tác (số 7) và
trong nhận thức về nhân phẩm và quyền con người (số 8). Sự thức tỉnh lương tâm
này là công trình của Thánh Thần (số 8) nhận thấy qua sự khao khát Thượng Ðế
của người dân Á Châu (số 9) : "Á Châu đang khao khát nước hằng sống mà chỉ
có Ðức Giêsu Kitô mới có thể ban cho". Chính sự tìm kiếm tôn giáo này là
yếu tố độc đáo của đại lục Á Châu và nền văn hóa của Á Châu. Như một thách đố
cho các nhà nhân chủng học quá tỉ mỉ muốn phân chia Á Châu thành nhiều Á Châu
khác nhau, Ðức Giáo Hoàng nói về thế nào "là người Á Châu" (số 6),
con người đã thấm sâu các tôn giáo và văn hóa của lục địa này : đó là thinh
lặng, chiêm niệm, hài hòa, hiếu thảo, quý trọng các giá trị của gia đình, tôn
trọng người già, và liên đới với tha nhân ... Nhận xét của Ðức Giáo Hoàng thật
nền tảng, bởi vì nó giải thoát người Á Châu khỏi những phân loại có tính cách
phân biệt chủng tộc của Tây Phương, mà còn khỏi bị khuynh hướng tự đề cao chính
mình, cho rằng mọi nguồn văn hóa đích thực chỉ phát xuất từ Á Châu. Ðức Giáo
Hoàng nói : "Nhận thức 'là người Á Châu' này được khám phá cách tốt đẹp
nhất và xác quyết không do bởi sự đối chất và chống đối, nhưng trong tinh thần
hòa hợp và bổ sung."
2. Món quà cao quý Giáo
Hội dành cho Á Châu : Ðức Giêsu, Ðấng Cứu Thế. Sự phong
phú về tôn giáo và văn hóa Á Châu, thay vì làm giảm bớt, đã thực sự gia tăng
tính cách khẩn trương của sứ vụ truyền giáo được giao phó cho Giáo Hội. Sau
Công Ðồng, một số thần học gia, là người Á Châu hay không, bắt đầu đặt vấn đề
có cần thiết phải rao giảng Kitô Giáo hay không ? họ cho rằng mọi tôn giáo đều
là "Ðường dẫn đến ơn cứu độ" ; hơn thế nữa, còn có những ý tưởng hội
nhập văn hóa đức tin Kitô Giáo, đưa đến việc so sánh công trình cứu chuộc của
Ðức Kitô với công trình của Ðức Phật hay của các thần nhập thế của Ấn Giáo, và
như thế đã giảm bớt các nét đặc trưng của Kitô Giáo. Ðức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II, tiếp thu các chỉ dẫn của các Nghị Phụ, đã diễn đạt lại trong tư cách
là huấn quyền. Trong chương 2 và 3 của Tông huấn Giáo Hội tại Á Châu, Ngài cho
thấy tại sao Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Thế duy nhất, và tại sao Ngài là Ðấng Cứu
Chuộc muôn dân (số 10). Trước hết, Ðức Giáo Hoàng đã diễn tả cuộc đời Ðức Giêsu
với các nét "Á Châu" : Ngài sinh ra và lớn lên trong một cuộc đời
nghèo nàn, Ngài là người tị nạn, Ngài vâng phục cha mẹ, Ngài cầu nguyện liên lỉ
(số 11). Sau đó Ðức Giáo Hoàng đưa ra những đặc tính của Ðức Giêsu hoàn toàn xa
lạ với văn hoá Á Châu : Ngài gần gũi với người nghèo, người tội lỗi, người ô
uế, trẻ em và người chết. Ngài bị nền văn hóa thống trị thời ấy cho là kẻ phạm
thượng, vi phạm Luật Thánh, phá rối công cộng, một kẻ thất bại. Như mọi người
nói, đó chính là cớ vấp phạm của Kitô Giáo. Nó đã xúc phạm đến văn hóa Á Châu
(và không chỉ có Á Châu), nơi đầy dẫy giai cấp, sợ hãi chết chóc, hòa hợp để có
an bình nội tâm, thành công, được trọng vọng. "Cớ vấp phạm" Kitô Giáo
lại càng triệt để hơn nữa : Ðức Giáo Hoàng định nghĩa căn tính của Ðức Giêsu
như một mầu nhiệm hiệp thông với Chúa Cha (số 12). Sự quy chiếu của Ngài về với
Chúa Cha là điểm phân biệt Ðức Giêsu với vô vàn vị "Cứu Tinh" khác
(họ đến nhân danh chính mình) hoặc các thần nhập thế (có nguồn gốc vô danh và
mơ hồ), và với bất cứ tôn giáo nào coi Thiên Chúa cách biệt với nhân loại và
không thể đến gần được.
Ðức Giêsu Kitô, "Con người đích thực", tự tỏ lộ cho nhân loại : trong
Ngài, chúng ta khám phá ra "Sự cao cả và phẩm giá của mỗi một con người trong
trái tim của Thiên Chúa" (số 13) ; một "Sự hiệp thông mới giữa loài
người" và "Giữa Thiên đàng và trần thế". Ðức Giêsu Kitô,
"Một mình Ngài đã hoàn thành kế hoạch cứu chuộc trần gian của Chúa
Cha", Ngài đã "Tỏ lộ mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa Cha" (số
14) và là Ðấng Trung Gian duy nhất và phổ quát. Ðiều đó có nghĩa :
. "Không cá nhân nào, không quốc
gia nào, không văn hóa nào mà không thể không bị tác động bởi lời mời gọi của
Ðức Giêsu" (số 14) ;
. "Những giá trị đích thực của mọi truyền thống tôn
giáo và văn hóa" tìm thấy nơi Ngài "Sự viên mãn và thực hiện"
3. Hoạt động của Chúa
Thánh Thần, trong công trình sáng tạo và trong dòng lịch sử, cách riêng tại Á
Châu.
Ðiều này được nói rõ hơn
trong chương 3, đề cập đến Chúa Thánh Thần. Nơi đây Ðức Giáo Hoàng nhấn mạnh về
:
. Sự hiện diện của Thánh Thần Thiên Chúa trong tạo thành
: các giá trị của Thánh Thần là trật tự, hòa hợp, phụ thuộc lẫn nhau, ở
những nền tảng của các tôn giáo như Lão Giáo và Ấn Giáo ; mọi tôn giáo ở Á Châu
đều "Có khả năng giúp đỡ con người hành động trong tư cách cá nhân cũng
như tập thể, chống lại sự dữ, và phục vụ đời sống cũng như những gì được coi là
tốt lành".
. Thần Khí "Xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con" ; chúng ta không thể tách biệt hoạt động của Thần Khí với hoạt động của
Ðức Giêsu, Ðấng Cứu Thế - như một số thần học gia Á Châu đã có ý định này (số
16). Ðó là lý do tại sao "Sự hiện diện phổ quát của Chúa Thánh Thần không
thể được dùng như một bào chữa cho sự thất bại trong việc loan truyền minh
nhiên Ðức Giêsu Kitô là Ðấng Cứu Thế duy nhất và độc nhất".
. Giáo Hội, Nhiệm Thể của Ðức Kitô cũng có cùng một Thần Khí, Ðấng khuôn đúc Giáo Hội thành "Một cộng đồng chứng nhân". Sự
hiện diện của Giáo Hội có thể "Ðem lại một sự gặp gỡ giữa Ðức Giêsu Kitô
và người dân Á Châu.
4. Hội Nhập Văn Hóa Ðể
Loan Báo Ðức Giêsu, Ðấng Cứu Ðộ Duy Nhất.
Những giải thích thần học
thật hấp dẫn và thận trọng của những chương này nhấn mạnh đến sự khẩn trương rõ
rệt và sự cần thiết trong việc loan truyền đức tin Kitô giáo cho Á Châu mà
không mặc cảm hay lo sợ : "Không thể có việc truyền giáo thực sự nếu không
công bố Ðức Giêsu là Chúa một cách rõ ràng" (số 19). Việc loan báo
"Tôn trọng quyền tự do của lương tâm" và "Không xâm phạm sự tự
do" (số 20) ; Chúng ta không thể bị cản trở bởi mặc cảm về Kitô giáo có
"Nguồn gốc Tây Phương". Chúng ta phải chấp nhận cái thách đố của sự
hội nhập, bằng cách trình bày một Ðức Kitô Á Châu cho người Á Châu, như nhiều
nhà truyền giáo đã từng thực hiện Giovanni di Montecorvino, Matteo Ricci,
Roberto de Nobili, x. số 20.
Ðức Thánh Cha dành ba
đoạn về vấn đề hội nhập văn hóa (21-23) để đề cập đến các tác nhân (trước hết
là các Giám mục, linh mục và thần học gia, và toàn thể Dân Chúa), và các lãnh
vực (tư duy, triết học, phụng vụ). Về vấn đề hội nhập văn hóa của phụng vụ, Ðức
Giáo Hoàng nói rằng những nỗ lực không chỉ về phương diện khảo cổ học (dùng
những dấu hiệu cổ truyền) - nhưng còn phải nhận thức những dấu hiệu quan trọng
trong hoàn cảnh hiện nay, và những nhu cầu đặc biệt của người Á Châu. Ngài nhắc
đến các Nghị Phụ có đề nghị các danh xưng mới cho Ðức Giêsu, mang nhiều ý nghĩa
trong não trạng người Á Châu và phù hợp với truyền thống Kinh Thánh : "Ðức
Giêsu như Thầy Khôn Ngoan, Ðấng Chữa Lành, Ðấng Giải Phóng, Vị Thầy hướng dẫn
thiêng liêng, Minh Chủ, Người Bạn hay thương xót của kẻ nghèo, Mục Tử Tốt Lành,
Ðấng Vâng Phục ..." (x. số 20) "Tuy nhiên, đời sống người Kitô là
phạm vi quan trọng nhất cần đến sự hội nhập văn hóa". Ðức Giáo Hoàng kêu
gọi mọi người Kitô Á Châu hãy làm nhân chứng cho một đời sống mới trong Ðức
Giêsu, qua sự cầu nguyện, chiêm niệm, và bác ái (số 23). Thật vậy, Ðức Giáo
Hoàng yêu cầu rằng bất cứ hình thức hoạt động truyền giáo nào đều phải có cuộc
sống chiêm niệm như một nâng đỡ và hình thức, chứ không phải chủ trương duy
hoạt động. Trong Tông Huấn này, nhiều lần Ðức Giáo Hoàng yêu cầu các Giám mục
và Linh mục không chỉ là "Người quản trị về kinh tế" hay "Các
người thiện chí có lòng nhân đạo", nhưng "Chính yếu là người của
Thiên Chúa" (số 43). Theo chiều hướng đó, hoạt động truyền giáo sẽ không
chỉ là một dấn thân về phương diện xã hội. Hơn thế nữa, để thỏa đáp nhu cầu
tinh thần của Á Châu, Ðức Giáo Hoàng "Mạnh mẽ khuyến khích" các cộng
đoàn đan tu và chiêm niệm mở các lãnh vực truyền giáo ở Á Châu (số 44), cũng
như thiết lập những tương giao với các truyền thống đan tu khác của lục địa này
(số 31). Một phương cách đặc biệt để loan truyền đức tin là sống thinh lặng và
trở nên thật sự chứng nhân của Tin Mừng ngay cả khi gặp bách hại về đức tin.
Hội nhập văn hóa không chỉ được thi hành trên bàn giấy, qua nghiên cứu, mà còn
qua sự tử đạo hàng ngày (số 23). Ðức Giáo Hoàng nhắc đến "Nhiều miền của Á
Châu", nơi đó "Sự tự do tôn giáo bị khước từ hoặc giới hạn một cách
có hệ thống"
5. Hiệp thông và đối
thoại để loan báo Tin Mừng cho mọi dân tộc.
Sự khẩn trương của công
cuộc truyền giáo lại tái xuất hiện ở chương V. Chương này khẳng định sự hiệp
thông, sự hiệp nhất của Giáo Hội về chân lý đức tin và công cuộc truyền giáo ở
Á Châu, là một lục địa có nhiều căng thẳng, chia rẽ và xung đột do những khác
biệt chủng tộc, xã hội, văn hóa, ngôn ngữ, kinh tế và tôn giáo ...
Sự hợp nhất phải được gia
tăng bằng cách để giáo dân tham dự trong việc hoạch định mục vụ, nhất là phụ nữ
và trẻ em. Nhưng trên tất cả, sự hợp nhất phải được biểu lộ bằng sự liên đới
giữa các Giáo Hội (số 26). Ðức Giáo Hoàng kêu gọi việc đề cao hơn các Giáo Hội
cổ kính Ðông Phương, phong phú về truyền thống và kinh nghiệm đối thoại với thế
giới Chính Thống Giáo và Hồi Giáo. Ngài cũng kêu gọi hỗ trợ các Giáo Hội non
trẻ. Nhưng trên tất cả, Ngài thúc dục sự liên đới với các Giáo Hội đang đau khổ
và bị bách hại (số 28). Ngài nhắc đến Giáo Hội ở những nơi không được công khai
bày tỏ niềm tin của mình, gởi đến các người Công Giáo này một sứ điệp cảm động
(đừng bao giờ để sự gian khổ và buồn phiền làm giảm bớt lòng sốt mến đối với
Ðức Kitô và sự dấn thân phục vụ tha nhân).
Trên tất cả, các nỗ lực
hợp nhất đại kết phải được hỗ trợ qua "các trung tâm đại kết về cầu nguyện
và thảo luận" (số 29) ; đối thoại với các tôn giáo khác qua những nơi sống
khổ tu và thần bí Kitô giáo". Ðức Giáo Hoàng khẳng định rõ ràng rằng đối
thoại với các tôn giáo khác không phải là chủ trương hòa hợp, đó là "sự
biểu hiện truyền giáo cho mọi dân tộc".
6. Giáo Hội tiếp nối sứ
mạng yêu thương và phục vụ của Ðức Giêsu : Phục vụ sự thăng tiến con người.
Chương VI nhắm đến đến sự
phục vụ của Giáo Hội đối với sự thăng tiến con người, Á Châu được mô tả với
những hạn chế về quyền con người và vì lý do tôn giáo (số 33), nghèo khổ về mặt
kinh tế (số 34), văn hóa sự chết và loại trừ (số 35). Hoàn cảnh đó tạo nên hằng
triệu người nghèo, trẻ em bị bóc lột, phụ nữ bị đối xử như nô lệ, các người tị
nạn, di dân, người thổ dân, những người không được chăm sóc về y tế. Việc bảo
vệ nhân quyền và cổ võ công lý là một thách đố "không thể tránh và không
thể khước từ" đối với Giáo Hội. Phương tiện để thực hiện điều đó là dạy
bảo về học thuyết xã hội của Giáo Hội ; Tạo sự liên đới mới giữa các quốc gia
giàu và quốc gia kém phát triển (số 32) ; dấn thân trong việc giáo dục và y tế
với một "căn tính Kitô Giáo rõ rệt" (số 37) ; Nỗ lực tìm kiếm hòa
bình trên phương diện liên tôn giáo và quốc tế (số 38) về lãnh vực này, Ðức
Giáo Hoàng nhắc đến "những đau khổ của nhiều người dân tại một số nước ở Á
Châu mà do những hệ lụy khác nhau, phải thiếu thốn các tiện nghi căn bản để
sống", Ngài kêu gọi những người có trách nhiệm hãy tìm kiếm "một giải
pháp thích đáng cho sự khủng hoảng" (số 38). Ngài vạch ra cho Giáo Hội
những dấn thân trong thế giới toàn cầu hóa, khuyến khích giáo dân tìm kiếm
"những qui tắc đạo đức và pháp lý' để đảm bảo "sự toàn cầu hóa mà
không gạt một số người ra ngoài lề" (số 39) ; Ðể giảm bớt nợ nần quốc tế,
bằng cách kêu gọi các chính phủ chủ nợ diệt trừ nạn tham nhũng (số 40) ; Bảo vệ
môi sinh ; Dấn thân cho công lý là một khía cạnh của sự thờ phượng Thiên Chúa
cách đích thực (số 41).
7.
Những chứng nhân của
Tin Mừng tại Á Châu : Rường cột của công cuộc truyền giáo.
Chương cuối cùng, chứng
nhân cho Phúc Âm, đem lại những hướng dẫn cho hoạt động truyền giáo của Kitô
hữu ở Á Châu. Thêm vào những gì Ngài đã đề cập trước đó về các Giám mục, Linh
mục, các cộng đồng, Ðức Giáo Hoàng còn khuyến khích các hiệp hội truyền giáo từ
lâu đời "đừng nao núng trong dấn thân truyền giáo" và hãy tập trung
vào Ðức Kitô và đời sống thiêng liêng sâu sắc, bên cạnh việc hòa nhập sứ vụ
truyền giáo và các kế hoạch mục vụ của Giáo phận. Ðồng thời, mỗi Giáo phận được
mời gọi khuyến khích việc mở mang các hội đời sống tông đồ ở địa phương, với sứ
vụ truyền giáo ad gentes, ad exteros và ad vitam (số 44).
Việc đề cao giá trị của
giáo dân - đặc biệt là người trẻ - trên hết phải tập trung vào gia đình, là cột
trụ nền tảng của xã hội và Giáo Hội ở Á Châu (số 46). Về các phương tiện mới mẻ
để Phúc Âm hóa, Ðức Giáo Hoàng nhấn mạnh đến truyền thông, truyền thanh, cơ
quan thông tấn, xuất bản) khi nói rằng những phương tiện này không chỉ được xử
dụng trong việc loan truyền Phúc Âm mà còn phải đem Phúc Âm vào nền văn hóa mới
của truyền thông (số 48). Tuy nhiên, công cụ quan trọng nhất cho việc Phúc Âm
hóa ở Á Châu vẫn là "các anh hùng đức tin" -các vị tử đạo là
"hạt giống của đời sống mới cho Giáo Hội trong bất cứ nơi đâu của lục
địa" (số 49). Thêm vào số các vị tử đạo trong quá khứ, chúng ta phải kể
đến các Kitô hữu bị bách hại ngày nay : "họ là những cột trụ ẩn dấu của
Giáo Hội" là thành phần của Giáo Hội Á Châu, một thiểu số nhưng "đầy
hy vọng và sức sống" (số 50).
Trong lời nguyện kết dâng
lên Mẹ Ðức Kitô (số 51), Ðức Maria đựơc tuyên xưng như gương mẫu của mọi công
cuộc truyền giáo ở Á Châu, là người có thể "dạy chúng ta đừng bao giờ sợ
nói về thế giới với Ðức Giêsu và nói về Ðức Giêsu với thế giới".
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
MẦU NHIỆM SỰ SỐNG - MỘT ĐỀ NGHỊ
|
|
Nguồn:
www.huongvedaihoidanchua.net
Nhân loại
tái sinh khi một Evà mới là Ðức Maria xuất hiện. Qua những Mầu
Nhiệm Mai Khôi, Mẹ dẫn đưa tín hữu ngày càng đi sâu vào một Sự
Sống huyền nhiệm mới, đó là Ðức Giêsu Kitô. Càng thấu hiểu huyền
nhiệm Sự Sống, họ càng tìm thấy giá trị và ý nghĩa đích thực của
cuộc đời.
Hơn nữa,
bước theo Mẹ, họ sẽ không bao giờ phải lo sợ, vì dưới danh hiệu
“Thánh Mẫu Thiên Chúa ( Theotokos ), người tín hữu tìm được nơi
trú ẩn nhờ biết cầu nguyện trong cơn nguy khốn.” ( Xin xem Hiến
Chế Tín Lý về Giáo Hội, Lumen Gentium, số 66 ).
Trên trần
gian, Mẹ rất lo lắng ơn cứu độ cho mỗi người. Nhưng làm sao có
thể được cứu độ, nếu không biết sự thật là Ðức Giêsu Kitô, Ðấng
giải thoát nhân loại ? Thực tế, chỉ có Mẹ mới dạy chúng ta biết
rõ sự thật về Chúa Kitô. Bởi thế, không có Mẹ, làm sao chúng ta
có thể hy vọng được cứu độ ? Mẹ dạy chúng ta trong trường học
tin yêu là Tràng Hạt Mai Khôi. Vì đã hạ sinh, dưỡng dục Con
Thiên Chúa làm người, nên Mẹ sẽ chỉ vẽ cho chúng ta một con
đường ngắn nhất và đúng nhất dẫn tới nguồn ân cứu độ là Ðức
Giêsu Kitô.
Chính Mẹ
cũng là một mẫu gương sáng chói nhất cho chúng ta biết hồng ân
Thiên Chúa là gì và hoạt động ra sao dưới quyền lực Thánh Linh.
Trong ngày Truyền Tin và Hiện Xuống, Mẹ đã xuất sắc trong thiên
chức làm Mẹ khi chiêm niệm được ý nghĩa việc Thần Khí phủ bóng
và hiện xuống. Nhờ vậy, Mẹ đã nêu gương cho Giáo Hội ( chúng ta
) trong việc sinh dưỡng ơn Chúa Kitô trong thế giới. ( Xin xem
x. Encyclopedia of Cathlolic Doctirine, ed. Russell Shaw, Mary,
Mother of the Church, F.M. Jelly, O.P. )
Bước theo
Mẹ trong Mầu Nhiệm Mai Khôi, chúng ta sẽ cảm nghiệm và sống lại
tất cả vẻ đẹp của lịch sử cứu độ.
SỰ SỐNG,
MỘT HUYỀN NHIỆM
Sự Sống là
một huyền nhiệm phát xuất từ Thiên Chúa. Muốn khám phá Sự Sống,
không những phải hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa, nhưng còn phải
dõi theo bước chân Mẹ Maria qua các mầu nhiệm Mai Khôi. Chỉ có
Mẹ mới giúp chúng ta thấy và trân quý tất cả vẻ đẹp huyền nhiệm
trong công cuộc tạo dựng và cứu độ. Vì thế, Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II mới dám sống với tâm tình phó thác: “Mọi sự của con là
của Mẹ”.
Mẹ đề cao
những giá trị của Sự Sống Thiên Chúa. Mẹ hết sức quý trọng Sự
Sống con người cũng như vạn vật. Sự Sống đó bắt đầu từ khi Thiên
Chúa tạo dựng để chiếu tỏa vinh quang ra vũ trụ. Càng suy gẫm,
Mẹ càng thấy Sự Sống kỳ diệu, nhất là Sự Sống con người được
Thiên Chúa chăm lo đặc biệt. Nếu không, Thiên Chúa đã không chọn
một dân riêng để ban lời hứa và lề luật. Hơn nữa, Người còn sai
các Ngôn Sứ đến chuẩn bị cho dân của Người đón nhận Ơn Cứu Độ.
Nếu Sự Sống không có giá trị, tại sao Thiên Chúa phải lo bảo vệ
và phát triển như thế ?
Trong mầu
nhiệm cứu độ, Thiên Chúa dành lại Sự Sống cho con người. Đó cũng
là cơ hội con người cộng tác với Thiên Chúa để dành lại Sự Sống
cho chính mình. Sự Sống có một giá trị khôn sánh và vô cùng cao
cả. Chỉ Thiên Chúa mới có thể tạo dựng và giành lại Sự Sống cho
con người. Sự Sống vừa là một hồng ân vĩ đại nhất vừa là một
thách đố lớn nhất đối với con người.
Hơn lúc
nào, ngày nay cuộc khủng hoảng về Sự Sống đang đe dọa nhân loại.
Các phong trào phá thai, đồng tính luyến ái, nhân bản con người,
ly dị, xâm phạm nhân quyền v.v... là những tệ nạn đang làm nhức
nhối và đục khoét lương tâm con người. Cần phải có những nỗ lực
lớn lao mới có thể giành lại Sự Sống và những giá trị Sự Sống
cho con người. Suy niệm theo MẦU NHIỆM
SỰ SỐNG là góp phần quan trọng vào công cuộc đấu
tranh cho Sự Sống.
Mầu nhiệm
Mai Khôi là con đường dẫn Kitô hữu đi sâu vào tình yêu Thiên
Chúa. Qua những nẻo đường huyền nhiệm đó, Thiên Chúa sẽ mạc khải
Mẹ Maria như người cộng tác chính yếu với Chúa Giêsu trong
chương trình cứu chuộc nhân loại. Đồng thời qua đó Chúa cũng cho
con người những phương tiện hữu hiệu để đạt được cứu rỗi cho
chính mình và cho đồng loại. Chính vì thế, khi ban hành Ba Mệnh
Lệnh Fatima, Mẹ Maria muốn mọi người lần hạt Mai Khôi để cứu vãn
nền hòa bình thế giới.
Khi nghe
tin Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II lập thêm một mầu nhiệm vào
Kinh Mai Khôi truyền thống, nhiều người tưởng đó là
MẦU NHIỆM SỰ SỐNG, một chủ đề
đã ảnh hưởng sâu đậm và chi phối suốt đời ngài. Thực tế, ngài đã
công bố MẨU NHIỆN SỰ SÁNG. Mầu Nhiệm Sự Sáng thật là quan trọng
và cần thiết cho những người muốn chiêm ngắm vinh quang Thiên
Chúa qua các mầu nhiệm cứu độ được thể hiện trong thời gian Chúa
Giêsu truyền đạo. Hơn nữa, mầu nhiệm đó kết thúc bằng sự kiện
Chúa Giêsu thiết lập Bí Tích Thánh Thể như cao điểm của tất cả
các mầu nhiệm. Thật là tuyệt vời !
Như thế,
Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã có công làm phong phú Mầu
Nhiệm Mai Khôi truyền thống. Thế nhưng, tất cả các mầu nhiệm đó
đều nằm trong bối cảnh Tân Ước. Phải chăng mầu nhiệm cứu độ chỉ
giới hạn trong Tân Ước ? Thưa không. Thiết tưởng có trở về nguồn
Cựu ước, mới khám phá được tất cả chiều kích tình yêu Thiên Chúa
trong công cuộc tạo dựng và cứu độ.
MẦU NHIỆM
SỰ SỐNG, MỘT ĐỀ NGHỊ
MẦU NHIỆM SỰ SỐNG
rất gần gũi và nằm trong tầm nhìn của Đức
Cố Gioan Phaolô II. Giả sử, sau khi lập Mầu Nhiệm Sự Sáng, Người
công bố thêm MẦU NHIỆM SỰ SỐNG,
chắc không thiếu người hưởng ứng. Tuy thế,
lúc này cũng chưa muộn. Vậy chúng tôi xin đề nghị với Giáo Hội
một mầu nhiệm mới:
MẦU NHIỆM
SỰ SỐNG
Cũng như
các mầu nhiệm khác trong chuỗi Mai Khôi,
MẦU NHIỆM SỰ SỐNG xoay quanh một tâm điểm duy nhất
là Chúa Giêsu Kitô.
MẦU NHIỆM SỰ SỐNG cũng trải qua
5 chặng đường với nội dung suy niệm sau đây:
Chục Thứ nhất:
Thiên Chúa
tạo thành vạn vật nhờ Ngôi Lời. Ta hãy xin cho được góp phần xây
dựng nền Văn Hóa Sự Sống.
Mầu nhiệm
này phóng tầm nhìn con người tới Sự Sống là chính Thiên Chúa.
Thời điểm huyền diệu nhất là khi Người bắt đầu mạc khải chính
mình qua việc tạo dựng Sự Sống trong vũ trụ, mà chóp đỉnh là con
người. Vinh dự cao cả nhất của con người là được mời gọi cộng
tác vào công trình tạo dựng đó. Nhờ quyền năng Thiên Chúa, con
người có thể tiếp tục “tạo dựng” Sự Sống trên mặt đất này. Vinh
dự đó đang bị chà đạp vì những nỗ lực hủy diệt của phong trào
phá thai.
Hơn lúc
nào, con người phải tìm về nguồn sống là chính Thiên Chúa mới có
thể khám phá giá trị Sự Sống. Từ đó, mới có thể tôn trọng Sự
Sống đích thực. Sự Sống ấy là một hồng ân Thiên Chúa. Đó là nền
tảng cho quyền làm người. Vì đánh mất niềm tin nơi Thiên Chúa,
con người không còn tôn trọng Sự Sống. Bởi vậy, chúng ta cần cầu
xin cho chính mình và mọi người biết tôn trọng Sự Sống từ trong
gia đình cho đến ngoài xã hội.
Chục Thứ hai:
Sau khi
nguyên tổ sa ngã, Thiên Chúa hứa ban Đấng Cứu Thế. Ta hãy xin
cho được cộng tác vào công cuộc xây dựng nền Văn Minh Tình
Thương.
Thiên Chúa
đầy lòng thương xót đã thực hiện tất cả lời hứa. Người mạc khải
tất cả tình yêu mãnh liệt cho đối tượng tình yêu là con người.
Tình yêu Thiên Chúa mạnh hơn tội lỗi và sự chết. Theo Thánh
Augustinô, tội hồng phúc Ađam đã khiến Con Thiên Chúa xuống thế
hòa giải con người với Thiên Chúa. Đúng hơn, tình yêu Thiên Chúa
đã phá hủy hoàn toàn bức tường ngăn cách con người với Thiên
Chúa do tội Ađam xây nên. Con người phải cố gắng nhận ra tình
yêu Thiên Chúa như một hồng ân vô cùng cao cả và cần thiết cho
cuộc sống hôm nay.
Nhờ Con
của Người là Chúa Giêsu Kitô, chúng ta được chia sẻ Sự Sống sung
mãn với Người. Người nhận chúng ta làm con trong gia đình Ba
Ngôi Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta không bao giờ có quyền thất
vọng, dù cuộc sống này đầy thử thách và có lúc phải chấm dứt.
Niềm hy vọng của chúng ta dựa trên một nền tảng vững chắc là
chính lời hứa của Thiên Chúa.
Chục Thứ
ba:
Tổ Phụ
Abraham hiến tế Isaac cho Thiên Chúa và nhận lại con mình như
biểu tượng Chúa Kitô Phục Sinh. Ta hãy xin cho được sống lại với
Người.
Giao ước
đó là nền tảng cho Sự Sống còn của nhân loại. Nếu Thiên Chúa
không giữ giao ước với Abraham, không thể có một dòng dõi đông
như sao trên trời và như cát ngoài bãi biển. Bởi vậy, Giao Ước
với Abraham là một bằng chứng Thiên Chúa yêu thương nhân loại và
sẵn sàng làm cho mặt đất phong nhiêu Sự Sống.
Giao ước
với Tổ Phụ Abraham cũng là nguồn phát sinh nền văn minh nhân
loại. Một nền văn minh không xây dựng trên tình thương chỉ dẫn
đến hố diệt vong. Tương quan giữa con người phải là tương quan
huynh đệ, bắt nguồn từ giao ước với Thiên Chúa. Bởi vậy, muốn
củng cố tương quan nhân loại hôm nay, chúng ta cần ôn lại nội
dung và giá trị giao ước Thiên Chúa đã ký kết với Tổ Phụ
Abraham.
Chục Thứ
tư:
Thiên Chúa
sai Môsê đưa Dân Chúa về Đất Hứa. Ta hãy xin cho được tin Chúa
Giêsu là Đấng Cứu Ðộ duy nhất của toàn thể nhân loại.
Suốt bốn
mươi năm trên sa mạc, Môsê đã hướng dẫn Dân Chúa về Đất Hứa, nơi
chảy sữa và mật. Nhờ bàn tay Môsê, Thiên Chúa đã giải phóng Dân
Chúa. Dân Chúa đã thoát ách nô lệ và vào miền đất tự do, thoát
ngục tử thần vào miền đất sống. Thực tế, Môsê đã không vào được
Đất Hứa.
Môsê chỉ
là hình ảnh tiên trưng về Chúa Giêsu. Chúa Giêsu mới là vị lãnh
đạo đích thực và duy nhất của Dân Chúa. Người dẫn đầu một đàn em
nhân loại đông đảo, vượt qua sa mạc trần gian và vào tận Nhà Cha
trên trời. Cuộc vượt qua Biển Đỏ và sa mạc trần gian sẽ không
thể hoàn thành nếu không có vị lãnh đạo tối cao là Chúa Giêsu.
Chỉ Người mới đủ quyền năng để hiện diện và cứu giúp kịp thời
những người đang chiến đấu để vào miền Đất Hứa là Thiên Đường.
Tin tưởng mãnh liệt Chúa Giêsu là Đường dẫn về Nhà Cha, chúng ta
mạnh dạn tiến bước...
Chục Thứ năm:
Thánh
Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa. Ta hãy
xin cho được ơn sám hối để sống và sống dồi dào.
Gioan Tẩy
Giả là ngôn sứ cuối cùng loan báo và chỉ cho dân Chúa biết Đấng
Cứu Thế. Chúa Giêsu là Thiên Chúa, đã vượt qua mọi giới hạn để
đến với con người và trở thành trung tâm điểm của toàn thể vũ
trụ và nhân loại. Tội lỗi đã lẻn vào trần gian và đem theo cái
chết. Người đến giải thoát muôn dân khỏi tội lỗi và đem lại Sự
Sống cho toàn thể nhân loại. Bởi thế, Gioan đã kêu gọi mọi người
sám hối để được ơn tha thứ và cứu độ.
Cũng như
Gioan Tẩy Giả, Kitô hữu có bổn phận loan báo cho muôn dân biết
Chúa Giêsu là Sự Sống đích thực của toàn thể nhân loại. Sứ mệnh
loan báo Tin Mừng thuộc về toàn thể Dân Chúa. Lời Chúa sẽ đến
với mọi người qua những chứng từ sống. Chứng từ rõ ràng và mạnh
mẽ nhất chỉ xuất hiện trong tình yêu. Bởi vậy, từ trong gia đình
đến ngoài xã hội, Kitô hữu có sẵn những phương tiện và cơ hội
thi hành sứ mệnh ngôn sứ theo lệnh Chúa. ( Xin xem Mc 16, 15 )
CHƯƠNG
TRÌNH ĐỌC KINH MAI KHÔI
Đề nghị
thiết lập MẦU NHIỆM SỰ SỐNG,
không nhằm tạo thêm phiền toái cho hình thức đạo đức, nhưng chỉ
muốn cống hiến một cơ hội để nhìn vào bức tranh toàn diện của
mầu nhiệm cứu độ. Có thể có than phiền rằng bốn mầu nhiệm Mai
Khôi đã quá dài rồi, thêm MẦU NHIỆM SỰ
SỐNG nữa làm chi.
Thực ra,
có lẽ đối với nhiều người, dù chỉ một Mầu nhiệm cũng quá dài.
Còn những ai sẵn sàng lắng nghe và thực hành Mệnh Lệnh Fatima,
bao nhiêu cũng không đủ để cứu vãn nền hòa bình thế giới và sự
sinh tồn của nhân loại. Vả lại, không ai bó buộc phải đọc một
lúc cả năm mầu nhiệm ấy.
Hơn nữa,
thiết tưởng thâu tóm toàn thể lịch sử cứu độ trong năm mầu nhiệm
đâu phải là quá dài. Mỗi một mầu nhiệm đều có những nét đặc biệt
diễn tả tình yêu Thiên Chúa trải dài suốt lịch sử cứu độ. Thiếu
một mầu nhiệm nào, Kitô hữu sẽ cảm thấy việc cầu nguyện và suy
gẫm không trọn vẹn.
Càng đi
sâu vào từng mầu nhiệm, chúng ta sẽ càng khám phá được tất cả
chiều kích lớn lao của công cuộc cứu độ. Thiên Chúa vô cùng khôn
ngoan khi phác họa và thực hiện công trình tạo dựng và cứu độ.
Bởi thế, có đề nghị hàng trăm mầu nhiệm cũng không đủ để khám
phá và chiêm ngưỡng những nét tuyệt vời của tình yêu Thiên Chúa.
Vậy, chúng
tôi xin đề nghị một lịch trình suy niệm 5 Mầu Nhiệm Mai Khôi như
sau:
1. Nếu mỗi
ngày bạn đọc 50 kinh hay một Mầu Nhiệm:
Thứ Hai:
Sự Sống.
Thứ Ba: Mùa Vui.
Thứ Tư: Sự Sáng.
Thứ Năm: Mùa Mừng.
Thứ Sáu: Mùa Thương
Thứ Bảy: Mùa Vui.
Chúa Nhật: Mùa Mừng.
2. Nếu mỗi ngày bạn đọc một tràng 150 kinh hay cả ba Mầu
Nhiệm:
Thứ Hai:
Sự Sống, Mùa Vui, Sự Sáng.
Thứ Ba: Sự Sống, Mùa Thương, Sự Sáng.
Thứ Tư: Sự Sống, Mùa Mừng, Sự Sáng.
Thứ Năm: Sự Sống, Mùa Vui, Sự Sáng.
Thứ Sáu: Sự Sống, Mùa Thương, Sự Sáng.
Thứ Bảy: Sự Sống, Mùa Mừng, Sự Sáng.
Chúa Nhật: Sự Sống, Mùa Mừng, Sự Sáng.
Như thế,
mỗi ngày đều ngắm hai mầu nhiệm Sự Sống và Sự Sáng, kèm ở giữa
là một mầu nhiệm Mùa Vui, Thương hay Mừng. Nếu mỗi ngày đều lần
hạt trọn một tràng trăm rưởi, chúng ta có thể phục hồi được lịch
trình cũ của Kinh Mai Khôi truyền thống. Ngày nào chúng ta cũng
suy gẫm Mầu Nhiệm Sự Sống và Sự Sáng để cầu nguyện cho Phong
Trào Bảo Vệ Sự Sống và cho mọi người biết quý trọng Sự Sống theo
đúng chiều hướng Thiên Chúa và Giáo Hội.
3. Nếu mỗi
ngày bạn đọc một tràng 250 kinh hay cả năm Mầu Nhiệm:
Bạn chỉ
mất chừng 70 phút mà thôi. Tuy mất giờ một chút, bạn có thể đi
với Mẹ dọc theo suốt công trình tạo dựng và cứu độ của Thiên
Chúa. Cả một công trình lớn lao như thế mà chỉ mất có bảy mươi
phút, làm sao gọi là nhiều ? Trái lại, càng chiêm ngắm những kỳ
công Thiên Chúa trong việc tạo dựng và cứu độ, càng thấy mình
hạnh phúc vì được Thiên Chúa yêu thương.
Sống trong
Tình Yêu Chúa, chúng ta sẽ thấy cuộc sống vô cùng dồi dào và ý
nghĩa. Nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta đủ sức lao mình vào biển
Tình Yêu Thiên Chúa và múc lấy những tinh hoa cao quý mà cống
hiến cho đời.
THAY LỜI
KẾT
Đây chỉ là
một đề nghị. Nếu được đón nhận rộng rãi và được giáo quyền chuẩn
y, MẦU NHIỆM SỰ SỐNG sẽ cống
hiến một bức tranh toàn bích về mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa.
MẦU NHIỆM SỰ SỐNG hy vọng sẽ
mở rộng tầm nhìn về mạc khải Thiên Chúa trong công cuộc tạo dựng
và cứu chuộc nhân loại. Nhờ suy gẫm MẦU
NHIỆM SỰ SỐNG, chúng ta sẽ thấy tất cả giá trị Sự
Sống và tiến trình Thiên Chúa giải thoát nhân loại khỏi áp bức
tử thần.
Ngày nay,
không có hành động nào chống lại Thiên Chúa bằng việc phá thai.
Đứng đầu trong việc phò Sự Sống phải là các Kitô hữu biết lắng
nghe và chiêm ngắm những kỳ công lớn lao của Thiên Chúa trong
công cuộc tạo dựng và cứu độ. MẦU NHIỆM
SỰ SỐNG là một trong những phương tiện giúp họ thực
thi những gì họ đang mơ ước.
Lạy Mẹ
Maria, xin cho chúng con siêng năng lần hạt Mai Khôi, nhất là
MẦU NHIỆM SỰ SỐNG, để thực hiện
những gì Mẹ đã dạy chúng con. Nhờ đó, chúng con có thể cùng Mẹ
đem ơn cứu độ và hòa bình cho toàn thế giới.
Lm.
Giuse ĐỖ VÂN LỰC, O.P.
Lm. Maria Bảo Tịnh TRẦN VĂN BẢO, Ocist |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
ĐỪNG SỢ. |
|
Thầy nói cho anh em là bạn hữu của Thầy
được biết: Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác, mà sau đó
không làm gì hơn được nữa (Lc 12:4).
1.
Đừng Sợ
Trong Kinh Thánh, từ cuốn sách đầu tiên là
Sáng Thế Ký cho đến cuốn cuối cùng là Sách Khải Huyền, đã có
trên một trăm lần nhắc đến câu: Đừng sợ. Trải dọc Công
Cuộc Cứu Độ qua lịch sử của dân Do-thái, Thiên Chúa sai các Tổ
Phụ và Tiên Tri đến kêu gọi, khuyến khích và hướng dẫn dân đi
trong đường lối Chúa. Chúa muốn dân riêng của Chúa đừng sợ
hãi chi cả, nhưng hãy bước đi trong sự quan phòng của Chúa.
Từ khởi đầu Chúa phán với tổ phụ Abram: Có lời Thiên Chúa
phán với ông Abram trong một thị kiến rằng: "Hỡi Apram, đừng sợ,
Ta là khiên che thuẫn đỡ cho ngươi; phần thưởng của ngươi sẽ rất
lớn." (Stk. 15:1).
Ngay trong những trang đầu tiên của Tân Ước,
chúng ta học biết khi Đức Maria nghe lời sứ thần truyền tin,
Maria cảm thấy run sợ. Maria lo sợ vì sứ mệnh qúa cao vời: Sứ
thần liền nói: "Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên
Chúa (Lc. 1:30). Rồi thiên thần lại báo mộng cho Giuse trong
giấc ngủ: Đừng sợ đón Maria vợ ông về (Mt. 1:20).
Trong khi thánh Phaolô rao giảng tin mừng gặp khó khăn, Chúa
cũng đã thôi thúc ông: Một đêm, Chúa bảo ông Phaolô trong một
thị kiến: "Đừng sợ! Cứ nói đi, đừng làm thinh (Tđcv. 18:9).
Đặt niềm tin tưởng nơi Chúa, Đức
Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị khi bắt đầu sứ mệnh chủ chiên
toàn Giáo Hội, ngài đã kêu gọi đoàn dân Chúa: Anh chị em đừng
sợ. Hãy tin và phó thác vào Chúa Kitô. Cả cuộc đời của Ngài
là cuộc ra đi. Ngài ra đi gặp gỡ giới trẻ, gặp gỡ đại diện các
tôn giáo, các nhà lãnh đạo các nước trên thế giới và gặp gỡ mọi
người, mọi giới. Ngài đã không sợ phải đối diện với sự khó khăn
và khác lạ. Vượt qua sự sợ hãi bình thường của con người, Đức
Giáo Hoàng đã dấn thân vào một thế giới đang khao khát chân lý
và đói khát tình yêu. Ngài đã tìm gặp được nhiều tâm hồn quảng
đại và nhiệt thành.
2.
Nỗi Lo Âu
Đối với giới trẻ, chúng ta thường nghĩ rằng
tuổi trẻ thì vô âu, vô lo. Thực ra, tuổi trẻ có nhiều niềm vui
trong cuộc sống nhưng cũng có nhiều thứ lo sợ lắm. Những em mới
cắp sách đến trường cũng bắt đầu lo. Hằng ngày các em lo dậy sớm
đi học, lo sách vở, lo học bài, làm bài và trả bài. Lo sợ thầy
cô khảo hạch. Các em học sinh lo học hành thi cử, lấy bằng cấp,
chọn nghề nghiệp và giao lưu bạn bè. Ra đời, các bạn trẻ lo bon
chen với đời. Các bạn thường bị cám dỗ đứng núi này
trông núi nọ. Các bạn biết rằng sống là một cuộc chạy đua và
tranh đấu không ngừng. Thế là họ cứ phải lo lắng quay cuồng phấn
đấu liên tục cho cuộc sống tương lai.
Đôi khi chúng ta lo lắng khi nghĩ về tương
lai không biết sẽ ra sao. Thật vậy, chúng ta không thể không
nghĩ đến tương lai, cho dù tương lai còn xa vời. Nhiều người nói
rằng không lo lắng sao được khi mà cơ may chỉ đến một lần, không
chộp bắt thì sẽ bị lỡ cơ hội. Biết rằng lo cũng thế thôi, chúng
ta đâu làm cho các dự tính xảy ra ngay được. Nhưng đặt chương
trình trước cho mọi sinh hoạt là điều phải lẽ. Người khôn là
biết lo liệu tính toán và dự trù trước mọi công việc. Không phải
để nước tới chân mới nhảy. Những người càng dự tính
nhiều thứ cho tương lai, là người càng phải lo lắng nhiều. Hình
như cái lo nó gắn liền với thân phận của con người. Nhưng rồi
Chúa Giêsu lại dạy chúng ta rằng:
Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày
mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy (Mt.
6:34).
3.
Nên Sợ
Chúa khuyên dạy chúng ta hãy biết chọn lựa:
Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay
mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh
em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó (Mt
6:31-32). Trong
cuộc sống bon chen và chạy đua với của cải và danh vọng của thế
trần thì lòng tham của con người không đáy. Có người chưa
mua xong ngôi nhà này, đã chuẩn bị dòm ngó căn nhà khác. Cuộc
sống cứ luẩn quẩn và nợ nần cứ chồng chất. Cái lo này chưa qua
đã dồn theo cái lo khác. Không lo sợ sao được khi công ăn việc
làm thì bấp bênh. Người ta sợ bị sa thải, bị thất nghiệp, sợ bị
nhà băng kéo nhà, kéo cửa và hụt nguồn chi thu của gia đình.
Đúng thế, khi có nhiều tài sản, thì người ta phải lo giữ nhiều.
Ôm đồm nhiều, nên sợ mất cũng nhiều.
Đối với một số người trẻ, cuộc sống ngày
càng trở nên phức tạp. Còn có một mối lo, mà một số bạn trẻ ngày
nay đang phải đối diện. Họ lo hưởng thụ bằng mọi cách nhưng lại
sợ hậu qủa. Có nhiều người trẻ không muốn dấn thân vào một quyết
định sống đời hôn nhân. Nam nữ muốn sống chung với nhau, nhưng
lại không muốn kết hôn. Họ thích sống thử và sống tạm thời với
nhau. Họ lo sợ không thể ở đời với nhau. Cuộc sống phức tạp vì
sự liên đới chằng chịt. Có những người còn trẻ đã có nhiều quan
hệ sống với nhiều người khác phái. Họ đã có nhiều con cái, con
em, con anh, rồi con chúng mình. Cuộc sống lứa đôi thay đổi như
thay áo. Họ lo sợ trách nhiệm phải nuôi nấng và giáo dục con
cái. Họ sợ bị ràng buộc và mất đi tự do trong cuộc sống. Họ lo
sợ về trách nhiệm và có thể là trốn tránh trách nhiệm. Vì thế,
họ phải lo sợ là đúng.
Cuộc sống còn cộng thêm những cái lo khác
tự mình gây nên như là những tệ nạn trong xã hội. Vì muốn có lợi
nhuận mau chóng, nên nhiều người lo ăn gian, nói dối và lừa đảo
chính phủ hay người khác. Có biết bao nhiêu sự gian dối đang
diễn ra trước mắt chúng ta. Nhiều người làm giấy tờ ma, bằng cấp
giả mạo, kết hôn giả, chứng nhận ngân hàng giả, tài sản giả và
cuộc sống giả tạo. Lo vì sợ bị người ta phát hiện. Muôn vàn cái
lo, cái sợ bủa vây mà không có lối thoát. Cái lo cứ dồn dập
trong đời sống. Cái lo dẫn liền đến cái sợ, người ta gọi là lo
sợ. Những lọai lo này rất tiêu cực, đó là những điều nên sợ.
4.
Lo Dẫn Đến Sợ
Về bản thân mình, thì người ta lại lo sợ
bệnh họan, tật nguyền và sợ chết chóc. Sợ nhất là bị bất toại,
bị mắc những chứng bệnh nan y và các thứ bệnh truyền nhiễm. Điều
mà những người còn đang khỏe mạnh sợ hãi nhất đó là sự chết.
Không ai tránh khỏi sự chết. Đã sinh ra làm người, ai cũng đi về
cùng đích là sự chết. Có người chết khi còn trẻ, có người được
hưởng thọ tới tuổi già. Không phải chỉ những người trẻ mới sợ
chết, cả những người già trên giường bệnh vẫn còn sợ. Sợ vì phải
bỏ lại tất cả và bước tới một cuộc sống khác mà mình chưa hề
biết. Nhưng người biết tin tưởng vào thiên Chúa, họ không cần
phải sợ chi ai: Có Chúa ở cùng
tôi, tôi chẳng sợ gì, hỏi người đời làm chi tôi được? (Tv.
118:6).
Kinh nghiệm của một số người, sau khi đi
bác sĩ khám bệnh, đã phát hiện mình bị vết chấm nhỏ trong gan và
vết đen trong phổi, áp huyết máu cao, đường trong máu quá độ
hoặc mỡ dư nhiều trong máu. Thế là trở về nhà lo lắng rồi mất
ăn, mất ngủ làm cho tinh thần và thân xác suy nhược. Mỗi lần có
cuộc hẹn bác sĩ, người ta cảm thấy bồn chồn sợ hãi. Căn bệnh lây
lan càng ngày càng tệ hơn. Cuộc sống bất an và họ bắt đầu lo sợ.
Cái sợ này kéo theo cái sợ khác. Sợ hãi về sự chia ly và sự chết
sắp gần. Cứ thế, có người nói rằng họ đang lãnh bản án chung
thân của bệnh tật. Làm sao có thể thoát ra khỏi những ràng buộc
này. Chúng ta không thể làm thay đổi các triệu chứng bệnh họan
này. Hãy biết chấp nhận và cố gắng chữa trị cách tốt nhất. Phần
còn lại, chúng ta chỉ còn biết phó thác và cậy trông mọi sự
trong sự quan phòng của Chúa: Thì
đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người
cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn
vàn chim sẻ (Mt 10:30-31).
5.
An Vui Tự tại
Tương lai là thời gian chưa tới, không ai
có kinh nghiệm dù một giây phút của ngày mai. Con người có thể
đặt chương trình ngắn hạn hay dài hạn và có những viễn tượng tốt
đẹp trong tương lai. Trong cuộc sống, các chương trình và dự
tính thì luôn luôn phải có để chuẩn bị. Dù không ai biết mình có
thể sống tới ngày mai nhưng chúng ta không thể ngừng. Sống là
hướng tới, là chuẩn bị và hy vọng vào tương lai. Không có niềm
hy vọng, chúng ta mất đi sinh khí của sự sống. Niềm hy vọng phải
đặt nền tảng trong hiện tại. Nên cái gì có thể làm được trong
ngày hôm nay và đừng để đến ngày mai. Mỗi ngày có những vui
buồn, những thử thách mà chúng ta cần phải vượt qua. Trong hành
trình đi về Đất Hứa: Ông Môsê bảo
dân: "Đừng sợ hãi, vì Thiên Chúa đến là để thử thách anh em và
làm cho anh em luôn luôn kính sợ Người, ngõ hầu anh em đừng phạm
tội." (Xh.20:20).
Mỗi ngày tôi thường gặp một ông cựu chiến
binh người Mỹ, đã chiến đấu tại Việt Nam, tên là Angel. Cuộc đời
của ông rất kỳ lạ. Cứ sáng sớm, ông dắt con chó cưng ra công
viên, bên cạnh trạm xe bus, cột giây giữ chó vào một trụ nào đó
rồi ông đi lang thang. Miệng lúc nào cũng ca hát và nhảy múa
theo điệu nhạc có máy hát gắn bên tai. Gặp ai ông cũng niềm nở
và đôi khi xin tiền cắc để mua cà phê. Ông rất thân tình và lịch
sự. Mỗi lần gặp tôi, ông đều chào bắt tay tôi một cách chân tình
và vui vẻ. Trời dù nóng, dù lạnh cũng thế, không ngày nào vắng
mặt ông. Nhất là những ngày tuyết rơi, lạnh buốt, ông luôn có
mặt ở đó. Tôi không biết ông có lo lắng gì không. Tôi cũng không
biết ông có còn lo sợ gì cho cuộc sống. Mười lăm năm qua tôi đã
thấy ông như vậy. Thật lạ lùng! Suốt ngày ngược xuôi ngoài đường
và tối đến, ông lại trở về căn phòng riêng ngủ nghỉ. Không biết
ông có suy nghĩ, dự tính gì cho tương lai không. Tôi nghĩ ông là
người thật hạnh phúc.
6.
Sự Phó Thác
Trong tinh thần người Kitô Hữu, chúng ta
không dừng lại ở những thỏa mãn về phần xác hoặc những đòi hỏi
vật chất. Có một cái gì đó linh thiêng và cao quý hơn bội phần
mà chúng ta phải để ý trông nom. Đó là sự sống hạnh phúc ngày
sau. Biết rằng ai trong chúng ta cũng sợ đau đớn, khổ sở, đói
khát và bách hại. Nỗi sợ bị người đời chê trách, bị tẩy chay, bị
ngược đãi và nguyền rủa là những nỗi sợ gắn liền với thân phận
người. Ai đã từng kinh nghiệm qua tù đầy, giam hãm mới thấy rằng
còn có một cái gì đó quý giá hơn mà không ai có thể cướp mất.
Đây chính là niềm tin và sự sống của chúng ta. Đừng sợ làm chứng
cho sự thật. Đừng sợ làm nhân chứng cho Chúa Kitô sống lại. Chỉ
khi chúng ta tìm nương náu bên Chúa, chúng ta sẽ can đảm:
"Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác
mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể
tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục (Mt. 10:28).
Đôi khi chúng ta không biết thì không sợ.
Tôi có kinh nghiệm khi đi vượt biên và vượt biển. Lúc khởi hành
từ bến sông, tôi đâu có sợ hãi gì. Tôi đâu có biết là biển rộng
lớn bao la, sóng bạc đầu và cuồng phong dữ dằn như thế. Ra giữa
biển khơi, tôi sợ hãi lắm. Chiếc tầu nhỏ như lá tre dập dềnh
giữa cơn bão giận dữ của biển cả. Sự sống, sự chết cận kề. Nỗi
lo òa lấp khắp châu thân. Lúc này mới thấy con người bất lực
trước sức mạnh của thiên nhiên. Lo sợ thật! Tôi chỉ biết hoàn
toàn phó thác nơi Đấng có quyền phép trên sóng biển. Nhớ lời
tiên tri Isaia đã truyền dạy từ xa xưa:
Đừng run, đừng sợ. Ta đã chẳng cho ngươi
nghe từ thuở nào, đã chẳng báo cho ngươi biết đó sao? Chính các
ngươi là nhân chứng của Ta. Hỏi có thần nào khác, hỏi có núi đá
nào khác, ngoại trừ Ta? Ta biết chắc là không (Is. 44:8).
7.
Niềm Vui An lạc
Có một lối thoát tâm lý là chúng ta đừng
nghĩ nhiều về tương lai xa vời, nhưng hãy sống với hiện tại và
với những cái đang ràng buộc chúng ta. Chấp nhận nó và sống
trong niềm hy vọng. Đuổi xa những ác mộng sợ hãi trong tương
lai. Chúng ta chấp nhận tình trạng xấu nhất có thể xảy đến.
Chúng ta sẽ an vui với giây phút và tình trạng chúng ta đang
hưởng. Đừng sợ đau khổ, bệnh tật có thể hủy hoại thân xác nhưng
không làm gì được tâm hồn. Sách Khải Huyền viết:
Đừng sợ các nỗi đau khổ ngươi sắp phải
chịu: này ma quỷ sắp tống một số người trong các ngươi vào ngục
để thử thách các ngươi; các ngươi sẽ phải lâm cảnh gian truân
trong vòng mười ngày. Hãy trung thành cho đến chết, và Ta sẽ ban
cho ngươi triều thiên sự sống (Kh. 2:10).
Hãy quảng gánh lo đi và vui sống.
Chúng ta nên bỏ bớt những gánh nặng của quá khứ và tương lai.
Quá khứ đã qua, chúng ta chẳng còn níu kéo được nữa. Cái đã qua
chỉ là những kỷ niệm đẹp để tưởng nhớ. Tương lai là những mong
ước và hy vọng ngày mai sẽ tươi sáng hơn. Không có gi phải lo sợ
cho ngày mai. Ngày mai là một ngày mới tràn trề hy vọng. Nhưng
quan trọng nhất là chúng ta hãy sống giây phút hiện tại. Hãy vui
với những cái chúng ta hiện đang có. Đừng buông tay cái hiện có
mà chộp bắt những ảo tưởng không thực. Hiện tại có dư đủ những
ân huệ để chúng ta sống trong yêu thương và chia sẻ.
Chúng ta đừng sợ phải đối diện với ngày mới.
Ngày mới là cơ hội giúp chúng ta tiến gần đến con đường trọn
lành hơn. Mỗi phút giây qua đi là mỗi khoảnh khắc chúng ta đựơc
hiện hữu với mọi loài thọ tạo. Được hiện hữu trong cuộc sống là
một hồng ân tuyệt vời. Mỗi người cũng chỉ được đồng hành theo
vòng quay vũ trụ một khoảng thời gian và biến mất. Chúng ta hãy
sống trọn vẹn những giây phút Chúa ban ở đời để an hưởng phúc
lộc. Chúng ta đừng sợ thời gian ngắn qúa hoặc dài qúa. Cuộc sống
dài ngắn không quan trọng. Quan trọng nhất là chúng ta hãy sống
vui với giây phút hiện tại.
Nói tóm lại,
Thiên Chúa là chủ của thời gian. Đối với Ngài, thời gian chỉ là
hiện tại. Ngài thấu tỏ quá khứ, hiện tại và tương lai của đời
sống con người. Chúng ta hãy phó thác sự sống của chúng ta nơi
sự quan phòng của Chúa. Chúa dạy rằng: Phần các con, tóc trên
đầu các con đã được đếm cả rồi. Vậy các con đừng sợ, các con
đáng giá hơn chim sẻ bội phần (Mt. 10:32). Hãy tiến bước đi
tới tương lai trong niềm tin và hy vọng. Chúng ta sẽ không phải
lo lắng cho ngày mai, vì ngày mai sẽ có niềm vui của ngày mai.
Mỗi sáng khi thức dậy, chúng ta hãy mỉm cười đón nhận một ngày
mới trong ân tình của Chúa.
Giuse Trần Việt Hùng
Bronx, New York |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
KHOẢNH KHẮC QUÍ GIÁ
|
|
Suy niệm Lời Chúa CN 18. TN C
Khoảnh
khắc quí giá là khoảnh khắc ngộ ra cuộc đời là một khoảnh khắc.
Khoảnh khắc phù vân đang là một khoảnh khắc quí giá để chúng ta
sở hữu Nước Thiên Chúa.
Sách Giảng Viên 1, 2 và 2, 21-23, ông
Côhêlét đã nhắc nhở cho chúng ta về khoảnh khắc cuộc đời:
“Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả
là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân”.
Và đưa ra cho chúng ta một lời khuyên
rất giá trị về việc không nên tham lam, không nên quá bám víu
vào những của cải phù vân để rồi chuốc lấy tai họa là triền miên
đau khổ: “Đối với con
người ấy, trọn cuộc đời chỉ là đau khổ, bao công khó chỉ đem lại
ưu phiền ! Ngay cả ban đêm, nó cũng không được yên lòng yên trí.
Điều ấy cũng chỉ là “phù vân”.
Như thế thì bi quan quá chăng ?
“Tất cả là phù vân”
thì cuộc đời ngắn ngủi nầy quả thật
đang mang một nỗi sầu thảm ảm đạm khó lòng mà con người vượt
khỏi ?
Thiết nghĩ, ông Côhêlét không cố tình
làm cho chúng ta hoảng sợ, nhưng ông muốn nói đến một khoảnh
khắc quí giá.
Khoảnh khắc quí giá là
khoảnh khắc ngộ ra cuộc đời là một khoảnh khắc.
Vì khi đã ngộ ra cái khoảnh khắc phù
vân ấy, người ta có thể làm cho cái khoảnh khắc vô giá trị thành
có giá trị lớn lao bằng cách dùng chính cái khoảnh khắc phù vân
mà chuẩn bị cho một cuộc sống lâu dài viên mãn.
Thời gian thì vô hạn, nhưng đời người
là một khoảnh khắc. Tất cả những gì là vật chất thuộc về cuộc
sống con người vật chất cũng đều chấp nhận số phận khoảnh khắc
của của đời người, một khoảnh khắc. Nhưng nếu nói tất cả chỉ là
khoảnh khắc và không có gì tồn tại thì quả là đời người thật vô
nghĩa. Và có lẽ nào Chúa Giêsu, con Đức Chúa Trời cũng làm một
kiếp người vô nghĩa như vậy sao ?
Không thể như thế được, vì chính Chúa
Giêsu đã lăn mình vào một kiếp người mỏng manh, bé bỏng, khoảnh
khắc và hay chết để giới thiệu cho con người đường đến một kiếp
người ý nghĩa, vững bền, và sống viên mãn. Cuộc sống ấy dành cho
những ai không nặng lòng tham lam bám víu vào những thực tại phù
vân, khoảnh khắc, nhưng dùng chính những thực tại phù vân,
khoảnh khắc ấy để chuẩn bị cho mình một thực tại vững chắc, muôn
thuở.
Mở lòng cho chúng ta khỏi những điều
hoảng sợ, thư gửi Côlôxê 3, 1 – 5; 9 – 11, Thánh Phaolô hướng
dẫn giáo đoàn:
“Anh em hãy tìm những gì thuộc
thượng giới, nơi có Chúa ngự trị… Anh em hãy hướng lòng trí về
những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm đến những điều ở
dưới đất.” ( Cl 3, 1 ).
“Anh em hãy giết chết những gì
thuộc về hạ giới, như: dâm bôn, ô uế, dục tình, đam mê xấu xa,
và tính tham lam hà tiện, tức cũng thờ quấy, những ngẫu tượng.”
( Cl 3, 5 ).
Lời Chúa hôm nay còn tích cực cho
chúng ta niềm vui hơn nữa trong bài Tin Mừng khi Chúa Giêsu dạy:
"Anh em phải coi chừng, phải giữ mình
khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con
người được bảo đảm nhờ của cải đâu."
Và qua dụ ngôn người phú hộ xây thêm
kho lẫm để tích trử của cải ở đời, Chúa nói:
"Đồ ngốc ! Nội đêm nay, người ta sẽ
đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai
? Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu
trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó”.
Có vẻ như Chúa Giêsu không nói câu
nào phủ nhận giá trị của của cải vật chất, Ngài càng không bảo
chúng ta ngưng ngay công ăn việc làm, càng không bảo chúng ta cứ
thong thả ngồi chơi xơi nước, vô công rỗi nghề, ngồi khoanh tay
chờ sung rụng, nhưng Ngài bảo chúng ta đừng quá bám víu lệ thuộc
vào của cải trần thế, vì “không phải vì dư giả mà mạng sống con
người được bảo đảm nhờ của cải đâu”. Ngài dạy chúng ta phải “làm
giàu trước mặt Thiên Chúa”.
Làm giàu trước mặt Thiên
Chúa, đấng công minh chính trực, phải là “làm giàu cách công
minh chính trực”.
Có bao giờ bạn quí mến và quan tâm
đến những người buôn thúng bán bưng, những mẹ con đẩy xe hủ tíu
gõ đêm đêm trên phố, những cụ già lọm khọm bán vé số, những bạn
xa quê nhễ nhại mồ hôi bên nồi bắp luộc bốc hơi, những người
quét đường âm thầm trong đêm vắng lặng, những anh xe ôm ngồi vắt
chân chữ ngũ ngáp dài chờ khách, những bà mẹ quê bên đàn gà, bên
luống rau góp từng đồng tiền lẻ nuôi con ăn học, hoặc những
người tật nguyền đang miệt mài từng bức tranh cát muôn màu… để
kiếm sống qua ngày, qua bữa.
Họ làm ăn nhỏ, vốn liếng nhỏ, lãi
nhỏ, và thực sự nghèo khó, nhưng chưa hẳn đã nghèo khổ. Họ ngủ
giấc bình an. Tâm hồn thư thái thanh thản vì họ đang sống công
chính: sống bằng chính sức lao động của mình. Một khoảnh khắc
quí giá để nhận ra sự nhỏ bé, chóng qua của cuộc đời.
Cũng không thể quên những người đang
thực sự dư ăn dư để nhờ những cố gắng nhỏ và biết chắt chiu tích
lũy “làm khi lành, để dành khi bịnh”. Họ vừa siêng năng vừa biết
sống cuộc sống vừa phải mà giàu lên. Chính họ là những người cảm
thông với nỗi đau của những người nghèo khó vì họ đã từng kinh
qua đoạn đời khó nghèo. Họ giàu lên nhờ làm ăn một cách công
chính và vì thế, họ cũng vui vẻ sẻ chia với những người nghèo
chung quanh. Mọi khoảnh khắc quí giá đều được tận dụng để có một
cuộc sống thơm hương công chính.
Có câu chuyện vui “nhỏ to” của dân cư
trên mạng rằng:
Việt Nam là một đất nước
nhỏ, nhưng có thủ đô to.
Trong thủ đô to có những con đường nhỏ.
Trên những con đường nhỏ có những biệt thự to.
Trong những biệt thự to có những cô vợ nhỏ.
Những cô vợ nhỏ của những quan to.
Những quan to có những cặp nhỏ.
Trong những cặp nhỏ có những dự án to.
Dự án to thường có hiệu quả nhỏ.
Hiệu quả nhỏ mà thất thoát to.
Thất
thoát to mà án tù lại nhỏ...”
Câu chuyện khôi hài nhưng nói lên
phần nào một thực trạng làm giàu bất chính. Và ước gì đó không
phải là cách làm giàu của các tín hữu Việt Nam. Càng không phải
là cách làm giàu của những người quyền cao chức trọng, quí tôn
hùng tước. Hội Thánh Chúa Giêsu không thể tiêm nhiễm cách gian
dối bất chính của ma quỷ ở đời, mặc dầu Hội Thánh đang lữ hành
giữa đường đời.
“Làm giàu trước mặt Thiên
Chúa”, Đấng Công Minh Chính Trực, là phải làm giàu đức công minh
chính trực trong tâm hồn.
Giữa một xã hội đầy dẫy những xảo trá
điêu ngoa, những gian dối lừa bịp cách công khai lộ liễu, xem
thường luật pháp hoặc được chính luật pháp xã hội bảo kê, con
người có quá nhiều cơ hội lao mình vào những điều bất chính vì
tâm hồn không khao khát sự công chính, không quí chuộng sự công
chính.
Đời sống luân lý suy đồi từ tấm gương
của những người mang tiếng là lãnh tụ, lãnh đạo, xuống đến bậc
quyền bính áo mão vị vọng, thì làm sao ngăn được cho khỏi tràn
xuống đến tận dân đen. Có thể chúng ta đang giàu lên về của cải
vật chất, về thế lực, về danh vọng, nhưng thực sự chúng ta đang
ngày càng nghèo xơ nghèo xác về sự công chính. Người ta đang bắt
chước nhau làm giàu kiểu này trong một đất nước được xếp hạng
trong nhóm nghèo nhất thế giới.
Thật đáng mừng vì còn có nhiều người
làm giàu đức công chính nơi các Giáo Xứ giữa những thành phố hoa
lệ: các em học Giáo Lý và sống Giáo Lý ngay trong gia đình,
trong trường học và giữa những trẻ em bụi đời, các bạn trẻ còn
có những
“điểm hẹn Giêsu”,
những “nồi cháo tình
thương”, những
“sẻ chia yêu thương”,
những
“đoan hứa khiết tịnh”
để nâng đỡ nhau quyết nói không với
những điều bất chính, với những cám dỗ của cuộc đời.
Tuy nhiên, Lời Chúa hôm nay vẫn là
một lời cảnh tỉnh khẩn cấp vì đang “có nhiều” – chứ không phải
là “tất cả” – Dân Chúa Việt Nam đang làm giàu đức công chính
trong bối cảnh Việt Nam nhiễm khuẩn bất chính từ thượng tới hạ.
Vì thế, thiết nghĩ, mỗi người cần mạnh dạn chiếu sáng sự công
chính của Thiên Chúa ra trước mặt thiên hạ, để không ai trong
chúng ta bị Thiên Chúa trách mắng: “Đồ ngốc”, vì không biết làm
giàu trước mặt Thiên Chúa.
Đức công chính của Thiên Chúa còn bao
gồm cả việc sòng phẳng:
“của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa,
của Xêda trả cho Xêda”.
Trong khi đó, người tham lam không
chừa một khoảnh khắc, có khoảnh khắc nào ôm đồm được cả Thiên
Chúa lẫn cả thế gian thì vẫn cứ thản nhiên hai tay bắt cá mà
không hề cảm thấy xấu hổ trước Thiên Chúa vì sự lừa bịp lộ liễu
của mình.
Đức công chính của Thiên Chúa còn là
Đức Bác Ái, yêu thương tha nhân như Thiên Chúa đã yêu. Vì thế
việc làm giàu trước mặt Thiên Chúa đồng nghĩa với việc sẻ chia
cơm áo cho những người đang túng thiếu, nghèo đói.
Khoảnh khắc quí giá là khoảnh khắc
không giữ lại cho mình những gì là phù vân, những gì không muôn
thưở, mà giữ cho mình thanh thản một tình yêu thương mang dáng
hình của Thiên Chúa tình thương để được cùng Ngài sống vui muôn
thưở trong tình thương, trong Nước của Thiên Chúa “không phải là
chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan
lạc trong Thánh Thần”. ( Rm 14, 17 )
Khoảnh khắc phù vân đang là
một khoảnh khắc quí giá để chúng ta sở hữu Nước Thiên Chúa.
Lạy Chúa, xin cho con được nghe
Chúa mắng con là... “đồ ngốc” khi con còn kịp có một khoảnh khắc
mong manh để tỉnh ngộ mà trỗi dậy. Con không muốn Chúa nguyền
rủa con là “đồ ngốc” khi không còn khoảnh khắc quí giá nào nữa
để cứu lấy đời mình .
Để kết, xin chia sẻ bài thơ:
HÃY CHO TÔI LÒNG THAM
Tôi thiếu mọi thứ trên đời
Thiếu danh dự, thiếu niềm vui, thiếu tiền, thiếu bạc
Thiếu cả một mảnh tình bươm rách
Thiếu tình thương, thiếu phương tiện, thiếu tiện nghi,
áo chức, mũ quan,
Tôi thiếu
cả công ăn việc làm…
Nhưng xin hãy cho tôi lòng
tham lam,
Lòng tham lam siêu phàm,
Tham lam những gì tay tôi không sờ mó được,
Mắt tôi không thấy được, và tai cũng chẳng nghe gì,
Toàn ngũ quan tôi không cảm giác được chi,
Nhưng linh
hồn tôi rung lên vì sung sướng.
Hỡi các Thánh có lòng tham lam
cao thượng
Hãy chỉ cho tôi kho báu ngàn đời.
Hãy xin cho tôi lòng tham lam yêu người,
Yêu cho thỏa lòng tôi,
Yêu tất cả và cho đi tất cả,
Cả người không yêu tôi,
Người hoan hô, người đả đảo,
Người bôi nhọ, người tôn vinh,
Người xấu, người xinh, người giàu sang, người tất tả,
Người đọc kinh to, người cầu nguyện nhỏ,
Người làm thuê, người ở đợ, người ở chợ, ở quê,
Người hút hít ma túy, người chích choác xì ke,
Người ngủ ở bến xe, người an phè nơi khách sạn,
Người bán cái xuân xanh, người lầm lỡ, người tị nạn,
Tất cả mọi
người, người của đảng, người của dân...
Tôi tham lam yêu, yêu bằng cả
tinh thần
Dâng hiến và cho người hạnh
phúc.
Hỡi các Thánh từng tham lam
chịu nhục
Hãy xin cho tôi lòng tham lam yêu người
Dù có vô duyên,
Trên môi tôi vẫn nở những nụ cười,
Và khúc yêu đời tôi vẫn ru vẫn hát.
Tình yêu tôi sẽ là thơ là nhạc,
Cho người
sầu vơi, cho người thù vơi...
Hỡi các Thánh có lòng tham lam
tuyệt vời
Xin chỉ cho tôi đường lên Trời vô tận.
Có phải con đường không thù không hận,
Con đường
bao dung, nhân ái thứ tha ?
Hãy xin cho tôi lòng tham lam
hiền hòa
Chậm giận hờn, mau bỏ qua, quên lầm, quên lỗi,
Không lên án ai là người có tội,
Trừ khi
người ấy chính là tôi...
Hãy xin cho tôi lòng tham lam
của cải trên Trời
Không mối mọt, không phù vân, không giả dối.
Để khi tất cả phải biến thành tro bụi,
Tôi còn lại cho mình một chút tôi,
Không bỏ
công tôi đã tham lam một đời.
Hãy cho tôi sống với những
người hằng sống
Nhờ chẳng tham lam được sống
riêng cho mình.
Tôi thiếu mọi sự làm nên cuộc
phù sinh,
Để nhẹ nhàng bay vào cõi trời
vĩnh cữu…
PM. CAO HUY HOÀNG, Sàigòn
29.7.2010 |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
TU LUYỆN TRONG VIỆC ĂN
|
|
Câu chuyện Chúa Giêsu đến dùng bữa tai nhà
Matta và Maria.
Ăn là một vấn đề thường xuyên của mỗi ngày,
nghèo thì một bữa không ra bữa, giàu thì nhiều bữa dư thừa lại
sinh thêm nhiều lòng dục. Giàu nghèo đều ăn, nhưng ăn để tu
luyện thì chẳng nệ theo bữa giàu nghèo trong bữa ăn. Ăn để sửa
mình, để phục vụ cho chân lý mới đáng là ăn.
Bữa ăn của thiền đường:
Ăn được cử hành trong trang nghiêm, tuy
chẳng có gì nhiều để ăn, nhưng ăn là một trong những phương thức
tu luyện, năm điều niệm trước khi ăn, trong khi ăn và sau khi ăn:
Chúng ta có xứng đáng được hưởng sự cúng
dường này không?
Chúng ta cần suy nghĩ nghiêm túc về đức
hạnh của mình.
Mục tiêu của bữa ăn là tăng cường sức chống
trả cám dỗ về tham sân si.
Cơm là liều thuốc tăng cường sức khỏe thể
lý và tinh thần.
Mục đích tối thượng của con người trong khi
duy trì sự sống là tìm kiếm chân lý.
Tại nhà Matta:
Chúa Giêsu dọn bữa tiệc Lời Hằng Sống,
Maria ngồi đón nhận, Matta lo công việc bếp núc. Trả lời cho
từng câu hỏi của bữa ăn tại thiền đường:
Xứng đáng không?
Trong sứ vụ ra đi truyền giáo, Chúa Giêsu
dạy các môn đệ: “Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo,
đừng đi dép hay cầm gậy. Vì thợ thì đáng được nuôi ăn” (Mt 10,
10).
Là người môn đệ của Chúa, ý thức về bàn ăn
được đãi ngộ bởi lòng yêu mến của dân Chúa, người môn đệ cần tự
hỏi, bữa ăn này mình có xứng đáng không? Đang sống nhờ vào cộng
đoàn mà trở thành người gây tai hại cho cộng đoàn hoặc quên mất
việc phụng sự Lời thì có xứng đáng không?
Tại sao Chúa lại sai đi không bao bị, không
tiền? Con đường tu luyện khiêm cung Chúa muốn cho người môn đệ ý
thức từ sâu thẳm lòng mình, tự thân người được sai đi chẳng là
gì cả, khiêm cung nhận từ dân Chúa từng chén cơm, áo mặc. Như
vậy, mới trả lời cho từng bữa ăn đang dùng: Có xứng đáng không?
Câu trả lời “Có xứng đáng không?” để giúp
mình không bao giờ có suy nghĩ, ăn trên đầu, trên cổ người khác,
“ngồi mát ăn bát vàng”.
Suy nghĩ nghiêm túc về đức
hạnh.
"Vì
vậy Thầy bảo cho anh em biết: đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà
ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng
trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao?” (Mt
6, 25)
Cái ăn không làm người ta cao quý hơn và
rất có thể làm người ta thấp kém hơn. Cẩn thận suy nghĩ về đức
hạnh của mình, ăn để nuôi dưỡng sự tốt lành hay ăn để chất chứa
thêm tội lỗi?
Ăn để lo cho mạng sống mình là nguyên nhân
của mọi giành giật, xấu xa, bỉ ổi...mới cần nhiều thức ngon, vật
lạ thì không đáng được ăn. Ăn để tu luyện nhân đức, hoàn thiện
bản thân và phụng sự tha nhân, không nề hà vào thức ăn, lúc đó
mới đáng được ăn.
Chúa nhẹ nhàng trách với Matta vừa khi làm
bếp vừa đang làu bàu: “Con lo lắng nhiều chuyện quá” (Lc 10,
41). Người đầu bếp đóng một vai trò rất quan trọng trong bữa ăn,
bởi vì họ không chỉ đóng vai trò nấu cơm, nấu chín thực phẩm; họ
đóng vai trò chuẩn bị bữa ăn của tinh thần, truyền được sức sống
thiêng liêng của mình qua thực phẩm đến người dùng bữa. Thông
thường, người đầu bếp là người lớn tuổi, chín chắn trong tu
luyện, được kính trọng trong thiền viện.
Ăn để tăng cường sức chống
trả cám dỗ.
"Sao các ông lại ăn uống với bọn thu thuế
và quân tội lỗi? " Đức Giê-su đáp lại họ rằng: "Người khoẻ mạnh
không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần” (Lc 5, 30 – 31).
Quan niệm về ăn bị sai lệch khi người ta
chú trọng đến cái ăn để thụ hưởng và vì thế dẫn đến: Ăn chặn,
hối lộ, tham nhũng, cướp, gian... Ăn để khoe khoang, bòn rút…
Ăn có mục tiêu để tăng cường sức cám dỗ,
nên trong việc ăn tự nó đã là một tiết độ quan trọng để nuôi
dưỡng nhân đức. Của ăn không làm người ta nên hư hỏng mà chính
con người ăn mới làm thành hư hỏng (Xem Mt 15).
Thực phẩm để tăng cường sức
lực và thần lực.
Nếu của ăn không nhằm phát triển con người
toàn diện thì chỉ nguy hại cho người ăn.
“Các ông hãy ra công làm việc không phải vì
lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại
phúc trường sinh” (Ga 6, 27). Lương thực trường tồn và phúc
trường sinh, khác với của ăn hư nát. Của ăn nào nuôi dưỡng sức
lực và thần lực? Khi thiếu thứ bánh trường tồn, con người chỉ
dùng cái ăn hư nát, gây ra bao điều bất chính, suy thoái bản
thân, nhu nhược ý chí, đánh mất thần linh.
Vì thế, Chúa khen Maria: “Ma-ri-a đã chọn
phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi” (Lc 10, 42). Của ăn thức
uống cần cho sức mạnh để xa rời tham sân si mới là của ăn cần
thiết để con người sống.
Ăn để tìm chân lý.
Ăn để sống. Sống để truy tìm chân lý, sự
thiện, tình yêu. Trong bữa ăn của Chúa với các môn đệ gồm những
nét chính: Phục vụ, tri ân, chia sẻ, yêu thương (Xem Lc 22).
Các bữa ăn sẽ vô ích khi không giúp người
ăn trở thành công cụ truy tìm chân lý, tình yêu, sự thiện. Điều
quan trọng nhất trong của ăn đã bỏ qua, vá víu trong hiện tại,
càng ăn người ta càng thất vọng, bất hạnh.
Hãy nhớ đến bài học trong bàn ăn của Chúa.
Kẻ tự thấy mình không xứng đáng, ít ra cũng có lòng tự trọng
như Giuđa bước ra khỏi phòng ăn. Ăn để sống với chân lý, tình
yêu, sự thiện mà mình chưa đạt tới, để nỗ lực hơn, để thanh
thoát hơn, để quyết tâm xây dựng yêu thương hơn. Nếu không thể
thì đừng ăn.
Chúa Giêsu đến dùng bữa tại nhà Matta và
Maria, gợi lên câu chuyện tu luyện trong việc ăn là cần thiết,
giúp sống người hơn, thánh hơn, khi dùng bữa của trần thế này
tiến về tham dự bàn tiệc muôn đời.
Xin cho của ăn chúng con dùng thường ngày
nên của ăn linh thiêng nuôi dưỡng chúng con trên đường Chân Lý,
Tình yêu và sự thiện.
Lm. Giuse Hoàng Kim Toan |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
NGƯỜI TÍN HỮU CHÚA KI TÔ TRONG
CHÍNH TRỊ
|
|
( Nota
doctrinalis: Ghi chú tín lý về người tín hữu Chúa Ki Tô
trong chính trị )
NGUYỄN HỌC TẬP
Ngày 16 tháng
giêng 2003, trên 5 năm trươc đây, khi chúng tôi viết bài nầy,
Thánh Bộ Đức Tin vừa ban hành một Văn Bản “Ghi Chú Tín Lý
về những vấn đề liên quan
đến việc dấn thân và cách cư xử của người công giáo trong chính
trị ” L'Osservatore Romano, 17.1.2003).
Trước khi đề
cập đến nội dung của Văn Bản trên, có lẽ chúng ta nên xác định
từ ngữ và thời điểm Văn Bản được công bố để đánh giá một cách
chính đáng hơn nội dung quan trọng mà Thánh Bộ Đức Tin muốn
gởi đến mọi người công giáo trên thế giới.
Trước hết Văn
Bản được công bố dưới hình thức “ Ghi Chú Tín Lý ” ( Nota
doctrinalis).
Với hình thức
vừa kể, “ Nota doctrinalis”, Thánh Bộ Tín Lý xác định
tính cách quan trọng của nội dung được chứa trong Văn Bản.
Đây là những
điều Giáo Hội muốn xác nhận có liên quan đến Tín Lý. Giáo Hội có
ý tuyên bố dùng quyền giáo huấn của mình đối với các tín
hữu Chúa Ki Tô, nhút là đối với người tín hữu giáo dân, là những
người có phận vụ không ai có thể thay thế trong môi trường
chính trị-xã hội, chớ không phải là những vấn đề đưa ra
để hỏi ý kiến hay bàn cải (questio disputata).
Dưới dạng
thức “ Ghi Chú Tín Lý ” như vừa nói, Giáo Hội công bố Văn
Bản hàm chứa ý nghĩa có tính cách bắt buộc và các tín hữu
phải lưu tâm, vì là những vấn đề liên quan đến Đức Tin.
Về thời gian
tính, Ghi Chú Tín Lý được công bố ngày 16.01.2003, ngày lễ Chúa
Giêsu là Vua Vũ Trụ (1)
Có lẽ không
mấy người trong chúng ta biết là ngày lễ long trọng mừng Chúa
Giêsu là Vua Vũ Trụ, được Đức Giáo Hoàng Pio XI thiết lập năm
1925 với chủ ý tương đối hóa hai biến cố đánh dấu đặc biệt
tình trạng chính trị lúc đó:
- cuộc
cách mạng Cộng Sản ở Nga 1919 được người Cộng Sản rầm rộ tuyên
bố là “ vĩ đại ”
- và cuộc
chiến thắng khải hoàn tràn vào Roma ( Marcia su Roma) của phe
Phát Xít Ý, do Benito Mussolini lãnh đạo.
Hai ý thức hệ
độc tài và phi dân chủ đó được đặt dưới chân Chúa Giêsu Vua, Vị
lãnh đạo và Vua duy nhất của cả vũ trụ.
Chọn ngày
16.01, lễ Chúa Giêsu Vua, Giáo Hội có ý nhắc lại cho chúng ta
rằng mọi quyền năng đều phát xuất từ Thiên Chúa:
-
“ Omnis potestas a Deo ”.
Về nội dung,
Văn Bản Ghi Chú Tín Lý được gởi đến những người tín hữu Chúa Ki
Tô, người tín hữu giáo dân, đang dấn thân trong chính trị,
không phải như là một bản văn nói lên mối tương quan giữa luân
lý và chính trị, cho bằng có mục đích định hướng các tín hữu
Chúa Ki Tô nói chung, đứng trước một vài vấn đề luân lý trong
cuộc sống dân chủ:
- “ Xã
hội văn minh của chúng ta hiện nay đang ở trong một chu kỳ văn
hóa phức tạp, đánh dấu một thời đại vừa kết thúc và trạng thái
bấp bênh của một thời đại mới vừa ló dạng ở chân trời. Nhiều
cuộc chinh phục quan trọng mà chúng ta đang chứng kiến thúc đẩy
con người bước đi trên con đường tích cực mà nhân loại đã thực
hiện được những bước tiến hóa và đạt được những điều kiện sống
xứng đáng cho con người hơn. Sự tăng trưởng ý thức trách nhiệm
đối với các Quốc Gia chưa được phát triển là một dấu hiệu quan
trọng, điều đó chứng tỏ rằng chúng ta càng ngày càng có ý thức
về công ích. Nhưng cùng chung với những bước tiến vừa kể, chúng
ta không thể im lặng trước những mối nguy mà một vài khuynh
hướng văn hóa đang muốn định hướng các nền lập pháp và từ đó quy
hướng cách cư xử của những thế hệ tương lai ” ( đoạn 2).
Giáo Hội
không chối những tiến bộ mà nhân loại đã đạt được nhờ vào thể
chế dân chủ càng ngày càng được bành trướng và lớn mạnh khắp nơi,
nhưng đồng thời Giáo Hội nhận thấy rằng mình không thể nhắm mắt
trước những khuynh hướng văn hóa đang đe dọa, lợi dụng những
thành quả đã đạt được, để làm băng hoại thể chế nhân bản và dân
chủ trong tương lai.
Từ đó đưa đến
vấn đề quan niệm phải có, quan niệm phù hợp với đức tin của
người tín hữu Chúa Ki Tô, nhứt là người tín hữu giáo dân, trong
chính trị.
Một đàng,
người tín hữu
- không
thể không tham dự chính trị, vì chính trị - xã hội là môi trường
đặc thù, mà ơn gọi dành riêng cho cuộc sống của người tín hữu
giáo dân, kêu gọi phải thực hiện, để tổ chức cuộc sống cho mình
và thực thi đức bác ái đối với anh em mình ( Gaudium et Spes,
n. 75, in EV I / 1578).
Mình không
dấn thân, chung sức với những người thành tâm thiện chí khác để
thực hiện, có được đường lối chính trị Quốc Gia tổ chức cuộc
sống tốt đẹp cho mình và cho đồng bào mình, kẻ khác lãnh đạo,
hành xử, thực hiện sai trái lên đầu lên cổ mình và anh em đồng
bào mình, thì rán chịu.
- đàng
khác họ phải đối phó với những khuynh hướng văn hóa mơ hồ tối
nghĩa, khiến những nhà làm luật có những chọn lựa cần phải đặt
vấn đề hay khiến cho họ có những lựa chọn không thể chấp nhận
được về phương diện luân lý.
Câu hỏi được
đặt ra đối với người tín hữu Chúa Ki Tô trong chính trị là làm
sao có thể trung thành với lương tâm của mình hay với những giá
trị bất khả nhượng?
Do đó Văn Bản
Ghi Chú Tín Lý được tuyên bố để làm sáng tỏ vấn đề.
Nội dung của
Bản Ghi Chú Tín Lý được trình bày dưới bốn đề tài:
- tạo một
tâm hồn luân lý cho chính trị,
- một vài
định hướng trong môi trường dân chủ đa nguyên,
- bản tính
Ki Tô giáo và gia nhập đảng phái chính trị,
- đặc tính
trần thế của chính trị.
1 - Tạo một linh hồn luân lý cho
thể chế dân chủ.
Bổn phận đầu
tiên của người tín hữu Chúa Ki Tô là tạo một linh hồn luân lý
cho thể chế dân chủ, hàn gắn sự rạn nứt nguy hiểm giữa luân lý
và chính trị.
Thời kỳ vàng
son của ý thức hệ không tưởng xã hội chủ nghĩa thực hữu (
socialismus realis) đã chấm dứt năm 1991, ít nhứt là đối với
đại đa số các Quốc Gia trên thế giới, ý thức hệ duy nhứt hiện
tại là thể chế dân chủ đa nguyên.
Nhưng với tư
cách độc tôn hiện tại, thể chế dân chủ đa nguyên đang có khuynh
hướng đồng nhất hóa các nền văn hóa khác, xoá bỏ đi không ít gia
tài phong phú các giá trị về con người.
Nhược điểm
của dân chủ tự do là pha lẩn tự do với tương đối hóa luân lý :
- mọi
khuynh hướng chính trị, văn hóa, luân lý, tôn giáo đều được coi
là có giá trị như nhau, chính đáng (légittime) như
nhau,
- và tự do
là quyền có thể chọn lựa và hành động bất cứ những gì mình thích,
chỉ có một giới hạn duy nhứt là tôn trọng tự do của người khác.
Bản Ghi Chú
Tín Lý đứng tách rời quan niệm dân chủ nhân nhượng và cá nhân
chủ nghĩa vừa kể, quả quyết rằng:
- “Tự
do chính trị không phải, cũng như không thể được đặt trên nền
tảng quan niệm tương đối chủ nghĩa, cho rằng mọi quan niệm về
con người đều có giá trị chân lý như nhau và giá trị như nhau ”
(đoạn 3).
Kinh nghiệm
cho thấy rằng lý thuyết vừa kể thu hẹp đời sống nhân bản và dân
chủ thành thực dụng hoàn toàn.
Các cơ chế
Quốc Gia không còn hành xử một cách trong sáng để phục vụ công
ích và trở thành dụng cụ của quyền lực và phe nhóm, làm mất đi
tinh thần Quốc Gia đối với nguời lãnh đạo cũng như đối với dân
chúng.
Từ những ý
nghĩ vừa kể, chúng ta có thể kế luận rằng vấn đề dân chủ hiện
tại là vấn đề luân lý.
Ngoài ra lý
do phải tạo cho chính trị một linh hồn luân lý là do những đòi
hỏi khẩn thiết trước những kết quả mà khoa học và kỹ thuật đã
và đang đạt được:
- “
Những chinh phục mà khoa học đạt được, cho phép con người tiến
đến được những mục đích làm cho lương tâm phải giao động và đòi
hỏi phải tìm ra những giải đáp để đáp ứng một cách trung thực và
chắc chắn những nguyên tắc luân lý. Nhưng trên thực tế, chúng ta
đang chứng kiến nhiều dự án pháp luật, bất kể đến sự sống còn
và tương lai của nhiều dân tộc trong tiến trình phát triển văn
hóa và nếp sống của mình, đang có ý định phá vở quyền bất khả
xâm phạm của con người ” ( đoạn 4).
Nói một cách
nôm na, bản Ghi Chú Tín Lý lưu ý người tín hữu về thể
chế dân chủ tự do hiện tại, nhứt là tự do quá trớn của một vài
trào lưu văn hóa không còn đếm xỉa đến điạ vị tối thượng của con
người và đang đào thải tận gốc rể đời sống dân chủ, bằng cách
đánh mất đi giá trị của những cứ điểm định chuẩn.
Đức Giáo
Hoàng Gioan Phaolồ II, mười năm trước đây cũng đã đề cập đến
những nguy hiểm vừa kể:
-“Ở
nhiều quốc gia, sau sự sụp đổ của những ý thức hệ trói buộc
chính trị vào quan niệm độc tài về thế giới - chủ thuyết Mát Xít
là một trong những ý thức hệ đó - hiện nay một mối nguy hiểm
khác không kém phần trầm trọng đang đe dọa, do quan niệm chối bỏ
những quyền căn bản của phẩm giá con người . Đó là mối nguy cơ
cấu kết giữa dân chủ và tương đối hóa luân lý. Mối nguy vừa kể
xoá bỏ đi mọi cứ điểm định chuẩn luân lý và, tận cùng hơn nữa,
mọi cứ điểm để có thể định chuẩn đâu là sự thật ” ( Thông Điệp
Veritatis Splendor (1993), n. 101).
Với thái độ
tương đối luân lý như vừa kể, mọi chuyện thoái hóa hủ bại là
điều có thể xãy ra được:
- “ Nếu
không có chân lý cuối cùng, để hướng dẫn và định hướng chính trị,
mọi tư tưởng và mọi xác tín đều có thể trở thành dụng cụ để phục
vụ quyền lục. Một thể chế dân chủ không có giá trị cần phải tôn
trọng, là thể chế có thể biến thành ý thức hệ toàn trị hiển
nhiên dễ dàng hay là một thể chế toàn trị ẩn nấp, như lịch sử
chứng minh” ( ĐTC Gioan Phaolồ II, Centesimus Annus ( 1991), n.
46).
Và Ghi Chú
Tín Lý giải thích thêm:
- “ Một
đàng, người dân có thể tự coi những lựa chọn luân lý của mình là
những lựa chọn hoàn toàn tự lập, đàng khác các nhà lập pháp cho
rằng họ tôn trọng quyền tự do lựa chọn vừa kể, khi họ soạn
thảo ra những đạo luật mà không cần quan tâm gì đến các nguyên
tắc luân lý tự nhiên, để biểu đồng tình với một vài khuynh hướng
văn hóa hay luân lý tạm thời, làm như quan niệm nào liên quan
đến đời sống đều có giá trị như nhau” ( Nota doctrinalis, đoạn
2).
Giáo Hội
không hề nghi ngờ rằng thể chế dân chủ là một thể chế bảo đảm
hữu hiệu hơn cho người dân tham gia vào đời sống chính trị của
xứ sở. Tuy nhiên Giáo Hội không quên nhấn mạnh rằng không thể có
dân chủ, nếu dân chủ không đặt nền tảng trên quan niệm đúng đắn
về con người:
- “
Đối với nguyên tắc nầy - Ghi Chú Tín Lý xác quyết - người tín
hữu Chúa Ki Tô dấn thân trong chính trị không thể có một nhân
nhượng nào, nếu không, họ không đang làm chứng đức tin Ki Tô
giáo nơi trần thế, thiếu sự hợp nhứt giữa các Ki Tô hữu với nhau
và là thái độ bất nhất đối với lương tâm của chính họ(…).Chính
sự tôn trọng đối với nhân vị làm cho người dân có thể tham gia
thiết thực vào thể chế dân chủ ” ( đoạn 3).
Do đó trước
những khuynh hướng tấn công chống lại phẩm giá con người, người
tín hữu
-
“có quyền và nhiệm vụ can thiệp để nhắc
lại ý nghĩa sâu xa của đời sống và trách nhiệm mà mọi người phải
có để bảo vệ” ( đoạn 4).
Điều đó có
nghĩa là tạo một linh hồn
luân lý cho thể chế dân chủ.
2 - Định hướng cho môi trường
dân chủ đa nguyên.
Cũng chính
những lý do đưa đến việc người tín hữu Chúa Ki Tô từ chối thái
độ tương đối luân lý, là những lý do nền tảng cho quan niệm đa
nguyên và đa dạng trong dân chủ.
Ghi Chú Tín
Lý trình bày một sự phân biệt quan trọng:
- “ đa
nguyên không liên hệ gì đến các nguyên tắc luân lý. Những
nguyên tắc luân lý là những nguyên tắc phát xuất từ bản chất và
do vai trò nền tảng cuộc sống xã hội, không thể “ mặc cả được” (
non negotiabilis)” ( đoạn 3).
Đa nguyên có
thể hiểu
- “ là
những chiến thuật chính trị khác nhau, do việc có thể cắt nghĩa
nhiều cách khác nhau một vài nguyên tắc căn bản của lý thuyết
chính trị, những kỹ thuật phức tạp cần thiết đối với phần lớn
các vấn đề chính trị” ( id.).
Hiểu như vậy,
đa dạng của các việc chọn lựa chính trị không những chính đáng,
mà còn cần thiết cho đời sống dân chủ.
Bởi vì đa
nguyên, đa dạng phát xuất từ chính bản thể của chính trị.
Chính trị
được định nghĩa là là “ nghệ thuật của khả dĩ ” (
possibilitatis ars), bởi lẽ chính trị phải chạm trán và giải
quyết những vấn đề phúc tạp, bị ảnh hưởng bởi nhiều điều kiện
thực tế về xã hội, văn hóa, kinh tế và của nhiều lãnh vực khác
nữa.
Ai có thể tự
cho mình là nắm vững hết mọi khía cạnh của tình thế chính trị,
nên để giải quyết không cần giải pháp nào khác hơn là giải pháp
do chính mình đề ra, hay chỉ cần của chính đảng mình đề ra?
Trong chính
trường, để giải quyết một vấn đề có nhiều ý kiến chính tri khác
nhau, nhiều khi đối ngược nhau, ngay cả giữa những người có cùng
những ước vọng về giá trị và lý tưởng như nhau.
Do đó không
ai có thể phủ nhận được
- “ tự
do chính đáng của các tín hữu công giáo là có quyền chọn , giữa
những khuynh hướng chính trị thích hợp với đức tin và lề luật
luân lý, lựa chọn giải pháp nào theo tiêu chuẩn của mình thích
hợp hơn cho các nhu cầu lợi ích chung ” ( đoạn 3).
Nhiệm vụ của
người tín hữu Chúa Ki Tô phải
- hành
động trung thực với đức tin và các nguyên tắc căn bản của luân
lý,
- không
cản trở họ có phán đoán khác nhau về phương thức thích hợp, mục
đích ưu tiên, hiệu năng hay chuẩn định khôn ngoan đối với chương
trình của chính đảng hay chính quyền.
Trên 30 năm
qua, Đức Giáo Hoàng Phaolồ VI cũng đã đề cập:
- “Trong
các trường hợp thực tế và liên hệ đến tình liên đới trong kinh
nghiệm sống của mỗi người, cần phải nhìn nhận tính cách chính
đáng của các việc chọn lựa khác nhau. Một đức tin Ki Tô giáo duy
nhất có thể hướng dẫn những cuộc dấn thân khác nhau” ( ĐTC
Phaolồ VI, Octogesima Adveniens, n.50).
Cũng trong
chiều hướng đó Ghi Chú Tín Lý xác định một cách rõ rệt
hơn:
- “Có
thể có nhiều chính đảng, trong đó các Ki Tô hữu có thể chọn
tranh đấu để thi hành quyền và nhiệm vụ xây dựng đời sống văn
minh cho xứ sở họ” ( đoạn 3).
Việc chọn lựa
đó tùy thuộc vào lương tâm và tính nhạy cảm về các vấn đề xã hội
- văn hoá của mỗi người:
- “
Giáo Hội không có bổn phận đưa ra những
giải pháp thực tế - càng không thể là những giải pháp duy nhứt -
đối với các vấn đề trần thế mà Chúa giao cho trí phán đoán tự
do và có trách nhiệm của mỗi người, mặc dầu Giáo Hội có quyền và
nhiệm vụ đưa ra những phán đoán luân lý đối với những thực tại
trần thế, khi đức tin và lề luật luân lý đòi buộc” ( id.).
3 - Bản tính Ki Tô giáo và gia nhập chính
đảng.
Tuy nhiên đa
nguyên đa dạng không có nghĩa là dững dưng, sao cũng được,
khuynh hướng nào cũng được, "
cộng sản hay không cộng sản cũng vậy ! ",
Bản tính Ki
Tô giáo bó buộc rất rõ rệt. Do đó mặt dầu tính cách chính đáng
của những lựa chọn khác nhau, nhưng cần phải ý thức rằng:
-
không phải bất cứ chương trình , bất cứ chính đảng, bất khuynh
hướng chính trị nào cũng phù hợp với cái nhìn Ki Tô giáo và với
giáo huấn của Giáo Hội " ( id.).
Điều đó đặt
người Ki Tô hữu trước một vấn nạn hệ trong: làm thế nào có thể
vẫn trung thành với bản tính Ki Tô giáo, với lý tưởng của mình,
nếu mình thuộc về một chính đảng hay một khuynh hướng chính trị
trong đó
- mình
không được phép diển tả hoàn hảo các giá trị mà mình tôn trọng,
- trong đó
sự tôn trọng phương thức dân chủ đặt mình trước những lựa chọn
đối ngược lại những giá trị không thể từ chối được của mình,
như :
*
phẩm giá toàn diện con người,
*mạng
sống con người,
* gia
đình, giáo dục,
* tự
do tôn giáo,
* hoà
bình?
Ghi Chú
Tín Lý
đòi buộc người Ki Tô hữu phải can đảm làm
chứng trước công chúng:
- “Người
công giáo, trong trường hợp nầy, có quyền và bổn phận rõ ràng
phải can thiệp để nói lên ý nghĩa sâu xa của đời sống và kêu gọi
mọi người có trách nhiệm đối với đời sống. Người tín hữu Chúa Ki
Tô có chính trách nhiệm bắt buộc phải chống lại mọi luật lệ
đuợc coi là phương hại đến đời sống con người” ( đoạn 4),
Nhưng nhân
chứng thôi, chưa đủ!
Trong khi
công khai xác nhận mình bất đồng ý kiến và tuyên bố hoàn toàn
ủng hộ các giá trị luân lý không thể khước từ được, người Ki Tô
hữu trong chính trị còn phải xử dụng những phương tiện mà thể
thức dân chủ cho phép để đạt được kết quả thực tế tốt đẹp nhứt
có thể trong những hoàn cảnh khác nhau.
Ghi Chú
Tín Lý
lấy lại lời giáo huấn của ĐTC Gioan
Phaolồ II về đạo luật phá thai:
- “một
nghị viên, mà chính kiến cá nhân của mình tuyệt đối chống lại
phá thai rõ ràng được mọi người biết, có thể dành sự ủng hộ của
mình một cách chính đáng cho những đạo luật nhằm hạn chế những
tai hại của những đạo luật đó và giảm thiểu các hậu quả không
tốt đẹp trên bình diện văn hóa và luân lý công cộng ” ( ĐTC
Gioan Phaolồ II, Evangelium Vitae ( 1995), n.73).
Một hình thức
xử dụng các phương tiện dân chủ khác một cách khôn ngoan được
Đức Hồng Y Carlo Maria Martini bàn đến. Dĩ nhiên nguyên tắc luân
lý là những nguyên tắc luân lý tuyệt đối , bất di dịch, và hành
động chính trị phải bắt nguồn từ các nguyên tắc đó, nhưng cũng
dĩ nhiên là
- “hành
động chính trị ” không phải chỉ nhằm thực hiện tức thời các
nguyên tắc luân lý tuyệt đối, mà là thực hiện được công ích cụ
thể có thể trong một hoàn cảnh xác định ” (Card. Carlo
Maria Martini, “ La Politica, via alla santità” ( 1998), in
Martini C.M., Il Padre di tutti. Lettere, discorsi e interventi
1998, Bologna, EDB, 1999, p.290).
Nói cách
khác, hành động chính trị luôn luôn thực hiện công ích một cách
tuần tự, tùy theo những điều kiện thực tế có thể của hoàn cảnh.
Người Ki Tô
hữu có thể phạm một lỗi lầm to lớn, nếu từ bỏ chính trị vì sợ “
oen ố ” bản tính Ki Tô hữu của mình hoặc “ bế quan tỏa
cảng” trong trạng thái đứng “tách biệt ngoạn mục và trong
sáng”, từ chối mọi đối thoại và cả có thể đối chọi đối với
bất cứ ai, " bịt mắt, bịt tai ", " ở xa không biết ", " thấy
vậy, lách sang rồi bỏ đi luôn ":
- “Những
bước tiến tích cực, dẫu cho tuần tự, có giá trị hơn là sự đóng
kín quyết liệt của những phán quyết: ”không”, bởi lẽ thái độ đó
không lợi ích gì về lâu về dài. Không phải mọi bước tiến chậm
chạp đều chắc chắn là một cuộc nhượng bộ, bỏ cuộc. Ngoài ra còn
có cái nguy là, muốn được cái tối hảo, người ta có thể xuôi tay
ngồi chờ làm cho tình trạng càng ngày càng biến thành tệ hại hơn
cho cuộc sống xứng đáng với con người ” (Card. C.M. Martini, C'è
un tempo per tacere e un tempo per parlare ( 1995), Centro
Ambrosiano, Milano 1995, 22s).
" Đối
thoại, ngồi chờ chớ không đối đầu ", " mặc cho ai sống chết mặc
kệ
" trước những bất công phải gánh chịu !
4 - Đặc tính trần thế của chính
trị.
Làm thế nào
để có phương cách hành xử hoà hợp giữa bổn phận phải trung thành
với bản tính Ki Tô giáo và các quy tắc chính trị?
Đó là điều
Ghi Chú Tín Lý tiến thêm một bước nữa để hướng dẫn người
tín hữu trong chính trị.
Muốn có sự
hòa hợp vừa kể, cần phải biết “ trung gian điều giải”
( mediatio) giữa luân lý, tín lý và chính trị, để tránh hình
thức “ chế độ giáo phẩm trị ” ( clericalismus) của những
ai muốn áp dụng trực tiếp các giá trị Ki Tô giáo vào lãnh vực
trần thế.
Đàng khác
cũng để tránh thái độ thụ động “ nằm khoanh vỏ ốc ” (
quicumquismus), hay " lách sang rồi bỏ đi luôn", vô
trách nhiệm của thầy tư tế và thầy Levi trong câu chuyện người
Samaritano nhân lành ( Lc 10, 29-37), của những ai không còn
đếm xĩa gì đến lương tâm, nhân nhượng trước quyền thế để được
hưởng một vài ân huệ tức thời, mặc cho bất công và đau khổ của
anh em.
Ghi Chú
Tín Lý
đứng tách biệt khỏi “ chế độ giáo phẩm
trị ” cũng như “ thái độ nằm khoanh vỏ ốc” bằng cách
tuyên bố lại những ý thức mới về tín lý và mục vụ của Công Đồng
Vatican II, cũng như của các Vị Chủ Chăn , nhứt là về vấn đề xã
hội.
Cũng như
những thực tại trần thế khác, chính trị có đặc tính thế tục
( laicité) của mình: chính trị
- có công
ích là mục đích,
- có những
quy tắc và phương tiện tự lập theo luật tự nhiên của bản thể các
vật thọ tạo trong lãnh vực trần thế,
- mà đức
tin và lãnh vực siêu nhiên không thể can thiệp trực tiếp giúp
đở gì được.
Từ đức tin
chúng ta không thể rút ra trực tiếp một khuôn mẫu tổ chức xã
hội, hợp pháp hay chính đảng.
Đức tin không
thể bãi miễn cho người tín hữu trách nhiệm và mạo hiểm trong
hoạt động chính trị, cũng như bãi miễn cho họ khỏi nhọc tâm tìm
kiếm những cách thức “ trung gian điều giải” ( mediatio)
mà cuộc sống chính trị đòi buộc.
Đó là ý nghĩa
tại sao Hiến Chế Gaudium et Spes khuyên bảo người
tín hữu giáo dân:
- “ Họ
( người tín hữu giáo dân) nên trông đợi ở các linh mục ánh sáng
và sức mạnh thiêng liệng. Nhưng họ đừng nghĩ rằng các chủ chăn
của họ có thẩm quyền để đưa ra giải đáp thiết thực và lập tức
đối với mọi vấn đề, ngay cả đối với vấn đề hệ trọng có thể xãy
ra cũng vậy, hay đó là sứ mạng của các vị. Đúng hơn, được soi
sáng bởi đức khôn ngoan Ki Tô giáo, luôn chú tâm một cách trung
thành đến lời giảng huấn của chủ chăn, chính họ hãy đứng ra
nhận lãnh trách nhiệm của mình” ( Gaudium et Spes, n.43,2).
Theo Ghi
Chú Tín Lý thì đặc tính trần thế của lãnh vực thế tục là
- “đặc
tính tự lập của lãnh vực dân sự và chính trị đối với lãnh vực
tôn giáo và Giáo Hội , giá trị mà lãnh vực dân sự và chính trị
đạt được và được Giáo Hội nhìn nhận và là thành phần mà kho tàng
văn minh của con người có được” ( đoạn 6).
Bản Ghi
Chú Tín Lý cũng ghi lại lời giảng huấn của Đức Giáo Hoàng
Gioan Phaolồ II nhân Ngày Thế Giới Cho Hoà Bình:
- “ Đồng
hóa lề luật tôn giáo với luật lệ dân sự là thực sự bóp nghẹt tự
do tôn giáo và giới hạn hay không công nhận ngay cả các quyền
bất khả nhượng của con người ” ( Giovanni Paolo II, Messaggio
per la celebrazione della Giornata Mondiale della Pace 1991, IV,
AAS 83 ( 1991), 410-421).
Và bản Ghi
Chú Tín Lý kết luận:
-“Sự công
nhận các quyền dân sự và chính trị cũng như cung cấp các phục vụ
công cộng không thể bị ảnh hưởng bởi các xác tín hay các cách
hành xử hiệu năng trong lãnh vực tôn giáo của nguời dân” ( đoạn
6).
Nói như vậy,
bản Ghi Chú Tín Lý lưu ý, tự lập đối với lãnh vực tôn
giáo không có nghĩa là tự lập đối với lãnh vực luân lý.
Các giá trị
luân lý căn bản ( đối với đời sống xã hội, công bằng, tự do, hòa
bình, tôn trọng đời sống và tôn trọng quyền các quyền khác, tôn
trọng đối với nhân vị con người) phù hợp với tín lý Ki Tô giáo
không có nghĩa là những giá trị đó đương nhiên trở thành những
giá trị của “ chế độ giáo phẩm trị” hay giảm bớt đi tính cách
chính đáng (légitimité) dân sự và đặc tính trần thế (
laicité) của việc dấn thân chính trị.
Đàng khác,
với những điều được gởi đến các tín hữu Chúa Ki Tô, Ghi Chú
Tín Lý xác nhận:
- “ Các
Chủ Chăn của Giáo Hội không có ý xử dụng quyền lực chính trị ,
cũng không có ý từ chối tự do của người tín hữu công giáo đối
với các vấn đề trần thế. Trái lại các Ngài muốn, như là chính
bổn phận của các Ngài đòi buộc, dạy dỗ và soi sáng lương tâm các
tín hữu, nhứt là đối với những tín hữu dấn thân vào đời sống
chính trị, để cho hành động của họ luôn luôn nhằm phục vụ thăng
tiến toàn vẹn con người và công ích ” ( đoạn 6).
Do đó đặc
tính trần thế và tự lập của người tín hữu Chúa Ki Tô, nhứt là
người tín hữu giáo dân, dấn thân chính trị vẫn tồn tại nguyên
vẹn.
Với một nhãn
quang xa hơn nữa về tương lai, bản Ghi Chú Tín Lý khuyến khích
người tín hữu trong chính trị có một cái nhìn mở rộng:
-
“Không đầy đủ và hạn hẹp, nếu có ai nghĩ rằng việc dấn thân của
người tín hữu chỉ đơn giản nhằm vào việc thay đổi các cơ chế
hiện tại ” ( đoạn 7).
Người tín
hữu
- không
thể xoa tay thỏa mãn với việc đơn giản đạt là được kết quả nầy
hay mục đích kia,
- mà không
nghĩ gì đến việc phải tham gia
vào việc soạn thảo dự án toàn phần để tổ chức xã hội ( id ).
Người tín hữu
được kêu gọi “ trung gian điều giải ” ( mediatio) các giá
trị luân lý căn bản , là những giá trị thuộc kho tàng Ki Tô
giáo, thành những giá trị cho con người, được mọi người chấp
nhận.
Ngưòi tín hữu
tôn trọng tính cách đa nguyên và đa dạng, đặc tính trần thế và
tính cách hợp pháp dân chủ, không được phép “ dững dưng đứng
ra bên lề ” đối với lãnh vực thiêng liêng và văn hóa.
Làm như vậy
họ đang làm tiêu hao đến sứ mạng nhân chứng Phúc Âm của họ và
biến các nổ lực dấn thân chính trị của họ dần dần trở thành vô
hiệu lực.
Nói cách khác,
người tín hữu được kêu gọi “ hội nhập văn hóa” (
inculturation), “ trung gian điều giải ”các giá trị
của kho tàng Ki Tô giáo vào lãnh vực văn hóa và chính trị.
*****
(1):
- Ngày
16.01.1925 ĐTC PIO XI thiết lập ngày Lễ Chúa Giêsu Vua Vũ
Trụ, đó là ngày lịch sử.
- Hiện
nay Niên Lịch Phụng Vụ xếp đặt Lễ Chúa Giêsu Vua Vũ Trụ vào
cuối Năm Phụng Vụ, với ý nghiã mọi cuộc sống và quyền lực
trong Vũ Trụ đều đựơc đặt dưới chân Nguời.
Tiến sĩ Nguyễn Học Tập |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
NGỤ NGÔN THỜI BẤN
LOẠN Ký 9 + 10 |
|
Ngụ ngôn 30
Bầy khỉ sống lung tung, làm rối loạn cả góc rừng. Chúa sơn lâm
quyết định cử chim công và bướm đêm đi thanh tra xem khỉ tôn
trọng kỷ luật chung đến mức nào. Công được cử đi là vì công có
khiếu thẩm mỹ, nhìn là biết mọi thứ có ở trong trật tự hay không.
Bướm đêm cũng đi thanh tra vì bướm đêm cũng như rái cá, có khứu
giác rất bén nhạy, sẽ biết ngay khỉ sống thế nào nhờ cái khứu
giác kỷ lục của cô nàng.
Sau mấy ngày thanh tra, con công làm tường trình: “Khu vực của
khỉ sạch, đẹp và tổ chức rất có tính thẩm mỹ”. Bướm đêm viết:
“Khu vực khỉ ở có nhiều mùi thơm đặc biệt, nhất là mùi quế dịu
nhẹ rất đáng yêu”.
Khi thanh tra đã đi vài ngày, thiên hạ lại phàn nàn về khu vực
của khỉ. Hóa ra khi công và bướm đêm đến, khỉ đã biết trước nên
gom hết khỉ lớn khỉ nhỏ giấu vô hang bên bờ suối, đốt hết mọi
thứ đổ đạc vương vãi, còn bỏ thêm vỏ quế vào đống lửa cháy ấy.
Chưa hết, khỉ còn thuê hẳn một đám côn trùng đói đến ăn sạch
những gì còn vương vãi. Đất đã sạch, lại còn có mấy phong bì đã
để sẵn đó.
Vài hôm sau, cả bầy khỉ ùa về, lại tha hồ quậy phá.
Ngụ ngôn 31
Con thiên nga vốn rất ghét cái gì đen đúa hay vấy bẩn. Thiên nga
thấy chồn hôi hám nên lên án gắt gao. Thiên nga cũng bực bội
loài chuột chù vừa hôi vừa dơ bẩn. Thiên nga còn sợ loài rắn
hung ác chuyên phun nọc độc. Nhưng thiên nga vẫn phải sống chung.
Nhưng cho dù ghét loài dơ bẩn, hôi hám, độc ác, không phải tất
cả thiên nga đều lên án hay tránh né những loài ấy. Một số con
thiên nga muốn yên thân nên cũng chơi với chuột, nói năng như
rắn và đi kiếm ăn với chồn.
Còn những nàng thiên nga muốn giữ cho mình trắng tinh và xinh
đẹp thì hay gặp những chuyện phiền toái, bị giành ăn và bị cô
lập.
Một ngày nọ tất cả các gia đình thiên nga họp lại để quyết định
phải “lên tiếng”. Nhưng khi họp lại, thì một số thiên nga đã
nhuộm màu lông của cọp, một số đen như chuột, số khác thì uốn éo
như rắn.
Rồi mùa đông cũng qua đi. Khi rừng mở hội đón xuân, thì những cô
thiên nga trắng tinh dù còn ít ỏi, ốm đói và bị khóa miệng, vẫn
hòa khúc nhạc xuân hay nhất của năm ấy. Nhờ vậy mà hoa rừng được
khích lệ nở bừng đón xuân.
Ngụ ngôn 32
Chim ca vang. Sói bảo: “Mày cầu nguyện cả ngày, chẳng làm gì à?”
Chim đáp: “Tôi cầu nguyện và rồi đi tìm mồi cho chim con”. Bướm
tung tăng cám ơn Đấng Hóa Công cho màu rực rỡ. Sói bảo: “Mày cầu
nguyện, chẳng lo nhuộm cho màu đẹp hơn?” Bướm đáp: “Tôi cầu
nguyện và giúp kén nhả tơ”. Hoa đùa trong gió, tỏa hương bay lên
trời. Sói phàn nàn: “Mày cũng lo cầu nguyện, chẳng lo mùa giông
bão à?” Hoa cười: “Khi tôi dâng hương lên Trời cũng là lúc tôi
tỏa hương cho đời”.
Sói nghe xong lẩm bẩm: “Còn ta mải lo săn mồi, cuối cùng chẳng
có tiếng ca, chẳng còn màu sắc mà cũng chẳng có chút hương thơm”.
Nói xong hắn vục miệng vào vũng nước, cô đơn và chán nản.
Ngụ ngôn 33
Đường trải nhựa bóng loáng.
Xe chạy bon bon. Người
đi nô nức. Đường nhựa chạy mãi gặp con đường đất gồ ghề. Đường
nhựa bảo: “Cậu xem tớ mô đen và lộng lẫy chưa?
Ai như cậu ngàn năm lởm chởm?”
Đường đất không nói gì, chỉ mỉm
cười tung bụi mịt mù. Bỗng mưa lớn, mưa như hồng thủy. Đường
nhựa càng khoái chí cười ngất trong mưa vì nó trông bóng và sạch
hơn nhiều. Đường đất nhìn nó mà thèm. Hèn gì xe lớn xe nhỏ chạy
tới chạy lui tán tỉnh nhựa ta.
Nước ngập tràn đường nhựa và dâng
nhanh như lũ. Xe chết máy. Người người dắt xe. Người ta cố chen
nhau lên đường đất, vì đường đất gần con lạch nên chỉ trơn ướt
chứ không ngập bì bõm.
Nước rút. Đường nhựa trông dơ bẩn
và gớm ghiếc với đủ thứ đất và rác rưởi. Nhưng kinh hồn hơn là
giữa đường có một lỗ đen bí hiểm, to và sâu như miệng núi lửa.
Đường nhựa khóc nói với đường đất: “Cậu ơi, hóa ra tớ chỉ có cái
vỏ là bóng đẹp thôi. Ruột thì đã bị rút hết từ lâu”.
Ngụ ngôn 34
Voi
đi bán ngà giả bằng nhựa, nói: “Ngà này gia truyền ngàn năm”.
Cọp đi bán da giả bằng cao su, nói: “Da này đã phơi khô từ thời
Thi Sách”. Cừu đi bán len giả làm bằng nylon. Cừu bảo: “Len này
được xén từ Palestine”. Vậy mà thiên hạ chen chúc mua. Bắt chước
các con thú đó, chim ưng cũng đi bán tiếng ca giọng hát, nó giả
tiếng chim gáy buổi sáng, nghe quá tức cười nên ai cũng chê và
đuổi nó đi.
Chim ưng hỏi các con thú kia: “Sao
các bác bán đồ giả người ta mua, còn tôi bán giọng ca giả chẳng
ai thích vậy?”
Voi bảo: “Chú
mày nhìn đi, ngà, da hay len cũng giống bằng cấp giả, người ta
mua bán được vì đem về chưng hay cất đi, nên khó phát hiện thật
giả, chứ giọng ca cũng như kiến thức, mở miệng ra là thiên hạ
biết ngay thuộc đỉnh cao nào!”
Ngụ ngôn 35
Hội thi nói thật được tổ chức mỗi
năm một lần giữa các môn phái trên núi Vị yết nam sơn. Trong
giang hồ thường người ta chỉ thi nói dối vì ai ai cũng nói thật,
nói dối đối với họ là khó vô cùng. Còn các môn phái ở Vị yết nam
sơn này vốn quen gian dối nên thi nói thật đâu có dễ đậu. Các
môn phái tỉ thí, ráng nói thật nhưng cuối cùng ai cũng lòi cái
đuôi giả dối, nên rớt tuốt.
Cuối cùng một đại chưởng môn của
môn phái nọ bước lên. Ông thi xong được vỗ tay rào rào. Giải
thưởng nói thật của Vị yết sơn năm ấy được trao cho ông ta. Ông
nói gì mà chiếm giải dễ dàng vậy. Câu trả lời là ông im lặng
chẳng nói gì cả.
Lời bình: Hóa ra ở Vị yết nam sơn
này, người ta dạy nhau rằng hễ ngậm miệng thì thôi, chứ đã mở
miệng là cứ… phét.
Gioan Lê Quang
Vinh
Mời ghé thăm
www.giaoducconggiao.net
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
BA HẠNG VÉ
|
|
Xây dựng sự
hiệp nhất là một công trình của mọi người chứ không dành riêng
cho một ai. Xây dựng sự hiệp nhất được ví như là xây dựng một
tòa nhà mà trong trong đó, mỗi thành viên được ví như là một
viên gạnh. Giá trị của mỗi viên gạch được biểu hiện trọn vẹn khi
nó chấp nhận đứng chung với những viên gạch khác trong một bức
tường, nhưng nếu chúng tự tách mình ra, mỗi viên gạch sẽ trở nên
vô dụng, lẻ loi và không được dùng vào đúng chức năng của nó.
Hôm nay,
Sống Sao Cho Đẹp xin tiếp tục bàn đến chủ đề Xây dựng
Hiệp nhất qua câu chuyện sau đây.
Vào thời gian
mà người Phương Tây còn sử dụng xe ngựa như là phương tiện chính
để đi lại. Trên mỗi chuyến xe, hành khách thường được phân chia
vị trí bằng ba loại vé như sau. Loại thứ nhất dành cho những
người quí tộc giàu có. Những người thuộc vào vé hạng nhất, họ
chỉ việc ngồi trên xe từ lúc khởi hành cho đến nơi mình đến. Dù
khi xe có bị mắc lầy, xe lên dốc, hay bị xe bị hư thì nhóm người
này vẫn cứ ngồi yên trên xe mà không phải lo lắng gì.
Loại vé hạng
hai giá rẻ hơn, nhưng những ai sở hữu vé này cũng có những vị
trí ưu tiên. Tuy nhiên khi gặp trường hợp như xe bị mắc lầy,
hoặc hư hổng thì họ phải ra khỏi xe, nhưng họ không phải làm gì
cả. Họ chỉ đứng khoanh tay chờ cho ai đó giải quyết sự cố rồi họ
tiếp tục lên xe để đi.
Loại vé cuối
cùng là hạng vé mà những ai mua nó thì họ cũng được ngồi trên xe,
nhưng khi có sự cố xảy ra, họ phải là người xuống xe trước hết.
Khi xe mắc sình lầy, hoặc lên dốc, hoặc bị hư thì họ phải đẩy xe
ra khỏi vũng lầy. Nói tóm lại, họ là những người có trách nhiệm
trực tiếp giải quyết những sự cố xảy ra trên đường đi.
* * *
Quí bạn thân
mến, câu chuyện trên đây phần nào nói lên hiện tượng có thật
đang diễn ra trong tập thể, hay cộng đoàn của chúng ta đang sinh
hoạt. Mỗi cộng đoàn, tập thể cũng được ví như là những con người
cùng đi trên một chiếc xe chung với nhau. Tất cả chúng ta cùng
hướng đến một mục đích, và cùng phục vụ một lý tưởng. Tuy nhiên,
những sinh hoạt trong cộng đoàn, hay những công tác trong cộng
đoàn thì thường chỉ được giải quyết bởi một số người tình nguyện.
Những con người nhiệt tình này không phải vị họ được hưởng quyền
lợi đặc biệt nào hơn trong cộng đoàn, nhưng chính vì lòng nhiệt
thành và ý thức trách nhiệm của mình trong cộng đoàn nên họ dấn
thân chỉ với hy vọng là giúp cho cộng đoàn được thoát ra khỏi
tình trạng “vũng lầy” và để cùng tập thể tiến về đích.
Đáng buồn
thay, số người sử dụng “vé hạng ba” quá ít trong một cộng đoàn.
Nhưng rất nhiều người tự cho mình sở hữu “vé hạng nhất hay hạng
nhì.” Họ là những người chỉ thích ngồi yên vị trong cộng đoàn;
họ cũng là những người thường khoanh tay và đứng xem người khác
làm, còn chính họ thì ngại dấn thân. Nói cách khác, họ cho rằng
trách nhiệm xây dựng tập thể không phải là của họ, nhưng chỉ là
thuộc về những người khác.
Câu chuyện
hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta cần ý thức hơn về trách nhiệm
của mình trong cộng đoàn để chúng ta dấn thân hơn trong việc xây
dựng sự hiệp nhất bằng chính hành động của mình. Và câu chuyện
này cũng mời gọi chúng ta coi lại vị trí và loại vé nào mà chúng
ta đang tự sở hữu trong cộng đoàn.
Cầu mong bạn
trở nên những mẫu gương cho việc xây dựng sự hiệp nhất trong
cộng đoàn của mình.
Br.
Huynhquảng
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
COI VỢ NHƯ NGƯỜI BẠN ĐƯỜNG
|
|
Tác phẩm: Cẩm Nang Hạnh Phúc Gia Đình
Kitô - MỤC VỤ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Tác
giả: D. WAHRHEIT (Lm. Minh Anh, GP. Huế tổng hợp biên tập)
A9. COI VỢ NHƯ NGƯỜI BẠN ĐƯỜNG
“Chồng chúa vợ tôi” không
hẳn là một quan niệm cổ lỗ của các cụ ngày xưa, mà không chừng
vẫn còn rơi rớt lại trong rất nhiều người chồng trẻ ngày nay.
Nhiều người chồng vẫn còn cho mình là kẻ có quyền sai khiến vợ,
dạy bảo vợ và nhất là đánh đập vợ. Đàng sau cung cách cư xử ấy
là quan điểm cho rằng, người vợ không bao giờ là người ngang
hàng, đồng hành và bình đẳng với chồng.
Một quan niệm như thế khó có thể
đem lại hạnh phúc cho vợ chồng. Bởi vì hạnh phúc đó chỉ có thể
được xây dựng trên bình đẳng, tôn trọng, đối thoại và cảm thông
mà thôi.
Với người chồng trẻ, một lần nữa
chúng tôi xin được phép khuyên họ hãy xem vợ thực sự như một
người bình đẳng, một người bạn đường. Cái nhìn ấy sẽ giúp họ
khoan dung hơn đối với những thiếu sót của vợ, và biết nhận ra
những đức tính cao đẹp của vợ. Nhờ đó bản thân họ cũng được kiện
toàn hơn.
1.
Có nhiều người đàn ông cư xử như thể là ông chủ trong gia
đình. Họ gánh vác tất cả trách nhiệm của gia đình. Còn người vợ,
dù có đầu tắt mặt tối với bao nhiêu việc nội trợ, cũng chỉ là
một kẻ trợ giúp mà thôi.
Đi từ quan niệm tự tôn ấy, nhiều
người chồng cho mình có quyền đòi hỏi nơi vợ trăm nghìn thứ dịch
vụ khác nhau. Họ đòi hỏi như thế bởi vì họ nghĩ rằng, dưới mắt
người đời hay ít ra trong cái nhìn quen thuộc của xã hội, họ là
người gánh vác cả gia đình, họ cung cấp tiền bạc cho gia đình,
họ lèo lái cả gia đình.
Cái cảnh quen thuộc hay xảy ra và
nhiều người cho là bình thường, đó là cái cảnh người chồng vừa
đi làm về, ngồi chễm chệ trên ghế bành chờ đợi vợ con đến hầu hạ.
Dĩ nhiên, người cha và người chồng
được hưởng sự âu yếm, săn sóc của vợ con. Đó cũng là hạnh phúc
của vợ con khi được biểu lộ tình yêu đối với chồng, với cha. Tuy
nhiên, khi đón nhận sự săn sóc và phục vụ ấy, người đàn ông đừng
nghĩ rằng, đó là quyền của mình.
Nhất là họ đừng nghĩ rằng, công
việc nội trợ trong nhà của vợ chỉ là việc phụ. Từ chuyện con cái
đến chuyện bếp núc, và nhất là sự đặc biệt nhàm chán của công
việc hàng ngày, xem ra công việc của một người vợ trong gia đình
còn nặng nề hơn những vất vả của người chồng ngoài đồng áng hay
nơi công sở.
Một người chồng có ý thức và công
bình sẽ nhận ra rằng, công việc của mình ngoài gia đình và công
việc của vợ con trong gia đình đều có giá trị ngang nhau. Cả hai
đều cần thiết để xây dựng và bảo trì hạnh phúc lứa đôi và gia
đình.
Biết nhận ra sự phân chia trách
nhiệm như thế tức là đã nhận ra sự bình đẳng giữa vợ chồng.
2.
Ý thức về sự bình đẳng giữa vợ chồng sẽ giúp cho người
chồng biết tôn trọng và quan tâm đến vợ mình hơn.
Nếu người chồng sau một ngày làm
lụng vất vả biết chờ đợi sự chăm sóc, phục vụ, âu yếm của vợ thì
hẳn người vợ còn cảm thấy cái nhu cầu ấy gấp bội. Sự bình đẳng
đòi hỏi cả hai phải biết quan tâm phục vụ nhau.
Một tạp chí khuyên người chồng như
sau:
“Nếu
bạn muốn biến vợ bạn thành một người đàn bà suốt ngày cau có,
làu nhàu, thì phương pháp hữu hiệu nhất là bạn đừng lắng nghe
bất cứ điều gì vợ bạn nói.
Người vợ nào cũng cảm thấy như
được đưa lên tầng trời thứ bảy khi được chồng mình chăm chú lắng
nghe trong hai mươi phút liền.
Thực ra, nếu người chồng biết
chịu khó gỡ bông gòn ra khỏi hai lỗ tai của mình để lắng nghe
vợ, hẳn ông sẽ ngạc nhiên khi thấy rằng, vợ mình có thể nói được
những điều thú vị không ngờ.
Để tránh cho việc trò chuyện
giữa vợ chồng có lúc nhàm chán, thỉnh thoảng họ nên quên đi
những chuyện thường ngày trong gia đình để bàn luận về những đề
tài bao quát hơn, như tôn giáo, chính trị, xã hội, khoa học…
Hoặc cũng có thể đọc chung với nhau một trang báo hàng ngày.
Người chồng hãy tạo dịp cho vợ mình có dịp phát biểu trong những
vấn đề như thế.
Một trong những phương pháp hữu
hiệu để chống lại sự nhàm chán, độc điệu trong đời sống gia đình
là hãy có chung với nhau một vài sở thích. Điều đó cũng có nghĩa
là người chồng cũng phải quan tâm đến những sở thích của vợ
mình.
Người vợ nào lại không cảm thấy
hạnh phúc khi được người chồng góp ý trong cách ăn mặc và trang
điểm? Người vợ nào không cảm thấy sung sướng khi được chồng khen
ngợi vì nghệ thuật nấu nướng của mình?
Để giúp cho vợ khỏi trở thành
người bạn đường nhàm chán, người chồng cần phải tỏ ra quan tâm
đến vợ mình. Và dĩ nhiên, một người chồng biết quan tâm đến vợ
cũng sẽ là một người bạn đường khéo léo và hấp dẫn nhất đối với
vợ”.
3.
Những lời khuyên trên đây của tờ tạp chí cũng mời gọi
người chồng phải biết chú ý đến những cái thường ngày, những
điều nhỏ nhặt trong đời sống vợ chồng. Hạnh phúc lứa đôi và sự
bình an trong gia đình tuỳ thuộc phần lớn vào những điều nhỏ ấy.
Giúp vợ nấu nướng, giặt giũ, quét
dọn, hay cùng làm với vợ bất cứ việc nhỏ nào trong nhà, đó là
muôn nghìn cách thế người chồng tỏ ra quan tâm đến vợ, và nhất
là tôn trọng vợ.
Qua những trợ giúp ấy người chồng
cũng sẽ cảm thấy được lớn lên trong nhân cách của mình.
Người ta nói: muốn biết được tư
cách của người đàn ông, hãy nhìn cách sống của họ trong gia
đình.
Người ta trở về nhà không phải chỉ
để ăn uống, để bồi dưỡng, để trốn thoát những khó khăn trong xã
hội, mà là để tìm lại chính mình.
4.
Trong Tin Mừng, khi nói đến tinh thần phục vụ vô vị lợi,
Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh của người đầy tớ sau khi đã vất vả
suốt ngày trong công việc đồng áng, trở về nhà lại phải tiếp tục
hầu hạ chủ.
Và Chúa Giêsu kết luận: “Các
con cũng thế, sau khi đã làm tất cả những công việc phục vụ đó,
hãy nói: đó là công việc các con phải làm, các con chỉ là đầy tớ
vô dụng mà thôi”.
Vị Giáo Hoàng trong Giáo Hội
thường xưng mình là đầy tớ của mọi đầy tớ Chúa. Đó cũng là lý
tưởng cho mọi tín hữu, và nhất là cho mọi người chồng.
Tình yêu đích thực như Chúa Giêsu
đã thể hiện chính là hy sinh phục vụ. Và như Ngài đã dạy:
Chính lúc mất mạng sống mình, con người sẽ tìm gặp lại chính
mình. Đó phải là tâm niệm của người chồng trẻ vậy.
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
PHÂN ĐỊNH VÀ SỐNG
ƠN GỌI |
|
[BẢN THẢO]
LINH MỤC GIÁO PHẬN SỐNG TU ĐỨC TOÀN DIỆN
TRONG BỐI CẢNH THỰC TẾ CỦA GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY
Lm.
Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss
CHƯƠNG HAI
ỨNG SINH LINH MỤC
GIÁO PHẬN
CỦNG CỐ NHỮNG BƯỚC
ĐẦU
PHÂN ĐỊNH VÀ SỐNG
ƠN GỌI
B. CÁC KỸ NĂNG THÔNG THƯỜNG
B.I. LÝ LỊCH ỨNG
SINH
B.I.1. Lý lịch bản
thân
-
Tên thánh và họ tên: …………………………………..
-
Giáo phận: ...…………………………………………..
-
Địa chỉ và điện thoại:
....................................................
.......................................................................................
-
Ngày Sinh theo Chứng Minh Nhân
Dân:...…………….
-
Ngày Sinh theo sổ Rửa Tội:
.…………………………..
-
Nơi sinh:
........................................................................
-
Rửa tội ngày: ……………tại:
....……………………...
·
Thêm sức
ngày: ………... tại: …………………………
·
Hiện ngụ tại
giáo xứ: ...………………………………..
·
Tên cha sở:
.....………………………………………....
·
Địa chỉ và
điện thoại: ...………………………………..
........................................................................................
·
Địa chỉ và
điện thoại cá nhân: …………………………
........................................................................................
·
Tên cha bảo
trợ: .………………………………………
·
Địa chỉ và
điện thoại: ...……………………………….
........................................................................................
B.I.2. Sức khỏe
-
Chiều cao: ………… Trọng lượng:
...………………….
-
Đã giải phẫu vì bệnh gì không?:
....……………………..
-
Hiện đang mắc bệnh mãn tính gì
không?: .……………..
B.I.3. Trình độ
văn hóa – Năng khiếu
........................................................................................
B.I.4. Gia đình
-
Tên cha: ………………………… Sinh năm: ………...
-
Nghề nghiệp: .………………………………………….
-
Tên mẹ: ………………………… Sinh năm:
..……….
-
Nghề nghiệp: .………………………………………….
-
Địa chỉ và điện thoại của cha mẹ:
....…………………
........................................................................................
-
Là con thứ mấy trong gia đình: … / …
anh chị em.
-
Có mấy anh đã …/chưa… lập gia đình.
-
Có mấy em trai đã …/chưa… lập gia
đình.
-
Có mấy chị đã …/chưa… lập gia đình.
-
Có mấy em gái đã …/chưa… lập gia
đình.
-
Trong gia đình có ai đi
tu?.…………………………….
-
Tên, địa chỉ và điện thoại Nhà Dòng:
…………………
........................................................................................
B.I.5. Tìm hiểu Ơn
Gọi - Đăng ký vào dự tu:
-
Từ năm……………. đến năm...………………………..
-
Người phụ trách:
...............……………………………..
-
Địa chỉ và điện thoại:
......................................................
.........................................................................................
B.I.6. Sinh hoạt
mục vụ trước khi vào Chủng viện
-
Tại giáo xứ nơi gia đình
ở........………………………...
-
Cha xứ: ...……………………………………………...
-
Địa chỉ và điện thoại:
.......................................................
..........................................................................................
Hội đoàn
khác.................................................................
B.I.7. Giai đoạn ở
Chủng viện
-
Ngày vào Chủng viện:
.………………………………...
-
Vị linh hướng:
.....…………………………………......
-
(Vị linh hướng cũ: …………………………………….)
·
Địa chỉ và
điện thoại ba bạn thân theo thứ tự thân thiết (kể cả bạn là
con gái/bạn gái):
1.....………………………………………………..
...............................................................................
2..………………………………………………….
...............................................................................
3..………………………………………………….
...............................................................................
B.I.8. Những thao
thức, vấn đề và ước vọng muốn chia sẻ:
..........................................................................................
..........................................................................................
..........................................................................................
Làm tại …....................ngày…………………
(Ký rõ họ tên)
B.II. BA YẾu TỐ Giúp Phân ĐInh Ơn GỌi
B.II.1.
Ý Ngay Lành
Trước hết là “ý ngay
lành” và ý ngay lành này phải qui chiếu vào lịch sử ơn kêu gọi của Chúa trong
cuộc đời của mỗi người. Ý ngay lành này có thể được rõ nét dần dần qua cấu trúc:
-
Khởi đầu là
lời kêu gọi của Chúa;
-
Lời đáp trả
tiếng Chúa của ứng sinh;
-
Cam kết đi
theo chính Đức Kitô toàn thể;
-
Sự biến đổi
nhân cách của ứng sinh cho phù hợp với đời sống ơn gọi được thực hiện nhờ Chúa
Thánh Thần;
-
Cuối cùng là
dấn thân thi hành sứ vụ qua việc chịu chức.
Chúa Giêsu đã nói: “Không
phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con, và sai các con ra
đi để các con sinh hoa trái và hoa trái các con tồn tại, hầu tất cả những gì các
con xin Cha nhân danh Thầy thì Người ban cho các con. Điều Thầy truyền dạy các
con là hãy yêu thương nhau” (Ga 15,16-17).
Như thế, phải khẳng
định rằng mình theo chính Chúa Kitô chứ không phải ai khác. Được hiểu hay không
được hiểu, được ủng hộ hay bị chống đối, vui hay buồn, sướng hay khổ, thành công
hay thất bại, mặc! Cứ bám chặt vào Chúa, bạn sẽ nhận được một sức mạnh nâng đỡ
lạ lùng, mà Thánh Phaolô xác quyết về sức mạnh kỳ diệu đó là “chính Chúa Kitô
sống trong tôi” (Gal 2,20).
(Hát Lạy Chúa nầy con
đây)
B.II.2. Động
Lực Thúc Đẩy Ý Hướng
B.II.2a Xác định động lực
Đàng sau mọi quyết
định và hành động đều có một hay nhiều động lực ẩn khuất tác động lâu dài. Ứng
sinh cần một không gian và thời gian để xem xét, làm sáng tỏ và thanh luyện các
động lực của mình. Có thế thì việc đáp trả lời mời gọi và cam kết theo Chúa mới
bền vững trong tin yêu và quảng đại.
B.II.2b Một ít động lực
Các động lực có
ý thức:
-
Lòng khao khát phục vụ
-
Có nhiều thời gian hơn
để cầu nguyện
-
“Tôi muốn tìm sự bình
an”
-
Bối rối: “Tôi cảm thấy
Chúa gọi tôi, nhưng tôi sợ…”
Các động lực vô
ý thức: Nhiều
khi các động lực nhân loại can thiệp vào hầu làm thỏa mãn các nhu cầu căn bản
của con người đã không được thỏa mãn trong thời niên thiếu:
-
Khao khát bình an/an
toàn
-
Khao khát được nhận
biết, được chú ý, được chấp nhận
-
Khao khát được hoàn
thành/kiện toàn
-
Sợ người khác phái
-
Để chu toàn một lời hứa
khi nhỏ
-
Để thoát khỏi nghèo khổ
-
Thoát ly khỏi đời sống
gia đình bất hạnh
-
Tìm kiếm đặc ân
-
Thoả mãn tham vọng của
cha mẹ
Các động lực ấy chẳng
phải là tội, nhưng chúng bộc lộ các nhu cầu cơ bản về mặt cảm xúc, sự đón nhận,
ý thức lệ thuộc, ý thức về căn tính của mình, khả năng thiết lập tương quan hài
hoà với cả hai phái và sự quý mến bản thân. Để tăng cường sự phát triển trưởng
thành nhân bản và thiêng liêng, ta cần trung thực loại bỏ hay uốn nắn các động
lực không thích hợp đó.
Đời sống dâng hiến
đặt nền tảng trên sự quí mến bản thân với các nhu cầu của nó. Sự quí mến bản
thân giúp ta ý thức về sự dâng hiến bản thân. Nếu không có qúi mến bản thân thì
dâng hiến cái gì? Do đó phải đối mặt gọi tên và giải quyết tốt các nhu cầu ấy để
sự dâng hiến bản thân được ý nghĩa trọn vẹn và bền bĩ.Chỉ trong ánh sáng tình
yêu vô điều kiện và bất biến của Chúa, ước muốn dâng hiến bản thân mới ngày một
hiện rõ và tự do trao dâng cho Chúa và tha nhân, theo sự thúc đẩy của ơn Chúa
Thánh Thần (x. Tv 16:5-6)
Chúa là phần sản
nghiệp con được hưởng
Là chén phúc lộc dành cho con;
Số mạng con chính Người nắm giữ.
Phần tuyệt hảo may mắn đã về con,
Vâng, gia nghiệp ấy làm con thoả mãn
(Tv 16,5-6)
(Hát Tôi xin chọn
Người)
B.II.2c Các loại ý hướng
Xem xét các loại động
lực thúc đẩy ý hướng này giúp chúng ta nắm rõ nội dung và sức năng động trong ý
hướng muốn tiến vào đời sống dâng hiến:
·
Ý hướng
cam kết khiến ứng sinh có
khả năng đáp lại tiếng Chúa gọi, nhờ hoa quả của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời
mình. Đây là ý hướng lý tưởng. Ứng sinh tương đối trưởng thành và hướng tới tự
hiến, do đó chị có thể tự do đáp lại lời mời gọi của Chúa.
·
Ý hướng
phận vụ cần một sự phân
định cẩn thận giữa sự sẵn sàng bỏ mình và sự chỉ tìm kiện toàn chính mình, vì
ứng sinh vừa được tác động bởi sự tìm kiếm chính mình, vừa được tác động bởi đức
tin của mình. Anh bị giằng co giữa việc tìm kiện toàn chính mình và hấp lực tự
hiến. Tính lưỡng diện này tỏ lộ lãnh vực không có tự do trong cái tôi còn thiếu
trưởng thành của anh.
·
Ý hướng
địa vị tìm thăng tiến bản
thân để che lấp sự bất ổn căn bản trong đời sống của mình, hay vì ước muốn và
tham vọng của người khác (coi đời tu là một thăng tiến xã hội).
·
Ý hướng
trốn thoát nhằm tìm kiếm
sự che chở từ cuộc sống tu trì. Một người với ý hướng này không có ơn gọi đích
thực. Ứng sinh như thế là không trưởng thành, căn tính không được đào luyện hay
hội nhập tốt, không ý thức được các nhu cầu của mình. Tính thiếu bền vững cả
trong thái độ lẫn ứng xử có thể được quan sát thấy cách dễ dàng.
Ứng sinh có những ý
hướng địa vị và trốn thoát thường không có ơn gọi đích thực, bởi vì họ thiếu
trưởng thành nhân cách và sẽ dễ dàng từ bỏ hoặc phản bội sứ vụ căn bản của mình
(x. Dụ ngôn Người Gieo Giống):
“Đây là ý nghĩa dụ
ngôn: Hạt giống là lời Thiên Chúa. Những kẻ ở bên vệ đường là những kẻ đã nghe
nhưng rồi quỷ đến cất Lời ra khỏi lòng họ, kẻo họ tin mà được cứu độ. Còn những
kẻ ở trên đá là những kẻ khi nghe thì vui vẻ tiếp nhận Lời, nhưng họ không có
rễ. Họ tin nhất thời, và khi gặp thử thách, họ bỏ cuộc. “Hạt rơi vào bụi gai: đó
là những kẻ nghe, nhưng dọc đường bị những nỗi lo lắng và vinh hoa phú quý cùng
những khoái lạc cuộc đời làm cho chết ngộp và không đạt tới mức trưởng thành.
Hạt rơi vào đất tốt: đó là những kẻ nghe Lời với tấm lòng cao thượng và quảng
đại, rồi nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả”
(Lc 8,11-15)
(Slideshow Thửa đất lòng tôi)
Nếu không thể nào thay đổi
được, nên khéo léo khuyên người có ý hướng địa vị và trốn thoát tìm một đường
lối sống ở nơi nào khác thì tốt hơn là giữ họ lại theo đuổi đời sống tu trì.
B.II.3.
Cam Kết Tự Biến Đổi Cho Sứ Vụ
Chúng ta cần phải ý thức về
nhiều nhân tố trong động lực ơn gọi của ứng sinh và phân tích những đường lối
anh dấn thân phục vụ tha nhân, bao gồm cả việc anh trung thành với lời cam kết
của anh. Một nhà phân định bén nhạy có thể trực giác ngay được ý muốn phục vụ
tha nhân của ứng sinh như thế nào. Nếu ứng sinh có ý hướng địa vị (linh mục là
người luôn được kính trọng và có vị thế trong xã hội: một thăng tiến xã hội) là
động cơ ưu tiên trong việc đi tu, thì hãy khéo léo khuyên anh nên tìm một lối
sống khác.
Nhiệm vụ của vị hướng dẫn đời
sống ơn gọi của ứng sinh thật là quan trọng. Người hướng dẫn cần giúp ứng sinh ý
thức rõ nhiều động lực đang có mặt nơi anh, đồng thời giúp anh thấy được sự xung
khắc giữa các động lực ấy và giải quyết chúng. Động lực nào phù hợp với đời tu
sẽ được dùng để thăng tiến đương sự. Động lực nào không phù hợp với đời tu thì
phải loại bỏ hay biến đổi. Nếu không làm được như vậy, đương sự sẽ được mời ra
đi.
B.III. BA VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ
QUYẾT ĐỊNH
Ứng sinh phải ý thức và trực
diện với ba vấn đề cơ bản mang tính quyết định này ngõ hầu đạt được một đường
hướng dứt khoát hơn cho cuộc đời mình. Nếu ba vấn đề này không được “giải quyết”
thì chúng sẽ ảnh hưởng mạnh trên cách ứng xử của anh, mà hậu quả sẽ là một khủng
hoảng ơn gọi.
Đừng quên câu định nghĩa và
tiến trình sống tu đức toàn diện: “Đời sống thiêng liêng là đời sống nhân bản
được sống trong Chúa Thánh Thần.” Định nghĩa này phải hiểu trong tiến trình:
Con Người → Tu Đức Nhân Bản (đạo làm người) → Nhân Bản Thiêng Liêng (đạo làm con
Chúa) → Thánh Nhân (tình bạn với Chúa, Ga 15,15).
B.III.1. BiẾT Mình
Ở cửa đền Alphê, Socrate cho
khắc chữ “Hãy tự biết mình.” Còn Thánh Augustinô thì cầu nguyện mỗi ngày “in cho
con biết Chúa, xin cho con biết con.” Tự biết mình là yếu tố rất quan trọng để
ứng sinh đạt được trưởng thành. Ứng sinh phải cố gắng hiểu được mình là ai, với
tất cả những điểm mạnh và những điểm yếu. Nếu không có nhận thức rõ ràng về
mình, ứng sinh dễ có khuynh hướng tự tôn bằng sự phòng vệ coi mình là trung tâm
điểm hoặc tự ti và quá lệ thuộc vào người khác.
Sự kiện rất nhiều ứng sinh ngày
nay không thể trực diện với chính mình để biết mình là ai giải thích tại sao có
nhiều sự thiếu trưởng thành hay tự đánh giá thấp nơi nhiều chủng sinh, ngay cả
nơi một số linh mục trẻ mới ra trường nữa.
Ứng sinh phải tự biết mình là
ai, và đang ở đâu trong tiến trình tu luyện. Đôi khi anh cũng phải dám hỏi:
“Chúa nghĩ gì về con?” Nhà đào tạo cũng phải biết ứng sinh đang ở giai đoạn nào
trong tiến trình ấy, để nhẫn nại dẫn dắt, không đốt giai đoạn, kẻo đốt giai đoạn
là đốt cháy cả một đời người.
B.III.2. VẤN ĐỀ Thân MẬt Tính DỤc
Ứng sinh cần đạt được mức
trưởng thành đầy đủ về tính dục, tâm lý và một cuộc sống cầu nguyện siêng năng
và đích thực, dưới sự hướng dẫn của vị linh hướng, trong hi sinh, xả kỷ, tự
hiến, tự giác kỷ luật…
Các ứng sinh buộc phải có một
sự trưởng thành nhất định trong đời sống nhân bản và thiêng liêng. Điều này thật
dễ nhận ra nơi giáo xứ nhà quê, nhưng lại khó biết được nơi các thành phố đông
người, nơi mà ngoài các bức tường nhà mình không ai biết ai. Tình trạng khó kiểm
soát này đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, nhiều biến động và chiến đấu cho các công
dân trẻ mới tới đô thị, đặc biệt là trong mối liên hệ với người khác phái (x.
sinh viên tầm gửi), ảnh hưởng đến đời sống thiêng liêng và cầu nguyện.
Ngoài ra, vì phải va chạm với
môi trường xã hội và học đường, nhiều ứng sinh có thể có bạn gái hay người yêu,
hoặc lâm vào một hoàn cảnh đáng tiếc, nên vấn đề thân mật tính dục trở nên có
thật. Năm 2007, cuộc điều tra khảo sát tại 30 trường ĐH-CĐ trong cả nước do Vụ
Văn hóa - Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương phối hợp với Vụ Công tác Học sinh Sinh
viên (Bộ GD-ĐT) đã đưa ra một con số rất đáng suy nghĩ: 51,4% sinh viên cho
rằng “sống thử trước hôn nhân là hiện tượng khá phổ biến” và được coi là “bình
thường”.
Ngạn ngữ Việt Nam có câu “Lửa
gần rơm lâu ngày sẽ cháy.” Không ai trách lửa hay rơm về chuyện chúng đốt cháy
hay bị đốt cháy, đúng hơn phải trách kẻ đặt rơm gần lửa. Nhiều trường hợp cần
một sự biện phân chặt chẽ về lương tâm, để thanh lọc và uốn nắn lại, nhưng với
một sự thấu cảm đem lại nâng đỡ và bình an.
Con trót dại bao
lần sa ngã,
Ôi Giêsu lượng cả
đoái nhìn.
Con nguyền can đảm
đứng lên,
Lệ sa rửa sạch tội
khiên làu làu.
Xin ánh sáng soi
vào tâm trí,
Tỉnh cơn mê, con
sẽ dâng Ngài,
Bổng trầm điệu hát
vui say,
Muôn ngàn khấn
nguyện giải bày khúc nôi.
Thánh Thi Kinh Sáng
CN Tuần III
Đối với một số ứng
sinh, để tiến bước trên con đường ơn gọi cần phải có lòng can đảm, nhưng dừng
lại và thay đổi hướng đi còn đòi hỏi can đảm nhiều hơn. Chủng viện sẽ xây dựng
một lối sống khả dĩ giúp đỡ và ngăn ngừa cách hữu hiệu các lối giải quyết cho
những chiến đấu của họ. Nhưng tiến trình khó khăn ấy cần có thời gian và những
cố gắng chân thành. Trong “Truyện Kiều,” Nguyễn Du diễn tả “dẫu lìa ngó ý còn
vương tơ lòng,” nghĩa là tuy đã chia tay, sự gắn bó dịu dàng vẫn còn. Nếu
không rơi vào ngăn trở Giáo luật, ứng sinh phải nỗ lực thăng hoa các mối liên hệ
và kiên vững lật sang trang đời mới thì mới có thể tiếp tục.
Đường em em đi,
Đường anh anh đi.
Tình nghĩa đôi ta
có thế thôi.
Đã quyết không
mong sum họp nữa,
Bận lòng chi nữa
lúc chia phôi! (Nửa chừng xuân)
Chọn sống độc thân
thánh hiến là một chọn lựa tự do. Họ phải đương đầu và làm việc để vừa thắng
vượt các chiến đấu này, lại vừa thăng tiến chọn lựa của mình. Nếu địa hạt này
không được trực diện và giải quyết, những vật lộn này sẽ trở lại với họ, ngay cả
sau khi đã chịu chức. Vì thế, họ cần liện lạc thường xuyên với vị linh hướng của
mình. Đừng đợi cho đến khi vấp ngã rồi mới nhớ đến những lời khuyên: “Biết ai
khôn ngoan thì tìm đến mà bàn hỏi và chớ coi thường bất cứ lời chỉ giáo nào hữu
ích. Hãy chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa mọi lúc; hãy xin Người dạy con cho
biết theo nẻo chính đường ngay và giúp con thành công trong mọi đường đi nước
bước cũng như mọi toan tính của con” (Tb 4,18-19).
Tuy nhiên, cuộc sống
giữa muôn màu phức tạp của xã hội trần thế cũng khiến cho các ứng sinh khác lớn
lên trong việc xác định ơn gọi của mình, cả về tình cảm đời sống nhân bản lẫn
đời sống thiêng liêng.
Trong đầm gì đẹp
bằng sen,
Lá xanh bông trắng
lại chen nhụy vàng,
Nhụy vàng bông
trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng
hôi tanh mùi bùn.
Đời sống độc thân
linh mục khiết tịnh được nêu bật như là một ân huệ và quà tặng đặc biệt của
Thiên Chúa, như là lựa chọn một tình yêu không chia sẻ vì Chúa Kitô và vì Nước
Thiên Chúa. Đời sống độc thân linh mục khiết tịnh cần được trình bày rõ ràng,
không hàm hồ và theo cách tích cực. Ứng sinh phải khiêm tốn và nhiệt thành cầu
nguyện và đón nhận đời sống độc thân linh mục như là một món quà của ân sủng
Chúa. Cùng với Hội Thánh, họ phải khiêm tốn và kiên định cầu nguyện cho ơn trung
thành và sử dụng mọi sự trợ giúp siêu nhiên cũng như tự nhiên, đặc biệt là lối
thực hành khổ chế đã được kinh nghiệm của Hội Thánh chấp thuận.
B.III.3. Vâng lỜi
Tuy linh mục không
khấn ba lời khuyên Phúc Âm, chỉ hứa vâng lời Đấng Bản Quyền, đức vâng lời phải
là nền tảng, vì nó giúp linh mục sống dễ dàng đức thanh khiết trong một nếp sống
giản dị. Ứng sinh phải tập vâng lời triệt để trong mọi sự có liên quan, dù bây
giờ người ta nhấn mạnh hơn đến “vâng lời đối thoại” hay “vâng lời
trưởng thành”.
Quả vậy, với Vaticanô
II, không còn “vâng lời tối mặt”; nhưng “vâng lời đối thoại” hay “vâng
lời trưởng thành”, nghĩa là bề dưới được trình bày với Bề trên hết sự thật những
gì mình nhận thấy và suy nghĩ, với đầy đủ lý do và ước nguyện, có khi trái ý Bề
Trên, nhưng lời nói cuối cùng thuộc về Bề Trên, và bề dưới vâng lời với tinh
thần siêu nhiên.
Chúng ta biết rằng Bề
Trên có quyền quyết định trái với ý của tất cả chúng ta, nhưng chính Bề trên sẽ
chịu trách nhiệm và trả lời với Chúa. Đó là thực sự cảm thông với Giáo Hội
(Sentire cum Ecclesia). Điều đáng e ngại là có thể một số Vị quá “sính quyền
bính” không dễ dàng lắng nghe sự thật và cho bề dưới cơ hội đối thoại hay
giải thích! Nhưng đi cho tới cùng, vâng lời đòi hỏi mọi sự nơi chúng ta: trí
khôn, con tim, ý muốn, đời sống; nhượng bộ mọi sự cho Chúa, coi vâng lời như
diễn tả trọn vẹn sự lệ thuộc vào Chúa và Giáo Hội.
Tuy nhiên, chúng ta
cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa và tâm thức do các cơ cấu xã
hội, chính trị và tôn giáo. Chẳng hạn, vì bị ảnh hưởng của Khổng giáo, của chế
độ phong kiến và thực dân, của các cơ cấu phẩm trật và gia trưởng, chúng ta lắm
khi phải đương đầu với những thách đố và chiến đấu trăn trở về tự do và phục
tùng với bộ ba “quyền phục, lý phục và tâm phục hay tâm bất phục”
hoặc “bằng mặt mà không bằng lòng.” Và trong những trạng huống bức xúc có
thể “tức nước vỡ bờ”, chúng ta cần có ai đó giúp “đào sâu lòng sông và
khơi dòng cho nước chảy”. Vị linh hướng kinh nghiệm là người đó cách thích
hợp nhất.
Nhưng với đức tin
mạnh mẽ và đâm rễ sâu trên nền tảng Thánh Kinh vững chắc, đặt trọng tâm vào Chúa
Giêsu, vào Phúc Âm, vào Giáo Hội và vì các linh hồn, cầu nguyện và biện phân
dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ vâng lời cách sẵn lòng và siêu
nhiên các vị lãnh đạo và cơ cấu Giáo Hội, không phải như những con người và cơ
cấu nhân loại, nhưng là Ý Chúa ở trong và qua những con người và cơ cấu này.
(Hát Nguồn trợ lực
tôi)
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
XÉT NGHIỆM TRUY TÌM BỆNH
|
|
Một trong
những mục tiêu của phòng bệnh là tìm ra các thay đổi trong cơ
thể trước khi dấu hiệu, triệu chứng của bệnh xuất hiện.
Một cách tổng
quát, phòng bệnh có nhiều cấp với mục tiêu khác nhau.
- Phòng tránh
loại 1
Ngăn ngừa
không cho bệnh tật hoặc các điều kiện xấu xảy ra.
Thí dụ dùng
bao cao su để tránh nhiễm trùng khi giao hợp; chủng ngừa các
bệnh nhiễm như yết hầu, tê liệt trẻ em, viêm gan A và B…
- Phòng tránh
loại 2
Nhận diện,
khám phá ra các mầm bệnh từ lúc chưa có dấu hiệu hoặc chưa có
thay đổi về chức năng và cấu tạo của các bộ phận, rồi áp dụng
điều trị để trì hoãn hoặc
ngăn không cho bệnh xuất hiện.
Chẳng hạn như chụp
x-quang nhũ hoa để sớm tìm ra ung thư vú, đo huyết áp theo định
kỳ để sớm biết có bị cao huyết áp…
- Phòng tránh
loại 3
Ngăn ngừa
không cho biến chứng, hậu quả xấu của bệnh xảy ra.
Chẳng hạn
tránh mất thị lực, suy tim, suy thận trong bệnh tiểu đường,
hoặc áp dụng vật lý trị liệu, y khoa phục hồi để lấy lại sự cử
động của chân tay bị tê liệt sau khi bị tai biến động mạch não…
Tùy theo tuổi
tác và giới tính, có nhiều phương thức để đạt được những mục
tiêu này.
1- Từ 18 -34
tuổi
Ở tuổi 17 bẻ
gẫy sừng trâu cho tới tuổi trung niên tràn đầy sức sống. mà nói
tới khám sức khỏe thì chắc nhiều người cũng cho là vô ích. Nhưng
bệnh là bệnh, không từ chối, tránh bỏ bất cứ tuổi nào.
Tuổi trẻ nam
nữ cũng thường bị cao huyết áp mà cao huyết áp là rủi ro đưa tới
bệnh tim. Vì vậy nên đo huyết áp mỗi 2 năm.
Ở lớp tuổi
này, cần coi lại xem mình đã chủng ngừa các bệnh truyền nhiễm
đầy đủ chưa. Các bệnh phong đòn gánh, yết hầu, ho gà cần được
tái chích ngừa mỗi 10 năm.
- Riêng với
phụ nữ, trước hết là nên tự khám nhũ hoa mỗi tháng một lần. Mặc
dù ung thư thường xảy ra ở người tuổi cao hơn, nhưng 2% phụ nữ
trong lứa tuổi này cũng hay bị u ác tính tới thăm đấy.
Rồi tới khám
phụ khoa và làm thử nghiệm Pap để tìm ung thư cổ tử cung. Thường
thường quá nửa ung thư này xảy ra ở tuổi từ 35-54, nhưng nhiễm
siêu vi Human papillomavirus (HPV) cần khoảng 15 năm để chuyển
sang ung thư. HPV gây ra ung thư cổ tử cung ở phụ nữ và mụn cóc
nơi cơ quan sinh dục của cả nam lẫn nữ. Cho nên, từ 21 tuổi hoặc
ba năm sau khi quan hệ tình dục lần đầu là phải khám cơ quan
sinh dục và làm Pap. Tiếp tục như vậy mỗi 3 năm cho tới tuổi 65.
Thử nghiệm
đếm tế bào máu (complete blood count). Ở tuổi có thể mang thai,
đếm hồng cầu, bạch cầu và huyết cầu tố để coi xem có bị thiếu
máu không là điều cần làm. Bệnh thiếu máu (anemia) xảy ra ở 12%
phụ nữ mang thai.
- Nam giới,
từ tuổi 14 trở lên, cần tự khám ngọc hành để coi có bị sưng, u
bướu.
2- Lớp tuổi
từ 35-49
Đây là thời
gian mà nhiều bệnh có thể xuất hiện vì con người bắt đầu có
những thay đổi trong nếp sống như rượu chè, hút sách, phung phí
sức khỏe trác tang, cờ bạc…
Một số thử
nghiệm có thể sớm khám phá ra các bệnh này để việc điều trị được
công hiệu hơn.
Phụ nữ ít rủi
ro ung thư vú cần chụp x-quang vú mỗi năm khi tới tuổi 40.
Với phụ nữ có
nhiều rủi ro ung thư như mập phì, hút thuốc lá, uống rượu, tiếp
xúc với phóng xạ, có thân nhân bị ung thư vú cần làm mammography
sớm hơn, từ tuổi 35.
Nam nữ trong
tuổi này cần thực hiện các khám nghiệm sau:
- Đo
cholesterol trong máu.
Cao
cholesterol là một trong ba rủi ro chính gây ra bệnh tim mạch.
Hai rủi ro kia là hút thuốc lá và huyết áp cao. Do đó, nam giới
từ 35 tuổi, nữ giới 45 tuổi cần thử cholesterol toàn phần, HDL
và LDL mỗi 5 năm.
- Đo đường
huyết khi đói
Hội Tiểu
đường Hoa Kỳ đề nghị nên đo đường huyết mỗi 3 năm để coi có bị
bệnh tiểu đường hay không.
Trước đây,
chỉ số đường huyết trên 120mg/dl được coi như đã bị tiểu đường
và dưới mức độ này là bình thường. Bây giờ nếu mức đường huyết
từ 110-120 được coi như tiền-tiểu-đường. 1/3 các trường hợp này
có thể chuyển sang bệnh tiểu đường thực sự nhưng nếu tìm ra sớm,
có thể áp dụng nhiều phương thức để phòng tránh.
- Khám mắt
Thị lực bắt
đầu kém ở tuổi này.
Nếu cảm thấy
có giảm thị lực nên đi bác sĩ để được khám nghiệm ngay.
Nếu thị lực
bình thường, bác sĩ nhãn khoa đề nghị nên khám mắt hai lần mỗi
năm trong tuổi từ 30-39.
Nếu mang kính
cận hoặc viễn thị, nên khám thường xuyên hơn, tùy theo chỉ định
của bác sĩ.
Từ tuổi 45,
áp xuất của mắt bắt đầu lên cao rất nhanh và có thể đưa tới mù
lòa. Người bị bệnh tiểu đường, cận thị hoặc có thân nhân bị cao
áp nhãn (glaucoma), nên đo áp xuất mắt mỗi khi khám mắt. Khám
phá ra sớm, cao áp nhãn có thể điều trị dễ dàng bằng dược phẩm.
3- Tuổi từ
50-64
Ở tuổi này,
nên thực hiện thường xuyên một số khám nghiệm để sớm tìm một số
bệnh, đặc biệt là những người có nhiều rủi ro của mỗi bệnh.
a- Nam nữ mọi
giới cầm làm:
-Nội soi ruột
già (colonoscopy) để truy tìm ung thư đại tràng vào tuổi 50 rồi
làm lại khi tới 60 tuổi. Nếu có các rủi ro như đã bị mụn polyp
ruột hoặc thân nhân bị ung thư ruột già cần làm thường xuyên hơn,
tùy theo hướng dẫn của bác sĩ.
-Mỗi 5 năm,
làm nội soi đại tràng sigma (sigmoidoscopy) để tìm kiếm xuất
huyết, viêm hoặc tổn thương của đoạn ruột già cuối.
-Tìm kiếm máu
trong phẩn (fecal occult blood test) thường được thực hiện hàng
năm khi khám hậu môn để coi xem có lẫn máu trong phẩn. Máu chảy
ra từ ruột già bị viêm sưng, loét lở hoặc polyp.
-Tiếp tục đo
cholesterol trong máu mỗi 5 năm.
b- Nữ giới
tiếp tục chụp x-quang vú mỗi năm
c- Nam giới
trên 50 tuổi
Nên khám
nghiệm nhiếp tuyến để tìm ung thư tuyến này. Giới chức y tế đề
nghị khám nhiếp tuyến qua hậu môn mỗi năm và thử nghiệm PSA
(Prostate specific antigen).
4- Trên 65
tuổi
Quý cụ trên
65 tuổi cần tiếp tục khám mắt hàng năm để tìm ra bất thường của
mắt như cao áp nhãn, đục thủy tinh thể, bệnh của võng mạc.
Thính lực của
quý cụ cũng bắt đầu kém ở tuổi này, yêu cầu bác sĩ đo thính lực
của mình hàng năm.
Trên 65 tuổi,
đo cholesterol trong máu mỗi 4 năm thay vì 5 năm như trước đây.
Theo các nhà
y học, trên 80 tuổi không đo cholesterol nữa, vì nếu lên cao mà
uống thuốc hạ thì tác dụng phụ của thuốc nhiều khi lại xấu hơn
là bệnh do cao cholesterol gây ra.
Ung thư vú
tăng với tuổi của nữ giới, cho nên cần tiếp tục chụp X-quang như
đã chỉ định trước đây. Tuy nhiên nhiều nhà chuyên môn đề nghị
ngưng mammography từ 70-85 tuổi. Lý do là ở tuổi này chẳng may
bị ung thư vú mà điều trị với hóa hoặc xạ trị thì e rằng các cụ
không có sức để chịu đựng với tác dụng của thuốc.
Với Pap
smear, tới tuổi 65 mà thử nghiệm này âm tính thì không cần tái
thử nghiệm nữa.
Điều nên lưu
ý là các đề nghị như trên đều được cập nhật hóa thường xuyên,
tùy theo kết quả các nghiên cứu. Vì vậy ta cũng nên theo dõi tin
tức, hỏi bác sĩ để áp dụng phương pháp sàng lọc đúng tuổi, đúng
thời gian.
Bác sĩ Nguyển Ý-Đức
Texas-Hoa Kỳ. |
|
VỀ MỤC LỤC |
|
Cái Tình - Chuyện phiếm của Gã Siêu |
|
Đứng trước một người, một vật hay một việc,
chúng ta thường đánh giá theo cái nhìn riêng tư và thường đưa ra
những nhận định dựa trên những ý nghĩ trong đầu óc của mình. Vì
thế, người ta đã phát biểu về cái đẹp như sau:
- Chẳng bao giờ có được một cái đẹp khách
quan, mà chỉ có những cái đẹp chủ quan mà thôi. Vậy thế nào là
đẹp? Phải chăng đó là con cóc cái dưới mắt con cóc đực.
Cũng thế, dưới cặp kính màu hồng của tình
yêu, người ta thấy cái gì cũng xinh tươi, cũng thơ mộng:
- Yêu nhau thì củ ấu cũng tròn và trái bồ
hòn cũng ngọt.
Hay như ca dao đã diễn tả về một chị vợ
được anh chồng yêu thương như sau:
- Lỗ mũi em mười tám gánh lông,
Chồng yêu chồng bảo “râu rồng trời cho”.
Đêm nằm thì ngáy o o,
Chồng yêu chồng bảo “ngáy
cho vui nhà”.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu chồng bảo “về
nhà đỡ cơm”.
Trên đầu những rác cùng
rơm,
Chồng yêu chồng bảo “hoa
thơm rắc đầu”.
Đúng như kinh nghiệm đã
diễn tả:
- Yêu nên tốt, ghét nên
xấu.
Sách “Cổ học tinh hoa” có
truyện rằng:
Ngày trước, vua nước Vệ rất
yêu thương Di Tử Hà. Cái phép nước Vệ, ai đi trộm xe của vua,
thì phải tội chặt chân. Mẹ của Di Tử Hà ốm nặng. Đêm khuya có
người đến gọi, Di Tử Hà vội vàng lấy xe vua ra đi. Vua nghe thấy
khen rằng:
- Có hiếu thật! Vì hết lòng
với mẹ mà quên cả tội chặt chân.
Lại một hôm, Di Tử Hà theo
vua đi chơi ngoài vườn, đang ăn quả đào thấy ngọt, còn một nửa
đưa cho vua ăn. Vua nói:
- Yêu ta thật! Của đang
ngon miệng mà biết để nhường ta.
Về sau, vua không còn lòng
yêu thương Di Tử Hà như trước nữa. Một hôn phạm tội, vua giận mà
nói rằng:
- Di Tử Hà trước dám lấy xe
của ta mà đi, lại một lần dám cho ta ăn quả đào thưa. Thực mang
tội với ta đã lâu ngày. Nói xong đem ra trị tội.
Ôi! Di Tử Hà ăn ở với vua
trước sau như một, thế mà trước thì được khen, còn sau thì lại
bị bắt tội là chỗ, khi yêu khi ghét khác nhau mà thôi. Lúc được
vua yêu, chính đáng tội thì lại hóa công thần. Lúc phải vua
ghét, chính không đáng tội thì lại bị đem ra xử. Cho nên người
ta muốn can ngăn đàm luận với vua điều gì, thì trước hết phải
xem xét cái lòng vua yêu hay vua ghét thế nào rồi hãy nói.
Sự yêu và sự ghét thường
làm cho người ta mờ con mắt, không còn nhìn rõ được sự việc nữa.
Sở dĩ như vậy, vì con người
không phải là một vật vô tri giá, trơ trơ như một khúc gỗ hay
bất động như một hòn đá, trái lại lúc nào cũng đầy ắp những tình
cảm chất chứa tự bên trong. Chính những tình cảm này sẽ đem lại
cho con người những cái nhìn và những ý nghĩ riêng tư. Vậy tình
cảm là gì?
Gã xin trả lời vắn tắt như
sau:
- Tình cảm là thái độ bên
trong của một con người.
Theo Đông phương, tình cảm
của con người được chia thành bảy loại và được gọi là…Thất tình.
Nói đến hai chữ thất tình ở
đây, gã bèn phải lập tức thanh minh thanh nga rằng đó không phải
là sự mất đi tình yêu, nhưng là bảy loại tình cảm mà ai cũng đều
mang trong mình:
- Hỉ là mừng.
- Nộ là giận.
- Ai là buồn.
- Cụ là sợ.
- Ái là yêu.
- Ố là ghét.
- Dục là muốn.
Tác giả “Cung oán ngâm
khúc” đã viết:
- Thà mượn thú tiêu dao cửa
Phật,
Mối thất tình quyết dứt
cho xong.
Trong bảy loại tình cảm
chính, thì ái tức là yêu vốn được bàn dân thiên hạ chiếu cố
và…”ngâm kíu” kỹ lưỡng hơn cả. Tuy nhiên, trong tình yêu thì
cũng có biết bao nhiêu thứ, chẳng hạn:
Tình cha mẹ và con cái:
- Công cha như núi Thái
Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong
nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là
đạo con.
Tình anh chị em:
- Khôn ngoan đối đáp người
ngoài,
Gà cùng một mẹ chớ hoài
đá nhau.
Tình vợ chồng:
- Đôi ta là nghĩa tào
khang,
Xuống khe bắt ốc, lên
đàng hái rau.
Tình thầy trò:
- Không thầy đố mày làm
nên.
Tình bè bạn:
- Bạn bè là nghĩa tương
tri,
Sao cho sau trước, một bề
mới nên.
Tình quê hương đất nước:
- Nhớ nước đau lòng con
quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái
gia gia.
Tuy nhiên, trong các thứ
tình, thì có lẽ cái tình nam nữ và rồi sau đó, cái tình vợ
chồng, là điều hấp dẫn và nắm giữ một vai trò quan trọng trong
cuộc sống, khiến cho người ta phải hao tốn nhiều giấy mực hơn
cả.
Sở dĩ như vậy là vì:
- Tình yêu thì cũ như trái
đất, nhưng lại đổi mới như mỗi độ xuân về.
Cho nên cứ bàn mãi và bàn
hoài, cứ tán tới và tán lui, cũng chẳng bao giờ hết. Và cho đến
bây giờ, người ta vẫn chẳng hiểu cái tình là cái chi chi:
- Đố ai định nghĩa được
tình yêu,
Có nghĩa gì đâu một buổi
chiều…
Mặc dù chẳng hiểu tình yêu
là cái gì, thế nhưng người ta vẫn cứ anh dũng sống cái tình của
mình một cách thơ thới hân hoan, bởi vì nếu không sống cái tình,
thi e rằng chúng ta sẽ lăn đùng ra chết và nhân loại sẽ đi đến
chỗ diệt vong:
- Cái tình là cái chi chi.
Dù chi chi cũng chi chi
với tình.
Trong phạm vi của bài viết
này, gã chỉ xin bàn đến cái tình vợ chồng mà thôi.
Thực vậy, kinh nghiệm của
Phương Tây cho thấy:
- Tương lai hậu vận của một
người tùy thuộc vào một vài lần nói có hay không, được thốt lên
vào lứa tuổi thiếu niên.
Có nghĩa là ngày mai của
chúng ta tùy thuộc vào một vài sự lựa chọn được thực hiện vào
thời điểm chúng ta tập tễnh bước chân vào đời. Chẳng hạn như sự
chọn lựa nghề nghiệp, chọn lựa bậc sống…
Còn kinh nghiệm của Phương Đông cho hay:
- Trong cuộc đời có ba
vấn đề quan trọng nhất, đó là làm nhà, đi thi và lấy vợ lấy
chồng.
Theo gã nghĩ: Việc lấy
vợ lấy chồng là việc chung thân đại sự. Nó không phải chỉ ảnh
hưởng tới cá nhân chúng ta trong một khoảng khắc nào đó, mà hơn
thế nữa, nó còn ảnh hưởng tới cả hai người, tới cả con cái cháu
chắt, trong suốt cuộc đời mình đã đành, mà nhiều khi còn lưu
truyền từ đời này sang đời khác.
Cái tình vợ chồng quan
trọng như vậy, nhưng trong thực tế, có nhiều người quả thật đã
cẩu thả và liều lĩnh, họ dám đi vào hôn nhân mà chẳng có lấy một
sự chuẩn bị tối thiểu nào đó. Và có nhiều cuộc hôn nhân đã thất
bại một cách đắng cay, khiến người ta đã phải thở dài phát biểu:
- Yêu nhau trong ba
tháng, ghét nhau trong ba năm và chịu đựng nhau trong suốt ba
mươi ba năm.
- Vui thú của tình yêu
thì kéo dài trong thoáng chốc, nhưng đau khổ của nó thì sẽ kéo
dài suốt cả cuộc đời.
- Có bao nhiêu vỏ sò
trên bãi biển, thì cũng có bấy nhiêu khổ đau trong tình yêu.
Đây cũng là một kinh
nghiệm sống thực mà gã đã nhiều lần được nghe. Thực vậy, nhìn
vào một gia đình nheo nhóc vì nghèo túng, bất hòa vì vắng bóng
cái tình, những người trong cuộc vốn thường tâm sự vụn với nhau:
- Đi tu như mấy cha,
mấy thày, mấy sơ thế mà lại sướng, chứ còn đèo bòng như tụi mình
khổ lắm, khổ lắm.
Câu nói ấy mặc dù không
hoàn toàn đúng với sự thật, bởi vì bông hồng nào mà chẳng có gai,
cuộc đời nào mà chẳng có những khổ đau cay đắng của nó, chỉ
những người sống trong hoàn cảnh ấy mới nhận thấy và cảm nghiệm
được một cách chính xác và đầy đủ mà thôi, bởi vì:
- Đoạn trường ai có qua
cầu mới hay.
Tuy nhiên, nó cũng nói
lên được những băn khoăn và lo âu, những khắc khoải và khó khăn
của đời sống gia đình.
Một cuộc hôn nhân thất
bại sẽ là một tai họa đớn đau nhất, trái lại, một cuộc hôn nhân
thành công sẽ làm cho cuộc đời được an vui và hạnh phúc. Bởi vì:
Do cái tình, mà có được
sự cộng tác chân thành :
- Chồng như đó, vợ như
hom.
- Trên đồng cạn dưới
đồng sâu,
Chồng cày vợ cấy, con
trâu đi bừa.
Do cái tình, mà có được
sự trợ giúp và bổ túc lẫn nhau :
- Chồng khôn vợ được đi
hài,
Vợ khôn chồng được
nhiều bài cậy trông,
- Hai cái đầu bao giờ
cũng hơn một cái đầu.
Với sự cộng tác và trợ
giúp như vậy, cái tình sẽ đem lại một nguồn nghị lực dồi dào, để
rồi: khó khăn nào cũng có thể vượt qua, thử thách nào cũng có
thể giải quyết như ca dao đã đã bảo:
- Thuận vợ thuận chồng
tát bể đông cũng cạn.
- Yêu nhau tam tứ núi
cũng trèo,
Thất bát sông cũng
lội,
Tứ cửu tam thập lục
đèo cũng qua.
Vắng bóng cái tình,
cuộc hôn nhân chắc chắn sẽ thất bại và đó sẽ là một sự khổ đau,
đắng cay và chua xót nhất. Trái lại, với cái tình, cuộc hôn nhân
chắc chắn sẽ thành công và đó sẽ là một niềm hạnh phúc tuyệt vời
nhất.
Hơn nữa, như bàn dân
thiên hạ đã từng xác quyết :
- Gia đình là con tim
của xã hội.
Nếu con tim mà đau yếu,
toàn thân sẽ mệt mỏi và bải hoải. Nếu gia đình mà lủng củng, xã
hội cũng sẽ tan rã. Thế nhưng, con tim của gia đình là gì nếu
không phải là cái tình vợ chồng ?
Thực vậy, vợ chồng có
yêu thương nhau thì gia đình mới hòa thuận và công việc làm ăn
mới được tốt đẹp. Còn nếu vợ chồng cãi cọ, lục đục với nhau thì
chắc chắn gia đình sẽ rạn vỡ và dần dần sụp đổ.
Tuy nhiên trong gia
đình, muốn được hòa thuận và cảm thông, thì việc làm chính yếu
không phải chỉ là việc làm của chồng hay của vợ, mà phải là việc
làm của cả hai vợ chồng, nghĩa là của cả hai đứa chúng mình.
Chính trong khi hai vợ
chồng cùng nhau cố gắng xây dựng một cuộc đời, một mái ấm chung,
họ sẽ làm cho cái tình thêm nồng thắm. Và với cái tình nồng thắm
ấy, họ lại càng sẵn sàng chấp nhận những hy sinh cho nhau và vì
nhau hơn.
Và đó cũng chính là
chiếc chìa khóa mở ra cho họ cánh cửa hạnh phúc.
Gã Siêu
gasieu@gmail.com
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
- Mọi liên lạc: Ghi danh, thay đổi địa chỉ, đóng góp ý kiến,
bài vở..., xin gởi về địa chỉ
giaosivietnam@gmail.com
- Những nội dung sẽ được đề cao và chú ý bao gồm:
Trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong việc mục
vụ của Giáo sĩ; Những tài liệu của Giáo hội hoặc của các
Tác giả nhằm mục đích Thăng tiến đời sống Giáo sĩ; Cổ võ ơn
gọi Linh mục; Người Giáo dân tham gia công việc “Trợ lực
Giáo sĩ” bằng đời sống cầu nguyện và cộng tác trong mọi lãnh
vực; Mỗi Giáo dân phải là những “Linh mục” không có chức
Thánh; Đối thoại trong tinh thần Bác ái giữa Giáo dân và
Giáo sĩ… (Truyền giáo hay xây pháo đài?)
- Quy vị cũng có thể tham khảo những số báo đã phát hành tại
www.conggiaovietnam.net
Rất mong được sự cộng tác, hưởng ứng của tất cả Quí vị
Xin chân thành cám ơn tất cả anh chị em đã
sẵn lòng cộng tác với chúng tôi bằng nhiều cách thế khác
nhau.
TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam
Lm. Luca
Phạm Quốc Sử
USA
|
|
|
*************
|
|