THẦN HỌC VỀ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN (2)
Trần Hữu Hạnh, fsf
2. Căn tính của đời sống thánh hiến theo Vita Consecrata: thánh hiến và sứ mệnh
Hai chiều kích thánh hiến và sứ mệnh được gắn chặt với nhau, bổ túc cho nhau. Sự thánh hiến bao hàm sứ mệnh, vì việc trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô cũng có nghĩa là tham gia vào sứ mệnh của Ngài. Và sứ mệnh lại dẫn đến thánh hiến, vì việc truyền giáo của đời sống thánh hiến thiết yếu ở chứng tá của chính sự tận hiến (số 76). Chứng tá quan trọng nhất của đời sống thánh hiến là sự thánh thiện (số 32 - 35).
a. Thánh hiến (Phần I: số 14- 40)
Ngay số đầu tiên của phần I này, tông huấn đã cho thấy sự khác biệt giữa sự thánh hiến của phép Rửa và sự thánh hiến của đời tu. Sự thánh hiến của đời tu không phải là hệ quả tất yếu của sự thánh hiến của phép Rửa; vì để bước theo Chúa Kitô, họa lại nếp sống của Ngài, cần phải có một ơn gọi đặc biệt và nhờ một ân huệ đặc biệt của Chúa Thánh Thần. Ơn gọi bao hàm sự tuyển chọn và thánh hiến (số 14, 17, 30, 31). Ân huệ này Thiên Chúa không ban cho tất cả mọi người, như chính Chúa Giêsu đã nói trong trường hợp độc thân tự nguyện (x. Mt 19, 10- 12). Bí tích Rửa tội không bao hàm một ơn gọi sống độc thân, sự từ bỏ của cải và sự vâng lời một bề trên, như trong bậc sống tu trì (số 30b). Mọi tín hữu đều được thánh hiến qua phép Rửa và Thêm sức, những người lãnh tác vụ do bí tích Truyền chức và trong đời sống tu trì “giả thiết một ơn gọi riêng và một hình thái thánh hiến đặc biệt, nhằm chu toàn một sứ mệnh riêng… Những người tận hiến tuyên giữ những lời khuyên Phúc âm, được thánh hiến một cách mới mẻ và đặc biệt, dù không phải là bí tích, nhưng ràng buộc họ chấp nhận lối sống độc thân, khó nghèo và vâng phục mà chính Chúa Giêsu đã sống và đề nghị cho các môn đệ.” (số 31) “Trong truyền thống Giáo hội, việc tuyên khấn của đời sống tu trì được xem như việc đào sâu độc đáo và phong phú sự thánh hiến đã lãnh nhận trong phép Thánh Tẩy. Nhờ việc tuyên khấn ấy, sự kết hợp thâm sâu với Chúa Kitô đã khai mào trong phép Thánh Tẩy, được triển nở thành một hồng ân trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài một cách rõ rệt và trọn vẹn hơn nhờ tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm… Việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm cũng là việc triển khai ân sủng của bí tích Thêm sức, nhưng nó vượt quá những đòi hỏi thông thường của việc thánh hiến nhận trong bí tích này. Vì vậy, cần có một ơn đặc biệt của Chúa Thánh Thần để phát triển những khả năng mới, sản sinh những hoa trái thánh thiện và tông đồ như lịch sử đời sống thánh hiến đã chứng tỏ.” (số 30). Ba bậc sống trong Hội thánh tuy có cách thể hiện khác nhau, nhưng đều là công trình của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần tạo nên sự đa dạng và chính Ngài cũng làm cho Hội thánh trở thành một mối hiệp thông giữa các ơn gọi, đặc sủng và thừa tác vụ (số 31) “Dù ba bậc sống khác nhau, đều biểu lộ mầu nhiệm duy nhất của Chúa Kitô. Giáo dân có đặc tính riêng biệt, tuy không độc hữu, là sinh hoạt trần thế; các chủ chăn có trách nhiệm về tác vụ; còn những người tận hiến thì cố gắng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục.” (số 31; x. số 32)
Nhưng tại sao đời sống thánh hiến không phải là bí tích như các bậc sống khác? Đây là vấn đề đã và vẫn đang được bàn cãi. Chúng ta có thể trả lời rằng không cần thiết để có thêm một bí tích nữa, vì đời sống thánh hiến là một lối sống theo Thần khí để đào sâu thêm, sống triệt để ba bí tích đã có sẵn: các bí tích khai tâm Kitô giáo. Đây là ơn gọi đặc biệt và sứ mệnh của họ giữa dân Thiên Chúa. Thật vậy, đời sống thánh hiến làm nổi bật sự thánh hiến của Kitô hữu (bí tích Rửa tội), sự hiệp thông[2] (bí tích Thánh Thể) và sứ mệnh (bí tích Thêm sức) (số 31b), khi bước theo Chúa Kitô trinh khiết, khó nghèo và vâng phục (số 1a). Vì thế, tông huấn đã khai triển ba phần chính: thánh hiến, hiệp thông và sứ mệnh, để nhấn mạnh đến ý nghĩa cũng như nội dung của chúng. Qua đó, đời sống thánh hiến “biểu lộ rõ ràng bản tính sâu xa của ơn gọi Kitô giáo”, “gắn chặt với nếp sống, sự thánh thiện và sứ mệnh của Giáo hội” (số 3a), “nhắc nhở cho những người đã được rửa tội về các giá trị cơ bản của Tin mừng” (số 33a).
Vatican II xây dựng thần học về đời tu trên nền tảng Kitô học: đời tu là sự hiệp thông với Chúa Kitô, bắt chước Ngài qua việc tuân giữ các lời khuyên Phúc âm. Tông huấn đã đánh dấu một bước tiến mới trong thần học về đời tu khi lấy lại ý niệm “bước theo Chúa Kitô” (số 15, 18) của công đồng và mở rộng đến tương quan với Ba Ngôi. Nói cách khác, tông huấn đào sâu về nguồn gốc Kitô và Ba ngôi của đời sống thánh hiến. Tông huấn khai triển những chiều kích sau:
- Kitô (số 14- 24)
Theo truyền thống Latinh, đời tu được xem như là một đời sống tu thân khắc kỷ, bỏ mình, vác thập giá theo Chúa; nhưng truyền thống Đông phương lại chú trọng đến sự “biến hình”, biến đổi từ con người trần tục sang con người thánh thiêng khi bước theo Chúa. Mối phúc đối với người phương Đông là sự chiêm niệm: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5, 8); còn đối với người phương Tây là “phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.” (Mt 5, 7) Đức Gioan Phaolô II đã dung hòa hai cái nhìn trên khi sử dụng khung cảnh Chúa Giêsu biến hình trên núi (Mt 17, 1- 9) làm sườn cho cả văn kiện (số 14- 16): chủ đề thập giá và vinh quang liên kết với nhau trong mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô. Con đường tu đức không chỉ là con đường khổ chế, mà còn được coi như là cuộc đi tìm cái đẹp. Người tận hiến trải qua kinh nghiệm của ngôn sứ Giêrêmia: “Lạy Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con để cho Ngài quyến rũ” (Gr 20, 7) (số 19). Người tu sĩ bị thu hút bởi vẻ đẹp của Chúa, say mê chiêm ngưỡng Chúa, ở kề bên Chúa, đàm đạo với Ngài, để rồi phản chiếu dung nhan rạng ngời của Ngài (số 27). Sau khi chiêm ngắm Chúa biến hình, các môn đệ còn phải trèo lên núi Sọ (số 14, 40). Giống như Chúa Giêsu, họ cần phải qua núi Sọ để bước vào vinh quang khải hoàn. Thật vậy, đời sống thánh hiến phải được coi như là một cuộc “biến hình,” bước theo Chúa Kitô khiết tịnh, khó nghèo và vâng lời (số 14, 16, 18, 22), trở nên “đồng hình đồng dạng” với Chúa Kitô (số 16) và tham dự vào mầu nhiệm thập giá và phục sinh của Ngài (số 23- 24).
Tuy khung cảnh “biến hình” thích hợp với phương Đông hơn là phương Tây, nhưng tông huấn đã kết hợp Đông- Tây, hai lá phổi của Giáo hội, một cách rất hài hòa và sinh động: phương Đông “lên núi”, chiêm ngắm để hưởng vinh quang với Chúa; còn phương Tây “xuống núi”, trở về với thực tại cuộc sống và “phục vụ”, can đảm dấn bước trên con đường thập giá (số 14c). Sự khác biệt giữa Đông và Tây tạo nên sự phong phú cho Giáo hội.
Tóm lại, tông huấn trình bày thần học về đời sống thánh hiến với tất cả vẻ đẹp của nó trong khung cảnh Chúa Giêsu biến hình trên núi; đồng thời, việc chiêm ngắm dung mạo Chúa Kitô biến hình giúp người tận hiến cố gắng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, tìm cách diễn lại nơi chính mình, chừng nào có thể, “nếp sống Con Thiên Chúa đã chọn khi Ngài xuống thế” (số 16), để mọi người có thể nhận thấy Chúa Kitô nơi khuôn mặt và cuộc sống của họ (một cuộc sống “biến hình”). Tông huấn tô đậm chiều kích Kitô của đời sống thánh hiến, nhưng chiều kích Kitô này là một chiều kích Kitô Ba Ngôi như chúng ta thấy dưới đây
- Ba Ngôi (số 17- 19)
Khía cạnh Ba Ngôi của đời sống thánh hiến được tông huấn triển khai khi nói về nguồn gốc của sự thánh hiến (số 17- 19), các lời khuyên Phúc âm (số 20- 21), đoàn sủng (số 36), hiệp thông cộng đoàn (số 41), huấn luyện (số 66), sứ mệnh (số 72), và kinh nguyện dâng lên Ba Ngôi (số 111).
Việc trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô đương nhiên bao hàm tương quan với Ba Ngôi Thiên Chúa, vì Chúa Kitô đã sống trọn tình con thảo với Chúa Cha. Thật vậy, ngay từ đầu, tông huấn đã xác định nguồn gốc Ba Ngôi của đời sống thánh hiến: “Đời sống thánh hiến, bén rễ sâu trong gương mẫu và giáo huấn của Chúa Kitô, là một ân huệ của Thiên Chúa Cha ban cho Giáo hội qua Chúa Thánh Thần… Trải qua các thời đại, luôn có những người sẵn sàng nghe theo tiếng gọi của Chúa Cha, dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, đã chọn con đường đặc biệt để bước theo Chúa Kitô.” (số 1) Đời sống thánh hiến hiện hữu không chỉ nhờ Ba Ngôi, mà còn vì Ba Ngôi và cho Ba Ngôi. Ba Ngôi chính là nguồn gốc, cùng đích và kiểu mẫu của đời sống thánh hiến. Thật vậy, Ba Ngôi hiện diện trong tất cả nội dung nền tảng của đời sống thánh hiến: các lời khuyên Phúc âm (số 20- 21), đời sống cộng đoàn (số 41, 42, 72) và sứ mệnh (số 22, 72, 75); trong hành trình của đời sống tu: ơn gọi (số 17), “bước theo Chúa Kitô” (số 18) và thánh hiến (số 19); và trong những đặc tính của các đặc sủng (số 36). Do vậy, đời sống thánh hiến trở thành việc tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi (Confessio Trinitatis) (số 16d), việc tuyên xưng và dấu chỉ của Thiên Chúa Ba Ngôi (số 21f, 20b).
Sự kêu gọi và thánh hiến là do sáng kiến của Chúa Cha. Ngài tách riêng một ai đó cho Ngài (số 17). Bước theo Chúa Kitô, được thánh hiến nhờ tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm, trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài. Ngài là con đường dẫn tới Chúa Cha và sứ mệnh (số 18). Các đặc sủng, sự thánh hiến và sứ mệnh là công việc của Chúa Thánh Thần (số 19). Có thể tóm tắt nguồn gốc Ba Ngôi của đời sống thánh hiến như sau: sáng kiến ban đầu phát xuất từ Chúa Cha (số 17), sự đáp trả qua việc bước theo Chúa Kitô (số 18) và được thánh hiến bởi Chúa Thánh Thần (số 19):
+ Trong tương quan với Thiên Chúa Cha (số 17): Sự thánh hiến là một hồng ân, hoàn toàn do sáng kiến phát xuất từ tình yêu của Thiên Chúa Cha (x. Ga 15, 16). Chính Ngài đã tuyển chọn và thánh hiến. Ngài mời gọi con người tiến lên trên đường trọn lành qua việc bước theo Chúa Kitô, vâng nghe lời Con yêu dấu của Ngài (x. Mt 17, 5). Để đáp trả tiếng gọi tình yêu huyền nhiệm đó, con người muốn dâng hiến toàn thân cho Ngài và cho chương trình cứu độ của Ngài (x. 1Cr 7, 32- 34). Sự tận hiến diễn ra trong khung cảnh của một giao ước tình yêu.
+ Trong tương quan với Chúa Kitô (số 18): Chúa Kitô là con đường dẫn tới Chúa Cha (x. Ga 15, 16). Chúa Kitô kêu gọi một số người bước theo Ngài, họa lại nếp sống của Ngài, trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài qua việc sống triệt để các lời khuyên Phúc âm, hoàn toàn hiến thân để phụng sự Thiên Chúa và tha nhân.
+ Trong tương quan với Chúa Thánh Thần (số 19): Trong khung cảnh biến hình (x. Mt 17, 5), đám mây là hình ảnh của Chúa Thánh Thần. Đời sống thánh hiến là một ân huệ do Chúa Thánh Thần, nguồn gốc của mọi đặc sủng, khơi gợi lên. Chính Ngài gợi lên nguyện ước đáp trả trọn vẹn, làm cho họ nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục, thúc đẩy họ đảm nhận sứ mạng của Chúa Kitô.
+ Tương quan với Ba Ngôi qua các lời khuyên Phúc âm (số 16- 21):
* Ba lời khuyên Phúc âm họa lại nếp sống của Chúa Kitô (số 18; x. 14a, 16c, 22ab, 29c, 31d, 111c).
* Giá trị phong phú của các lời khuyên Phúc âm được đặt trong mối tương quan với Chúa Cha (giá trị tuyên xưng Chúa Kitô) (số 16c): sự khiết tịnh bắt chước tình yêu thanh khiết của Chúa Kitô và tuyên xưng Ngài là Con Một, đồng nhất với Chúa Cha (x. Ga 10, 30; 14, 11); sự khó nghèo tuyên xưng Chúa Kitô là Con, lãnh nhận mọi sự từ Chúa Cha và dâng mọi sự lại cho Chúa Cha vì yêu thương (x. Ga 17, 7. 10); sự vâng phục tuyên xưng Chúa Kitô là Con rất yêu dấu của Chúa Cha, luôn vui thích thi hành ý muốn của Chúa Cha (x. Ga 4, 34).
“Do việc trở nên đồng hình đồng dạng với mầu nhiệm Chúa Kitô như thế, đời sống thánh hiến thực hiện với một tư cách đặc biệt việc tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi, đặc tính của mọi đời sống Kitô hữu: nhận biết với lòng kính phục vẻ đẹp tuyệt vời của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, cùng hoan hỉ làm chứng về sự quan tâm yêu thương của Thiên Chúa dành cho mọi người.” (số 16d)
* Ba lời khuyên Phúc âm là một ân huệ của Thiên Chúa Ba Ngôi (số 20a). “Đời sống thánh hiến trở thành một trong những dấu ấn hữu hình mà Thiên Chúa Ba Ngôi để lại trong lịch sử, hầu mọi người có thể nhận ra được sức hấp dẫn mê hoặc của vẻ đẹp thần linh.” (số 20b)
* Ba lời khuyên Phúc âm biểu lộ tình yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha trong sự hợp nhất với Chúa Thánh Thần. Khi thực hiện các lời khuyên này, người được thánh hiến sống một cách hết sức sinh động đặc tính Ba ngôi và Kitô, là dấu ấn của toàn thể đời sống Kitô hữu (số 21):
“Sự khiết tịnh biểu lộ sự dâng hiến một con tim không chia sẻ cho Thiên Chúa[3] (x. 1Cr 7, 32- 34), phản ánh tình yêu liên kết Ba Ngôi Thiên Chúa trong đời sống sâu thẳm nhiệm mầu của Ba Ngôi, tình yêu mà Ngôi Lời Nhập Thể làm chứng cho đến hy sinh mạng sống, tình yêu được Chúa Thánh Thần ‘đổ tràn vào lòng chúng ta’ (Rm 5, 5) và thúc giục chúng ta đáp trả bằng tình yêu trọn vẹn dành cho Thiên Chúa và cho anh chị em.” (số 21b; x. số 22b)
“Sự khó nghèo tuyên xưng Thiên Chúa là kho tàng đích thực duy nhất của con người. Noi gương Chúa Kitô, ‘Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó’ (2Cr 8, 9), sự nghèo khó trở thành một cách diễn tả sự dâng hiến toàn thân như Ba Ngôi Thiên Chúa trao ban trọn vẹn cho nhau. Sự trao ban dạt dào ấy trào ra trong công cuộc sáng tạo và biểu lộ cách sung mãn trong sự Nhập thể của Ngôi Lời và trong cái chết cứu chuộc của Người.” (số 21c)
Sự vâng phục, noi gương Chúa Kitô, lấy thánh ý Chúa Cha làm lương thực (x. Ga 4, 34), tuyên xưng tình yêu hòa hợp của Ba Ngôi Thiên Chúa, biểu lộ một sự vâng phục hiếu thảo chứ không phải nô lệ (số 21d; x. số 22b; 16c)
“Bởi đó, đời sống thánh hiến được mời gọi không ngừng đào sâu ân huệ của các lời khuyên Phúc âm, bằng một tình yêu ngày càng chân thành và mãnh liệt hơn trong chiều kích Ba Ngôi: tình yêu của Chúa Kitô, mời gọi sống thân mật với Ngài; tình yêu của Chúa Thánh Thần, chuẩn bị tâm hồn đón nhận những linh hứng của Ngài; tình yêu của Chúa Cha, nguồn mạch đầu tiên và mục tiêu tối thượng của đời sống thánh hiến. Như thế, đời sống thánh hiến trở nên lời tuyên xưng và dấu chỉ về Ba Ngôi Thiên Chúa, mầu nhiệm được tỏ bày cho Giáo hội như mẫu mực và nguồn mạch của mọi hình thức đời sống Kitô hữu.” (số 21e)
Không phải ngẫu nhiên khi tông huấn đặt đời sống huynh đệ trong cộng đoàn nằm ngay sau ba lời khuyên Phúc âm trong số 21[4] này (số 21f), vì một số tác giả ngày nay coi đời sống huynh đệ như là “lời khuyên Phúc âm thứ tư”. Ngoài ra, tông huấn còn nối kết ba lời khuyên Phúc âm với đời sống huynh đệ trong các số 72d, 85a, và 88-92. Thật vậy, giống như ba lời khuyên Phúc âm, đời sống huynh đệ cũng có giá trị tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi: đời sống huynh đệ tuyên xưng Chúa Cha, Đấng muốn cho mọi người thành một gia đình duy nhất; tuyên xưng Chúa Con Nhập Thể, Đấng muốn qui tụ những người được cứu chuộc; tuyên xưng Chúa Thánh Thần là nguyên lý hiệp nhất trong Giáo hội (số 21f).
Các lời khuyên Phúc âm được tông huấn trình bày như là cốt lõi của đời sống thánh hiến. Tông huấn không triển khai những khía cạnh bên ngoài như pháp lý, khổ hạnh, luân lý,…, thường được nói đến trong các văn kiện trước đấy (x. LG 39, 42; CCC 915); nhưng đào sâu về thần học: chiều kích thần bí (Kitô và Ba Ngôi) của ba lời khuyên Phúc âm. Mọi sự biểu lộ ra bên ngoài của các lời khuyên Phúc âm đều phải là kết quả của sự kết hợp thâm sâu bên trong này. Các lời khuyên Phúc âm không nên hiểu và sống như những phương tiện để thanh luyện hoặc khổ chế, nhưng như là kinh nghiệm, sự biến đổi và hậu quả của “ước muốn được hoàn toàn trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô” (số 18c), “trở nên một với Ngài, mặc lấy tâm tình và nếp sống của Ngài.” (18b) Chiều kích thần bí này đã được nói đến trong một số văn kiện trước đó (x. EE 14, 15; RD 7b; PI 12), nhưng tông huấn đã mở rộng và làm phong phú thêm.
Tóm lại, Chúa Kitô là “Tảng đá góc” (Ep 2, 20), nhưng đó là Kitô Ba Ngôi. Bên cạnh đó, tông huấn qui chiếu về Chúa Thánh Thần hơn 100 lần và Chúa Cha hầu như được nói đến trong khắp tông huấn. Đây cũng là một sự tổng hợp Đông- Tây của tông huấn: Đông có khuynh hướng thiên về chiều kích Ba Ngôi và Tây lại chú trọng đến việc bước theo Chúa Kitô.
- Đức Maria (số 23, 28, 34, 112)
Tông huấn trình bày Đức Maria như là mẫu gương của đời sống thánh hiến:
+ Mẫu gương tuyệt vời của việc thánh hiến hoàn hảo, vì Mẹ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và hiến thân trọn vẹn cho Ngài (số 28)
+ Mẫu gương trong việc bước theo Chúa Kitô (số 28)
+ Mẫu gương trong việc thông dự vào mầu nhiệm Vượt Qua: can trường trước thử thách khi đứng gần thập giá Chúa Giêsu (x. Ga 19, 25- 27) (số 23)
+ Mẫu gương của một tình yêu phong nhiêu đặc biệt, góp phần vào việc sinh ra và tăng triển sự sống thần linh trong các tâm hồn (số 34).
Ngoài ra, Đức Maria còn là Mẹ của các người tận hiến, cầu bầu cho họ trung thành với ơn gọi và trợ giúp họ rất hữu hiệu để tiến tới trong việc đáp trả và sống sung mãn ơn gọi của mình. Vì thế, tông huấn kết thúc với lời khẩn cầu Đức Trinh nữ Maria (số 112).
- Giáo hội (số 3, 25, 26, 29, 32- 34)
Đời sống thánh hiến nằm trong bản chất thánh thiện của Giáo hội. Giáo hội có sứ mệnh chuyển thông Chúa Kitô cho nhân loại: không chỉ thông truyền những lời giảng, nhưng còn cả nếp sống của Ngài nữa. Do đó, đời sống thánh hiến, xét theo bản tính (họa lại nếp sống của Chúa Kitô trinh khiết, khó nghèo và vâng phục), gắn chặt với đời sống và sự thánh thiện của Giáo hội (số 3, 29), thuộc về cơ cấu thần thiêng của Giáo hội (số 30- 31). Đời sống thánh hiến họa lại nếp sống của Chúa Kitô trinh sạch, khó nghèo và vâng phục- nếp sống biểu lộ tình con thảo của Ngài với Chúa Cha (số 1a, 16, 18, 21...), nên nó có vị trí ưu việt trong Hội thánh, là một ân huệ qúi báu và cần thiết cho hiện tại và tương lai của dân Thiên Chúa (số 3, 18, 32, x. 105). Giáo hội cần họ để họa lại nếp sống của Con Thiên Chúa. Sứ mệnh của đời sống thánh hiến là làm chứng bằng chính đời sống thánh thiện (số 32- 35). Thêm vào đó, đời sống thánh hiến còn biểu lộ mối tình duy nhất của Giáo hội dành cho Đức Lang Quân (số 3, 34). Như thế, đời sống thánh hiến gắn liền với sứ mệnh (số 1, 25) và cánh chung của toàn thể Giáo hội (số 26).
Tông huấn khẳng định một cách rõ ràng tầm quan trọng và sự cần thiết của đời sống thánh hiến đối với Giáo hội (số 3, 6, 18,29, 32, 105). Mặc dù tông huấn cũng coi tất cả mọi Kitô hữu đều bình đẳng như nhau, cùng có chung một phẩm giá, cùng được kêu gọi nên thánh (số 31b, 18b) và mỗi người đều làm phong phú người khác (số 33b), nhưng tông huấn cho thấy vị trí trổi vượt của đời sống thánh hiến, vì người được thánh hiến sống triệt để nếp sống mà Chúa Giêsu đã sống khi được Chúa Cha sai đến thế gian.
b. Đặc sủng / Sứ mệnh (số 72- 103)
Sứ mệnh của đời sống thánh hiến (phần III) được xem như là sự phục vụ bác ái (Servitium caritatis). Biểu tượng chính ở đây là Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ của Ngài (số 75). Phần này là sự kết hợp giữa thần học và mục vụ.
Chủ đề “biến hình” trong tông huấn không những được nối kết với việc say mê chiêm ngưỡng dung nhan rạng ngời của Chúa, mà còn liên hệ tới sứ mệnh truyền giáo nữa. Sau khi chiêm ngắm Chúa biến hình, các môn đệ được mời gọi xuống núi để phục vụ (số 75). Ngay tựa đề của phần này, “Phục vụ bác ái- Biểu lộ tình yêu Thiên Chúa giữa thế gian”, đã cho thấy tông huấn không chỉ đào sâu về thánh hiến, nhưng còn nhấn mạnh đến sứ mệnh của đời sống này trong thế giới nữa.
Đặc sủng luôn gắn liền với sứ mệnh truyền giáo. Đặc sủng của đời sống thánh hiến nói chung và của mỗi hội dòng (nhận được qua đấng sáng lập) là ân huệ của Chúa Thánh Thần (số 1, 5, 19, 25, 32, 36, 48). Chúa Thánh Thần là nguồn gốc mọi ơn gọi tận hiến, nên cần phải trung thành sáng tạo với đặc sủng/đoàn sủng (số 36, 37, 73, 74), khi canh tân việc huấn luyện (số 65, 68, 71, 80), sống linh đạo (số 37, 93) và hoạt động tông đồ (số 48, 63, 72).
Tông huấn trình bày đặc sủng trong mối quan hệ với Thiên Chúa Ba Ngôi: “Mọi đặc sủng đều bao hàm ba định hướng: trước tiên, hướng về Chúa Cha, với lòng con thảo muốn tìm kiếm thánh ý Cha trong sự hoán cải liên tục, nơi mà sự vâng phục là nguồn mạch tự do đích thực, sự khiết tịnh biểu lộ niềm thao thức của một con tim không thể thỏa mãn bởi bất cứ tình yêu hữu hạn nào, sự khó nghèo nuôi dưỡng lòng đói khát công chính mà Thiên Chúa đã hứa ban cho thỏa lòng (x. Mt 5, 6). Trong viễn tượng này, đặc sủng của bất cứ hội dòng nào cũng thôi thúc người được thánh hiến thuộc trọn về Chúa… Các đặc sủng của đời sống thánh hiến cũng hướng về Chúa Con: các đặc sủng mời gọi duy trì một sự hiệp thông với Ngài trong đời sống thân mật vui tươi, noi gương Ngài quảng đại phụng sự Thiên Chúa và phục vụ anh chị em… Sau cùng, bất cứ đặc sủng nào cũng hướng về Chúa Thánh Thần, vì mọi đặc sủng đều mời gọi con người hãy để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn và nâng đỡ trên con đường thiêng liêng riêng biệt, cũng như trong đời sống hiệp thông và hoạt động tông đồ… Thật vậy, chính trong mối tương quan ba chiều này mà những đặc sủng sáng lập dòng xuất hiện, dù dưới những nét riêng biệt của các hình thức sống khác nhau, bởi vì đặc sủng nào cũng nổi bật niềm khát vọng sâu xa của tâm hồn muốn được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, để làm chứng về một khía cạnh nào đó thuộc mầu nhiệm của Ngài. Khía cạnh đó được cụ thể hóa và phát triển trong truyền thống trung thực nhất của hội dòng, phù hợp với quy luật và hiến pháp.” (số 36)
Đời sống thánh hiến được đặt ở ngay trung tâm của Hội thánh như là một yếu tố quyết định cho sứ mệnh của Hội thánh. Chính Thần khí thúc đẩy họ đảm nhận sứ mệnh của Chúa Kitô. Thật vậy, ý thức về truyền giáo thấm sâu vào tận huyết mạch của mọi hình thức tu trì. Nó bao trùm mọi khía cạnh của đời sống họ. Sự thánh hiến luôn ẩn chứa một sứ mệnh và đặc sủng luôn gắn liền với sứ mệnh đặc biệt của mỗi hội dòng. Bởi vậy, việc truyền giáo là điều cốt yếu đối với mọi hội dòng, cả những hội dòng chuyên lo làm việc tông đồ, lẫn những hội dòng sống đời chiêm niệm. Ý thức truyền giáo luôn là ưu tiên số một của mọi hình thức tu trì (số 19, 25, 72).
Sứ mệnh truyền giáo của đời sống thánh hiến được tông huấn đề cập ở phần III này (32 số, nhiều hơn các phần khác), nhưng phần I (27 số) và II (31 số) cũng được liên kết với sứ mệnh truyền giáo: thánh hiến bao hàm sứ mệnh truyền giáo (số 14, 18, 19, 21, 22, 25, 27,…) và sự hiệp thông dẫn đến sứ mệnh và chính nó trở thành sứ mệnh truyền giáo (số 46, 47, 51,…). Thánh hiến và sứ mệnh không thể tách rời. Cả hai trở nên một trong sự hiệp thông: sống sự hiệp thông sâu xa là truyền giáo (số 46a). Chính ở đây mà đời sống thánh hiến biểu lộ tình yêu Thiên Chúa trong thế giới.
Theo tông huấn, sứ mệnh truyền giáo của đời sống thánh hiến bao gồm ba yếu tố: thánh hiến, đời sống cộng đoàn và sứ mệnh đặc biệt của mỗi hội dòng (số 72, 25). Qua số 72, chúng ta thấy mọi sự đều liên quan đến sứ mệnh: việc bắt chước Chúa Kitô, trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, chứng tá cộng đoàn và cá nhân, ơn gọi, đặc sủng, các lời khuyên Phúc âm, đời sống huynh đệ trong cộng đoàn, những hoạt động đặc biệt của mỗi hội dòng,… Tất cả đều được nối kết với sứ mệnh. Không một khía cạnh nào có thể được hiểu và sống riêng rẽ được.
Phản ánh đời sống Ba ngôi trong các lời khuyên Phúc âm, họa lại nếp sống của Chúa Kitô đã là một sự truyền giáo rồi. Bên cạnh đó, đời sống huynh đệ loan báo rằng nước Thiên Chúa đã hiện diện trên trần gian rồi (số 21, 22c, 73, 85a,...). Mỗi hội dòng còn có một sứ mệnh truyền giáo riêng biệt, tùy theo đặc sủng của mình (số 72, x. 46a)…
“Người tận hiến càng sống một đời hoàn toàn hiến dâng cho Chúa Cha (x. Lc 2, 49; Ga 4, 34), được Chúa Con chiếm hữu (x. Ga 15, 16; Gl 1, 15- 16), được tác động bởi Chúa Thánh Thần (x. Lc 24, 49; Cv 1, 8; 2, 4), thì càng cộng tác hữu hiệu vào sứ mệnh của Chúa Kitô (x. Ga 20, 21) và góp phần đặc biệt vào việc canh tân thế giới.” (số 25) Những người tận hiến luôn phải nuôi dưỡng ngọn lửa nhiệt thành truyền giáo. Họ cần “làm cho Chúa Kitô khiết tịnh, khó nghèo, vâng phục, đang cầu nguyện cũng như đang rao giảng về nước Thiên Chúa, được hiện diện ngay cả giữa những người không phải là Kitô hữu.” (số 77).
Việc họa lại nếp sống của Chúa Kitô đương nhiên kèm theo việc họa lại trót tâm tình của Ngài, tận hiến hoàn toàn cho việc phục vụ nước Thiên Chúa. Giống như Chúa Giêsu, Người được Cha thánh hiến và sai đến thế gian (x. Ga 10, 36), những người được Thiên Chúa kêu gọi, cũng được thánh hiến và sai đến thế gian để noi gương Người và tiếp tục sứ mệnh của Người (số 3, 18, 22, 25, 27, 72- 75.
“Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng ta” ( 2 Cr 5, 14): những người được thánh hiến cần lập lại lời xác quyết này với thánh Phaolô, bởi vì sứ mệnh của họ là hoạt động khắp nơi trên trái đất để củng cố và mở rộng nước của Chúa Kitô, rao giảng Tin mừng ở khắp mọi nơi, cả những nơi xa xôi hẻo lánh nhất.” (số 78).
Tông huấn lược qua một số môi trường hoạt động tông đồ truyền thống, nhưng cũng đang gây ra những thách đố cho tu sĩ ngày nay, như việc truyền giáo cho lương dân (số 77- 78), việc hội nhập văn hóa (số 79- 80), phục vụ người nghèo và người bệnh (số 82- 83), giáo dục (số 96- 97), truyền thông xã hội (số 99), đối thoại đại kết và liên tôn (số 100- 103).
Cách đặc biệt, đời sống thánh hiến phải trở thành dấu chỉ/chứng tá (số 15, 25, 27, 32-35, 76, 85, 92, 104- 105) và ngôn sứ (số 33a, 39, 84- 95) trong thế giới hôm nay.
- Dấu chỉ/chứng tá
Việc truyền giáo của đời sống thánh hiến thiết yếu ở chứng tá của chính sự tận hiến của họ (số 76). Chứng tá quan trọng nhất của đời sống thánh hiến là sự thánh thiện (số 32 - 35). Chứng tá của tình yêu thánh hiến hệ tại ở việc sống thân mật với Thiên Chúa, cảm nghiệm được tình yêu sâu thẳm của Ngài và cố gắng đáp lại tình yêu đó bằng đời sống noi gương Chúa Kitô trinh khiết, khó nghèo và vâng phục một cách triệt để. Việc họa lại nếp sống của Chúa Kitô làm cho Chúa Kitô luôn sống động trong cuộc sống.
Nền văn hóa hiện nay thường dễ bị tục hóa, nhưng lại rất dễ nhạy cảm với ngôn ngữ của các dấu chỉ (số 25). Việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm biến những người tận hiến trở thành dấu chỉ ngôn sứ cho cộng đoàn anh/chị em họ và cho thế gian (số 15). Nhờ đoàn sủng của họ, những người tận hiến trở thành dấu chỉ của Thánh Thần hướng về một tương lai mới mẻ trong niềm tin và hy vọng. Sự mong đợi cánh chung này trở thành sứ mệnh để cho triều đại nước Thiên Chúa có thể hiện diện ngay từ bây giờ, qua việc thiết lập tinh thần các mối phúc, có khả năng khơi lên trong xã hội loài người lòng khát khao đích thực về công bằng, hòa bình, tình liên đới và sự khoan dung (số 27). Bên cạnh đó, đời sống cộng đoàn[5] là một dấu chỉ của mối dây liên kết, dấu chỉ sáng ngời của tình phụ tử duy nhất đến từ Thiên Chúa, của tình huynh đệ phát xuất từ Thánh Thần (số 92).
- Ngôn sứ
Sự liên kết với người nghèo và người bị áp bức đã dẫn Chúa Giêsu đến chỗ đối đầu với những người có quyền thế. Tính cách ngôn sứ của đời sống thánh hiến “tham gia đặc biệt vào chức vụ ngôn sứ của Chúa Kitô” và nó “gắn liền với đời sống thánh hiến, vì nó đòi buộc phải triệt để theo Chúa Kitô.” Công đồng coi đời sống thánh hiến như là dấu chỉ, “một dấu chỉ có tính ngôn sứ về vị thế trổi vượt của Thiên Chúa và của những giá trị Tin mừng trong đời sống Kitô hữu. Chính do vị thế trổi vượt này, không có gì đáng kể hơn là mối tình dành riêng cho Chúa Kitô và cho những người nghèo, vì lẽ Chúa Kitô đang sống nơi họ.” (số 84) Người tận hiến sống mật thiết với Chúa đến độ trở thành phát ngôn viên của Ngài.
Trong thế giới hiện nay, dấu vết về Thiên Chúa dường như bị xóa nhòa, nên cần có một chứng tá ngôn sứ mãnh liệt từ phía những người được thánh hiến. Đặc biệt, người tu sĩ ngày nay cần có câu trả lời ngôn sứ cho ba thách thức của xã hội đương thời: nền văn hóa hưởng thụ phá bỏ mọi qui luật luân lý khách quan của tính dục, chủ nghĩa vật chất ích kỷ, và những quan niệm lệch lạc về tự do. Qua việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm, họ trả lời bằng thái độ và hành động ngôn sứ trong việc vui vẻ thực hành đức khiết tịnh hoàn hảo, như chứng tá về quyền năng của tình yêu Thiên Chúa trong sự mỏng dòn của thân phận con người; trong việc bước theo Chúa Kitô nghèo khó, làm chứng cho Thiên Chúa, kho tàng đích thực của trái tim con người, và luôn sống trong sự liên kết với người nghèo, chia sẻ điều kiện sống của những người cùng khốn nhất; và trong việc tuân phục thánh ý Chúa Cha, để cùng nhau tiến bước trong sự hiệp thông huynh đệ (số 85- 92).
Sứ mệnh truyền giáo của đời sống thánh hiến được nói đến ở mọi nơi trong tông huấn, ngay từ số đầu tiên. Mọi sự đều được hiểu trong mối quan hệ với sứ mệnh. Mọi sự đều qui về sứ mệnh. Mọi sự đều trở thành sứ mệnh. Sứ mệnh bao trùm toàn bộ đời sống của những người tận hiến.
Tóm lại, các văn kiện về đời tu không đưa ra định nghĩa đầy đủ và chính xác về đời sống thánh hiến, nhưng đào sâu yếu tố nền tảng, nguồn gốc của nó cũng như chỗ đứng của đời sống này trong Hội thánh. Tông huấn Vita Consecrata đúc kết những khuynh hướng khác nhau về thần học và mục vụ trong suốt 30- 35 năm, kể từ công đồng Vatican II, trong một tổng hợp mới giữa Đông và Tây, dựa trên nền tảng Ba Ngôi, thấm đậm Kitô và sự hiệp thông của Giáo hội. Đặc biệt, tông huấn nối kết hai ý niệm thánh hiến và sứ mệnh: thánh hiến và sứ mệnh bổ túc cho nhau và đan quyện vào nhau, tạo nên căn tính của đời sống thánh hiến. Không thể hiểu cái này nếu không có cái kia. Người tận hiến không thể yêu Chúa, mà lại không yêu người thân cận (x. Mt 22, 34-40; 1Ga 4, 20-21). Thánh hiến bao hàm sứ mệnh: thánh hiến để được sai đi. Sứ mệnh lại dẫn đến thánh hiến, vì chứng tá quan trọng nhất của đời sống thánh hiến là sự thánh thiện (số 32 - 35). Sự thánh hiến, trước tất cả, là hành động của Chúa Cha; bước theo Chúa Kitô trên con đường đến với Chúa Cha và phục vụ kế hoạch cứu độ của Chúa Cha; Chúa Thánh Thần, nguồn gốc mọi đặc sủng, cụ thể hóa sứ mệnh của đời sống thánh hiến trong những tình huống lịch sử của nhân loại.
Mặc dù đang đứng trước cuộc khủng hoảng về ơn gọi do lối sống “buông thả” của nhiều tu sĩ, tông huấn coi đó như là “những cám dỗ” cần phải vượt qua (số 2, 13, 38, 43b, 46b, 70) và phó thác vào lòng thương xót của Thiên Chúa (số 70, 110a). Bởi đó, tông huấn mang một giọng văn tích cực: tạ ơn Chúa vì những hồng ân Ngài đã ban cho Giáo hội qua đời sống thánh hiến, khuyến khích các người tận hiến can đảm hướng đến tương lai để sống trọn vẹn sự dâng hiến của mình cho Thiên Chúa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- J. Rovira, cmf. The Post-Synodal Apostolic Exhortation “Vita Consecrata.” Philippines, Quezon City: ICLA, 2005.
- M. Ngọc Đính (Chuyển ngữ). Đời tu dưới ánh sáng công đồng Vatican II & Giáo luật, Quyển I. The Daughters of St. Paul, 1986.
- Phan Tấn Thành. Giải Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 3, Các Hội Dòng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ. Rôma, 1993, tr. 390-402; 415-425.
- Văn kiện Đời tu- Theo Chúa Kitô, 2002.
- Bình Hòa. “Thần học về Đời sống thánh hiến”. Thời sự Thần học, số 8, tháng 6/97, tr. 7- 25.
[1] Nhưng đó cũng không phải là những vấn đề đơn giản, vì cho tới nay (2006) vẫn chưa có những giải pháp.
[2] Bí tích Thánh Thể là nguyên nhân, nền tảng và là con đường dẫn tới sự hiệp thông trong Giáo hội: hiệp thông với Chúa Kitô và hiệp thông giữa các tín hữu (x. LG 11a, PO 6a, AG 9b, VC 30ab, 31b, 95b).
[3] Thiên Chúa như là nguồn gốc, trung tâm và cùng đích của đời sống thánh hiến.
[4] Tựa đề của số 21 là “Phản ánh đời sống Ba Ngôi trong các lời khuyên Phúc âm.”
[5] X. FLC 54-57: đời sống huynh đệ trong cộng đoàn là một sự truyền giáo.
Lm JB Trần Hữu Hạnh fsf.
- dongcong.net sưu tầm