dongcong.net
 
 

Bài vở góp nhặt về Linh Mục, Giám Mục


TRUYỀN GIÁO (2)
 
JB. Trần Hữu Hạnh, fsf
2007

Bài 2
NỀN TẢNG THẦN HỌC CỦA SỨ VỤ

Sứ mệnh mà Chúa Giêsu đã thể hiện nơi trần gian cũng là sứ mệnh của mỗi người chúng ta, vì chúng ta là Thân Thể của Ngài. Những gì Ngài đã thể hiện trong thân xác Ngài, ngày nay chúng ta tiếp nối như Thân Thể linh thiêng của Ngài là Giáo hội. Ngài muốn cứu độ con người thoát ách tội lỗi và hòa giải họ với Thiên Chúa. Ngài đã biến đổi chúng ta từ thù nghịch, trở thành bạn hữu của Ngài và giao cho chúng ta nhiệm vụ đem tất cả mọi người cũng trở thành bạn hữu của Ngài (x. 2Cr 5, 18).

I. SỨ VỤ CỦA GIÁO HỘI TRƯỚC VATICAN II 
Nói chung, trước công đồng Vatican II, sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội được xem như là việc rao giảng Tin mừng cho những người chưa biết Chúa để cứu họ và “vun trồng” Giáo hội. Sự thành công của sứ mệnh được đo lường bằng con số của những người trở lại đạo, vì chỉ như vậy họ mới được rỗi linh hồn và Giáo hội mới được mở rộng. Do đó, thần học về sứ mệnh đã được xây dựng dựa trên châm ngôn: “Ngoài Giáo hội, không có ơn cứu độ.”[25]  

Toàn bộ thế giới được phân chia thành hai nhóm: những người nắm được các phương tiện cứu độ và những người không có những phương tiện đó. Hay nói cách khác, những người ở trong Giáo hội và những người ngoài Giáo hội. Giáo hội đối nghịch lại với thế giới như là sự thánh thiêng đối với thế tục. Giáo hội có khuynh hướng đồng hóa mình với nước Thiên Chúa. Tất cả những điều này đã dẫn đến hậu quả là thái độ khinh thường các tôn giáo, các lễ nghi và các nền văn hóa khác.[26] Đối với giai đoạn trước công đồng Vatican II, nhiều người đã nhận xét rằng Chúa Giêsu loan báo về triều đại nước Thiên Chúa, Giáo hội nguyên thủy rao giảng về Chúa Kitô; nhưng sau đó, Giáo hội loan báo về chính mình.

Mặc dù đã có những nỗ lực chống lại việc áp đặt văn minh tây phương lên các xứ truyền giáo, các nhà truyền giáo tây phương đã cứ cố lấy các giá trị của văn minh nước họ mà thay thế các giá trị của những nền văn hóa bản địa. Và điều tất yếu đã xảy ra là phong trào truyền giáo từ đông sang tây, từ bắc tới nam được tiến hành song song với các phong trào xâm chiếm thuộc địa. Họ đã “vun trồng” Giáo hội theo “nền văn minh Kitô giáo” trong tất cả các lãnh vực tôn giáo, văn hóa và xã hội. Vì vậy, ngày nay, nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia ở Châu Á, coi Giáo hội như là một sự nhắc nhớ tới chủ nghĩa thực dân trong quá khứ.[27]

Nói lên những điều này không phải là để chối bỏ những thành tựu to lớn mà biết bao nhà truyền giáo nhiệt thành, thậm chí có nhiều người đã hy sinh cả tính mạng mình cho sứ vụ loan báo Tin mừng, nhưng là để chúng ta thấy được những thách đố mà Giáo hội đang gặp phải cũng như rút ra được những bài học qúi báu cho công việc truyền giáo trong thiên niên kỷ mới này.

II. SỨ VỤ CỦA GIÁO HỘI  TỪ VATICAN II
1. Vatican II
Từ công đồng Vatican II, Giáo hội đã thoát ra khỏi cái nghĩa hạn hẹp về sứ mệnh truyền giáo. Sứ mệnh của Giáo hội được hiểu theo nghĩa là sự tham gia và tiếp nối sứ vụ của Ba Ngôi. Nó đâm rễ sâu vào tận trong Thiên Chúa Ba Ngôi: “Tự chính bản chất của mình, Giáo hội lữ hành là truyền giáo; vì theo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa Cha, Giáo hội bắt nguồn từ sứ vụ của Chúa Con và của Chúa Thánh Linh.” (AG 2) Tình yêu của Chúa Cha, sứ vụ của Chúa Con và của Chúa Thánh Thần hình thành, hướng dẫn và thúc đẩy tất cả các hoạt động truyền giáo của Giáo hội. Vậy thì, tác giả và tác nhân chính của sứ mệnh truyền giáo không phải là Giáo hội, nhưng là chính Thiên Chúa Ba Ngôi (Missio Dei); sứ vụ không thể quan niệm chỉ như là một hoạt động thuần túy của Giáo hội, do Giáo hội và cho Giáo hội, nhưng trước tiên là hành động của chính Thiên Chúa Ba Ngôi. Sứ vụ của Giáo hội không chỉ đơn thuần bắt nguồn từ lệnh truyền của Ðức Giêsu, mà hơn nữa, là từ Missio Dei. Qua đó, Thiên Chúa Cha sai Con Mình và Thần khí đến trong thế gian hầu làm cho nhân loại được tham dự vào trong sự sống của Ba Ngôi. Một khi đã ý thức như thế, thì không còn có thể chỉ coi sứ vụ như là hoạt động nhằm làm cho con số thành viên của Giáo hội tăng thêm, và bứng chuyển những cơ cấu giáo hội sẵn có để đem đặt vào các vùng đất của dân ngoại, hoặc là đồng hóa sứ mạng truyền giáo với sứ mạng văn minh hóa; nhưng là phải đi theo mẫu gương của sứ giả Tin Mừng đầu tiên, tức Ðức Kitô và Thần Khí của Người.

Nếu sứ mệnh của Giáo hội đã được khai sinh từ sứ vụ của Ba Ngôi, thì toàn thể Giáo hội phải là truyền giáo, và như thế là do tự bản chất. Không truyền giáo, Giáo hội không còn ý nghĩa. Do đó, mọi Kitô hữu đều có bổn phận phải truyền giáo tùy theo khả năng của mình (x. LG 17). AG số 10-18 mô tả hoạt động truyền giáo của Giáo hội như là làm chứng, loan báo, tập họp dân Thiên Chúa và xây dựng cộng đoàn Kitô hữu. Sứ mệnh của Giáo hội là rao truyền và thiết lập giữa các dân tộc triều đại nước Thiên Chúa, và Giáo hội là hạt giống, là sự khởi đầu của triều đại ấy trên trần gian, là dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại. Công đồng cũng phân biệt triều đại nước Thiên Chúa trong lịch sử và sự viên mãn của nó vào thời cánh chung (x. LG 1, 5, 9). Thật vậy, triều đại nước Thiên Chúa tuy đã bắt đầu trong lịch sử, nhưng vẫn còn trong giai đoạn hình thành để đi tới viên mãn (x. Mt 26, 29; Mc 14, 25; Lc 11, 20; 22, 19). Giáo hội vừa là hình ảnh, vừa là phương tiện để hình thành nó. Do đó, Giáo hội không hiện hữu vì mình, mà vì nhân loại và cho nhân loại. Giáo hội chia sẻ cùng một định mệnh với thế giới.

Công đồng cũng nhìn nhận vai trò tích cực của các tôn giáo và các nền văn hóa trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Ơn cứu độ có thể đến với những ai không thuộc về Giáo hội theo hình thức thấy được bên ngoài (x. LG 16; GS 22). Thật vậy, Lời và Thần khí không chỉ hoạt động trong trái tim con người, mà còn trong các tôn giáo và các truyền thống văn hóa nữa.[28] Công đồng đã thấy nơi chúng những điều chân thiện; những chân lý và ân sủng; những hạt giống Lời Chúa; những truyền thống khổ hạnh và chiêm niệm; những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết, tuy có nhiều điểm khác với Giáo hội, cũng thường đem lại ánh sáng của chân lý.  Giáo hội bảo tồn các yếu tố tôn giáo và nhân bản qúi giá trong các truyền thống riêng. Những gì là thiện hảo trong tâm hồn và tư tưởng của loài người, hoặc trong nghi lễ và văn hóa riêng của các dân tộc, hoạt động của Giáo hội không nhằm tiêu diệt chúng, nhưng lành mạnh hóa, nâng cao và hoàn thành chúng, tháp nhập chúng vào Thân thể Chúa Kitô, để Thiên Chúa được tôn vinh, ma qủi bị xấu hổ và con người được hạnh phúc (x. LG 16, 17; GS 92; AG 9, 11, 15, 18; NA 2). Những nhìn nhận này cho thấy rằng Giáo hội phải không ngừng đối thoại với các tôn giáo, với những truyền thống văn hóa. Giáo hội được kêu gọi để khám phá ra những hạt giống của Lời đang ẩn tàng nơi họ. Đối thoại phải là mối quan tâm chính của Giáo hội, nhờ đó Giáo hội nhận thức sâu xa hơn về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi những truyền thống văn hóa và những người tin của các tôn giáo khác. Bởi vì Chúa Thánh Thần hoạt động nơi trần gian trước khi Chúa Kitô được vinh quang (x. AG 4). Sau khi đã nhìn nhận trong các tôn giáo khác có tia sáng của chân lý chiếu soi mọi người, công đồng khẳng định sự cần thiết phải loan báo Chúa Kitô: “Tuy nhiên Giáo hội rao giảng và có bổn phận phải rao giảng Chúa Kitô, Đấng ‘là đường, là sự thật và là sự sống’ (Ga 14, 6), nơi Người, con người tìm được sự viên mãn của đời sống tôn giáo và nhờ Người, Thiên Chúa giao hoà mọi sự với mình.” (NA 2)

Chúa Kitô và Thần khí của Ngài đều đang hoạt động nơi trần thế: “Tất cả những ai có thiện chí được ơn thánh hoạt động một cách vô hình trong tâm hồn. Thật vậy, vì Chúa Kitô đã chết cho mọi người và vì ơn gọi cuối cùng của con người thực ra là duy nhất, nghĩa là do Thiên Chúa, cho nên ta phải tin chắc rằng Chúa Thánh Thần ban cho mọi người khả năng tham dự vào mầu nhiệm phục sinh ấy, cách nào đó chỉ có Chúa mới biết thôi.” (GS 22) Chính Chúa Thánh Thần kêu gọi mọi người đến với Chúa Kitô và thúc đẩy tâm hồn họ vâng phục đức tin nhờ hạt giống Lời Chúa và việc rao giảng Tin mừng (x. AG 15).

Công đồng đã xây dựng một nền thần học về Chúa Thánh Thần mà từ lâu Giáo hội hầu như đã lãng quên. LG 4, 19, 48; GS 22; AG 4, 15; DV 11; v.v. đã nói lên vai trò của Chúa Thánh Thần trong đời sống cũng như tất cả các hoạt động của Giáo hội. 

Nếu Giáo hội coi các tôn giáo khác là xấu xa, tội lỗi, sai lầm thì hoạt động của Giáo hội sẽ là chinh phục, loại trừ và thống trị. Nhưng nếu Giáo hội nhìn nhận nơi các tôn giáo và các nền văn hóa là chân thiện, dù chưa đạt được trọn vẹn, thì hoạt động của Giáo hội là đối thoại, tìm cách để bổ sung và thăng tiến. Nếu Giáo hội nhận thức sâu xa về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi các dân tộc, sự phân chia giữa thánh thiêng và thế tục không còn nữa. Và nhờ đó, một nhận thức mới về sứ mệnh đang thấm vào tất cả mọi lãnh vực của đời sống Giáo hội.[29]  

Ngày nay, truyền giáo được hiểu theo một nghĩa rộng lớn, đó là Phúc âm hóa: đem các giá trị Tin mừng vào trong các thực tại trần thế. Hiểu như thế, chúng ta thấy ngay nhu cầu phải trở về nguồn của sứ vụ là chính Chúa Giêsu Kitô và Tin mừng của Người, để thông hiệp với Người và tiếp tục sứ vụ của Người.  

2. Các Đức Giáo hoàng 
a. Đức Phaolô VI
- Thông điệp Ecclesiam Suam (ES): được ban hành giữa kỳ họp thứ hai và thứ ba của công đồng. Đức Phaolô VI đã đánh dấu sự xuất hiện của từ “đối thoại” trong xu thế đổi mới của công đồng. Ngài trình bày rằng Thiên Chúa không ngừng đối thoại với nhân loại và vai trò của Giáo hội là kéo dài sự đối thoại đó. Giáo hội phải đối thoại với thế giới, với các Giáo hội Kitô khác, với các tôn giáo khác và đối thoại ngay chính trong Giáo hội. Giáo hội đối thoại với thế giới vì Giáo hội có điều gì đó để nói, có một sứ điệp để rao truyền. Ngài coi đối thoại như một phương pháp truyền giáo. Muốn có đối thoại, Giáo hội phải có thái độ kính trọng và lắng nghe. Giáo hội cần nhìn nhận và tôn trọng những giá trị luân lý và tinh thần nơi các tôn giáo khác. Đối thoại với các tôn giáo khác để hợp tác với họ trong việc mưu ích cho con người và đẩy lùi bóng tối của sự dữ. Không chỉ lắng nghe tiếng nói của con người, mà còn lắng nghe tiếng nói phát xuất từ trái tim của họ. Tinh thần của đối thoại là tình hữu nghị; và còn cần phải đi xa hơn nữa, đó là tinh thần phục vụ (x. ES 65, 81, 87, 97- 116). 

-Tông huấn Loan báo Tin mừng (EN):
Đức Giáo hoàng đã đưa ra một cái nhìn có tính cách đổi mới về sứ mệnh truyền giáo: “Phúc âm hóa có nghĩa là đem Tin mừng vào mọi lãnh vực trong đời sống nhân loại để nhờ đó, làm biến đổi nhân loại từ bên trong.” (EN 18)
Sẽ không có loan báo Tin mừng nếu không có tác động của Thần khí, linh hồn của Giáo hội. Ngài là tác nhân chính của sứ mệnh truyền giáo. Chính Ngài thúc đẩy mỗi người loan báo Tin mừng (x. EN 75).
Toàn bộ Giáo hội nhận được sứ mệnh để loan báo và hoạt động của mỗi người đều quan trọng đối với toàn thể. Giáo hội hoàn thành sứ mệnh của mình qua các hoạt động khác nhau. Đức Giáo hoàng đưa ra những phương kế để loan báo Tin mừng như là làm chứng bằng đời sống, rao giảng, phụng vụ Lời Chúa, dạy giáo lý, sử dụng các phương tiện truyền thông, tiếp xúc cá nhân, thực hành các bí tích, định hướng lòng đạo đức bình dân (x. EN 15, 40- 48).
Loan báo Tin mừng là sứ mệnh chính của Giáo hội, là ân huệ và ơn gọi đặc biệt của Giáo hội và là căn tính sâu xa nhất của Giáo hội. Giáo hội hiện hữu là để loan báo Tin mừng, nghĩa là để rao giảng và dạy dỗ, để giao hòa những người tội lỗi với Thiên Chúa, làm cho cuộc hiến tế của Chúa Kitô tồn tại mãi trong thánh lễ, nơi tưởng niện cái chết và sự phục sinh vinh quang của Ngài. Nội dung chính yếu của Tin mừng là tình thương của Thiên Chúa Cha. Trung tâm của sứ điệp là ơn cứu độ trong Chúa Giêsu Kitô. Giáo hội phải loan báo rõ ràng rằng nước Thiên Chúa được thiết lập trên trái đất nơi chính Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, qua đời sống, cái chết và sự phục sinh của Ngài. Ơn cứu độ được ban cho tất cả mọi người như tặng phẩm của ân sủng và lòng nhân từ của Thiên Chúa (x. EN 14, 27).
Tin mừng có thể thấm vào tất cả các nền văn hóa, nhưng không lệ thuộc bất cứ nền văn hóa nào. “Triều đại nước Thiên Chúa mà Tin mừng loan báo được sống bởi những con người gắn liền với một nền văn hóa, và việc xây dựng nước ấy không thể không vay mượn những yếu tố thuộc văn hóa loài người.” (EN 20) Vì thế, Phúc âm phải thấm nhập, ăn sâu vào trong văn hóa và trong toàn bộ nếp sống của con người: “Giáo hội phải thấm sâu vào và biến đổi bởi sức mạnh của Tin mừng những tiêu chuẩn phán đoán, những giá trị, những mối bận tâm, những trào lưu tư tưởng, những động cơ đi ngược lại với Tin mừng và kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.” (EN 19) “Giáo hội tìm cách hoán cải lương tâm cá nhân cũng như tập thể, những hoạt động, đời sống và hoàn cảnh cụ thể của con người.” (EN 18)
Giáo hội kính trọng các tôn giáo khác, vì “chúng biểu hiện sống động cho tâm hồn của biết bao người. Chúng mang trong mình dư âm hàng ngàn năm tìm kiếm Thiên Chúa, tuy chưa đầy đủ nhưng thường là với tấm lòng chân thật và ngay thẳng… Các tôn giáo ấy mang trong mình những hạt giống của Lời để chuẩn bị cho việc đón nhận Tin mừng.” (EN 53)
Việc loan báo Tin mừng sẽ không trọn vẹn nếu không quan tâm đến mối quan hệ giữa Tin mừng và cuộc sống: cá nhân và xã hội của con người, công lý, hoà bình, phát triển và việc giải phóng con người thoát khỏi nghèo đói, bệnh tật và những bất công (x. EN 29- 38). Thật vậy, ơn cứu độ trọn vẹn bao trùm toàn bộ con người với hết mọi chiều kích cuộc sống. Nhưng “không bao giờ Giáo hội đồng nhất hóa việc giải phóng con người với ơn cứu rỗi trong Ðức Giêsu Kitô... Giáo hội biết rõ rằng cảnh thành tựu của giải phóng, đà phát triển của thịnh đạt và tiến bộ, tự chúng, không đủ để đảm bảo cho việc thành tựu của công trình xây dựng Nước Thiên Chúa.” (EN 35)                                                                                                             
b. Đức Gioan Phaolô II 
- Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Chuộc (RM) 
Thông điệp đã tóm tắt sứ mệnh của Giáo hội vào ba con đường chính: rao giảng, đối thoại và thăng tiến con người.
Rao giảng về Chúa Giêsu Kitô phải là mối ưu tiên thường xuyên của Giáo hội. Mọi hình thức hoạt động truyền giáo đều hướng về đó. Truyền giáo là bổn phận của mọi Kitô hữu, không có bất cứ một ngoại lệ nào (x. RM 2, 3, 44). 

Đức Giáo hoàng cũng khẳng định rõ rệt hơn nữa hoạt động của Chúa Thánh Thần mà Vatican II đã trình bày: “Sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần không chỉ tác động trên mỗi cá nhân, nhưng còn trên xã hội, lịch sử, các dân tộc, các nền văn hóa và các tôn giáo nữa.” (RM 28) Ngày nay, Chúa Thánh Thần vẫn đang hoạt động trong tâm hồn con người, trong lịch sử các dân tộc, trong các nền văn hóa và trong các tôn giáo. Hoạt động này được hiểu trong sự qui chiếu về Chúa Kitô (x. RM 29). Bởi đó, Giáo hội phải đối thoại với các tôn giáo khác và với các nền văn hóa.      

Công đồng Vaticanô II đã nhìn nhận các giá trị tích cực trong các tôn giáo khác, như vậy việc rao giảng Tin mừng có còn cần thiết không hay được thay thế bằng công cuộc đối thoại liên tôn? Ðể trả lời cho câu hỏi này, Ðức Gioan Phaolô II đã khẳng định rằng: “Công cuộc đối thoại liên tôn là một phần trong sứ mạng truyền giáo của Giáo hội. Ðược hiểu như là một phương pháp và phương tiện giúp cho đôi bên hiểu biết lẫn nhau và làm cho nhau thêm phong phú, đối thoại không đi ngược lại với sứ mạng truyền giáo ad gentes. Thật vậy, công cuộc đối thoại có những liên hệ đặc biệt với sứ mạng truyền giáo và là một trong những cách thức biểu đạt của sứ mạng ấy... Ðối thoại có thể được khai mở và tiến hành với niềm thâm tín xác quyết rằng Giáo hội là công cụ thường cách (ordinary means) của ơn cứu độ, và chỉ một mình Giáo hội mới có đầy đủ những phương cách cần thiết để mang lại ơn cứu độ.” (RM 55)[30]

Về đối thoại với các nền văn hóa, ngài khẳng định: “Qua công tác hội nhập văn hóa, Giáo hội làm cho Phúc âm nhập thể vào trong các nền văn hóa khác nhau, và đồng thời, đưa dẫn các dân tộc cùng với các nền văn hóa của họ đi vào trong cộng đoàn của mình. Giáo hội chuyển thông qua cho họ những giá trị của mình, và cùng lúc, thu nhận những yếu tố hay đẹp sẵn có ở nơi các nền văn hóa ấy để đổi mới chúng từ bên trong. Qua công tác hội nhập văn hóa, về phía mình, Giáo hội sẽ trở thành dấu chứng dễ nhận ra hơn của chính bản chất mình, cũng như sẽ trở thành hữu hiệu hơn trong công việc truyền giáo. Nhờ việc tiến hành công tác hội nhập như thế tại các Giáo hội địa phương, chính Giáo hội hoàn vũ cũng được nên phong phú hơn, bởi các lãnh vực khác nhau trong đời sống Kitô, - như là các lãnh vực Phúc âm hóa, phụng tự, thần học, - và các hoạt động từ thiện... sẽ có thêm nhiều dạng thức biểu đạt và nhiều giá trị dồi dào hơn.” (RM 52)

Giáo hội góp phần vào sự phát triển nhân loại qua việc sống chứng tá và qua các hoạt động như đối thoại, thăng tiến con người, dấn thân cho một nền hòa bình và công bằng, giáo dục, chăm sóc bệnh nhân, trợ giúp người nghèo và trẻ em (x. RM 20). Rao giảng Tin mừng tự nó bao hàm một động lực cho giải phóng và phát triển: “Sứ điệp của Tin mừng tạo ra một sức mạnh giải phóng mà nó thực sự thăng tiến sự phát triển, vì nó dẫn tới sự hoán cải của tâm hồn và tư tưởng, nuôi dưỡng nhận thức về phẩm giá của mỗi con người, khuyến khích tình liên đới, hiến thân và phục vụ người thân cận, và ban tặng cho mỗi người một nơi trong kế hoạch của Thiên Chúa, là kế hoạch xây dựng một nước Thiên Chúa bình an và công chính đã bắt đầu ngay trên trần thế này… Sự phát triển con người bắt nguồn từ Thiên Chúa, từ kiểu mẫu của Chúa Giêsu- Thiên Chúa làm người, và nó phải dẫn về với Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao có một sự nối kết chặt chẽ giữa loan báo Tin mừng và thăng tiến con người.” (RM 59) 

- Tông huấn Giáo hội tại  Á Châu (EA) 
Trong tông huấn này, Đức Giáo hoàng nhấn mạnh đến sứ vụ yêu thương và phục vụ trong bối cảnh Á Châu.
Châu Á là cái nôi của các tôn giáo và các nền văn hóa lớn. Nó cũng là nơi sinh của Chúa Giêsu và Giáo hội. Nhưng sau 2000 năm, phần lớn dân ở lục địa này lại không biết Chúa Giêsu và coi Ngài như là người phương tây (x. EA 1, 2). Nhiều người Châu Á còn coi Kitô giáo là một tôn giáo “ngoại lai” và thường gắn Giáo hội với những quyền lực thực dân (x. EA 9). Do đó, Giáo hội tại đây cần làm sáng tỏ nguồn gốc Châu Á của Chúa Giêsu và chính mình. Giáo hội đã lãnh nhận quà tặng từ Thiên Chúa là Chúa Giêsu và Giáo hội phải chia sẻ quà tặng qúi giá này cho Châu Á. Ngài là Đấng cứu độ duy nhất, là cội nguồn mọi loài mọi vật và tất cả chỉ đạt tới viên mãn nơi Ngài. Vì vậy, Ngài có thể thỏa mãn mọi khát vọng sâu xa nhất của tất cả mọi người, mọi dân tộc Châu Á (x. EA 4, 10, 14).

Vì vậy, Chúa Giêsu Kitô phải là trung tâm của sứ điệp của Giáo hội. Con người của Ngài, gương mặt Châu Á của Ngài, cần phải được giới thiệu cho người Châu Á. Sứ mệnh của Giáo hội không chỉ là mang Chúa Giêsu đến lục địa này, nhưng mà còn phải khám phá ra sự hiện diện của Ngài nơi chính quê hương Châu Á của Ngài. Lý do làm cho người Châu Á khó gần gũi với Ðức Giêsu là vì chúng ta đã nhào nặn Chúa Giêsu thành con người tây phương, tức là con người của suy luận, lý trí. Nhưng Ðức Giêsu tiên vàn là con người của lòng thương xót, con người của mọi người và đặc biệt là của người nghèo.

 Trong bối cảnh Á Châu, việc phục hồi gương mặt Châu Á của Chúa Giêsu và việc loan báo Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất như thế nào? Tông huấn khẳng định rằng “không thể có Phúc âm hóa thật sự nếu không công khai loan báo Chúa Giêsu là Chúa” (EA 19). Nhưng tông huấn cũng nhìn nhận rằng sự loan báo ấy “đã đụng phải những khó khăn về triết học, văn hóa và thần học, nhất là nhìn từ những niềm tin có trong các tôn giáo lớn của Châu Á, vốn quyện rất chặt với các nền văn hóa và các thế giới quan riêng biệt” (EA 20). Bởi vậy, chúng ta phải từng bước giới thiệu Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người, Thiên-Chúa-ở-với-chúng-ta. Tông huấn đề cao phương pháp kể truyện vì nó quen thuộc với văn hoá Á Châu hơn là suy luận theo kiểu tây phương. Phải rao giảng về Chúa Giêsu theo các mô hình văn hóa và theo các cách tư duy của các dân tộc ấy. Làm sao để giới thiệu Chúa Giêsu là Đấng đáp ứng những khát vọng sâu thẳm của con người Á Châu biểu lộ trong văn hóa dân gian, chuyện cổ tích, sự tích, thần thoại, truyền thuyết, trong các huyền thoại. Sau đó, nên dùng lối sư phạm gợi mở, vận dụng các câu truyện, dụ ngôn, thần thoại, biểu tượng để đưa họ đến với Chúa Giêsu, Đấng đang chờ đón họ, thỏa mãn những khát vọng sâu thẳm của họ. Phải dùng phương pháp rất quen thuộc ở Châu Á là thuật chuyện về cuộc đời Chúa Giêsu; dùng những hình ảnh, câu chuyện, dụ ngôn để trình bày giáo lý như Chúa đã dùng. Cần trình bày Chúa Giêsu như là thầy dạy và ngôn  sứ, vị lương y, người Samari nhân hậu, nhà lãnh đạo tinh thần, vị mục tử nhân lành, người bạn đầy lòng trắc ẩn của người nghèo, Ðấng giải phóng và  ban sự sống (x. EA 20). Những hình ảnh này có sức hấp dẫn và lôi cuốn các dân tộc ở Châu Á đang sống trong nghèo đói, áp bức, bất công và bạo lực lan tràn, giúp họ trong cuộc đấu tranh nhằm tới công lý và  hòa hợp, tức là đối với  cuộc đấu tranh cho sự sống mà chúng  ta đang tiến hành. Khi họ khám phá ra rằng Chúa Giêsu là con đường giúp họ đạt tới Thiên Chúa, một Thiên Chúa của tình yêu, bình an và hạnh phúc, thì lúc đó với kinh nghiệm cá nhân của mình, họ sẽ xác tín rằng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất của họ.     

Người Á Châu có một cái nhìn tổng hợp và hài hòa về mọi thực tại. Họ yêu thích sự hòa điệu giữa các tương phản, vì sự hòa điệu ấy vừa rất huyền nhiệm, vừa rất gần gũi với con người: hòa điệu giữa trời/ đất, thần linh/ con người, hữu hạn/ vô hạn,  hữu hình/ vô hình, thánh thiện/ tội lỗi, có/ không, sống/ chết, hạnh phúc/ đau khổ, động/ tĩnh, âm/ dương,... Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, Thiên Chúa vô hình mặc lấy thân xác con người, nối kết trời và đất, trung gian giữa Thiên Chúa và con người, vừa là Chúa thật vừa và người thật, sống yêu thương và kết bạn với những người tội lỗi, Đấng đầy quyền năng nhưng đã hủy mình ra không, đã chết và đã sống lại là nơi hội tụ tuyệt vời của các tương phản ấy.[31]  

Ngày nay, người dân Á Châu đang khao khát Đấng Tuyệt Đối, khao khát Thiên Chúa. Có sự đói khát không thể chối cãi được, đặc biệt là nơi những người trẻ, đối với việc cầu nguyện và chiêm niệm. Chắc chắn đây là sự khơi dậy của Thánh Thần. Do đó, Giáo hội phải biết lắng nghe Thánh Thần đang hiện diện và hoạt động trong các cộng đoàn tín đồ khác, trong sự hài hòa của sự hiệp thông Châu Á, để đồng hành với họ trong cuộc hành trình chung kiếm tìm một cách không mỏi mệt Đấng Tuyệt Đối. Tại Châu Á, Chúa Thánh Thần đã hoạt động ngay từ thời các tổ phụ, qua các ngôn sứ và hoạt động mạnh mẽ thời Chúa Giêsu và Giáo hội sơ khai. Và ngày nay, Ngài đang hoạt động giữa các Kitô hữu Á Châu, củng cố đời sống chứng tá, đời sống đức tin của họ giữa các dân tộc, các nền văn hóa và các tôn giáo của lục địa này. Sự hiện diện và hoạt động của Ngài không thể tách rời sứ vụ cứu độ hoàn vũ của Chúa Giêsu. Chúa Thánh Thần đã khơi dậy trong các nền văn hóa và các tôn giáo ở lục địa này một sự khao khát “nước hằng sống” (Ga 4, 10- 15), mà chỉ có Chúa Giêsu mới có thể hoàn toàn thỏa mãn được (x. EA 18). Thật vậy, Chúa Thánh Thần là tác nhân chính của đối thoại và hội nhập văn hóa ở Châu Á (x. EA 21).

Vì vậy, đối thoại phải là kiểu mẫu đặc trưng của Giáo hội tại Châu Á (x. EA 29). Nó không đơn giản là một chiến lược chung sống hòa bình giữa các dân tộc, nhưng là một phần bản chất của sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội, một ơn gọi thực sự cho Giáo hội. Bởi vì nó bắt nguồn từ cuộc đối thoại cứu độ yêu thương của Chúa Cha với nhân loại, qua việc Nhập thể của Chúa Con, trong quyền năng Thánh Thần (x. EA 3, 29). Tông huấn nhấn mạnh đến sự cần thiết phải đối thoại bằng cuộc sống và bằng con tim. Ðối thoại bằng cuộc sống đòi hỏi phải có những cuộc gặp gỡ thân thiện, kính trọng, yêu thương và hợp tác với nhau. Ðối thoại bằng con tim đòi hỏi phải có tấm lòng hiền lành và khiêm nhường của Chúa Giêsu (x. EA 31 ).

Trong tiến trình gặp gỡ giữa Tin mừng và văn hóa ở Châu Á, Giáo hội rao giảng Tin mừng trong một bối cảnh văn hóa để người nghe dễ dàng hiểu và chấp nhận. Giáo hội phải hiểu được tâm trí và tâm hồn của người nghe, những giá trị, tập quán, những khó khăn, hy vọng và ước mơ của họ (x. EA 21).

Hiệp thông và truyền giáo không thể tách rời nhau (x. EA 24). Do đó, thiếu sự hiệp thông, Giáo hội không thể chu toàn sứ mạng của mình. Trong nền văn hóa và tôn giáo của sự hài hòa ở Châu Á, Giáo hội cần xây dựng và cổ xúy tinh thần  hòa hợp. Giáo hội được kêu gọi đóng giữ  vai trò làm bí tích, tức là dấu  chỉ và khí cụ, của mối kết hợp  mật thiết với Thiên Chúa và của  mối hiệp nhất toàn thể nhân loại (x. LG 1, EA 24). Sứ mệnh của Giáo hội phải được biểu lộ trong sự làm chứng và hành động hợp nhất của tất cả mọi thành viên. Do đó, bản chất và sứ mệnh của Giáo hội là sự tham gia. Sự sống bên trong của Giáo hội chính là Thần khí của hiệp thông: trong bản chất, Giáo hội là cộng đoàn hiệp thông, bén rễ sâu trong sự sống của Chúa Ba Ngôi. Đó là một cộng đoàn mà trong đó mọi người đều nhìn nhận và coi nhau như anh em, chị em một nhà, cùng tham gia và đồng trách nhiệm, thực hành lắng nghe, đối thoại, cùng nhau phân định trong Thánh Thần, cùng nhau làm chứng và cùng nhau hoạt động cộng tác với nhau. Đó là nơi các đặc sủng của mỗi thành viên được chấp nhận và thi hành trong các thừa tác vụ khác nhau. Sự hiệp thông vừa là nguồn suối, vừa là hoa trái của việc truyền giáo và truyền giáo hoàn thành trong hiệp thông (x. EA 24). Ba Ngôi chính là nền tảng của hiệp thông và đối thoại, là cùng đích và là mẫu mực tuyệt hảo của hiệp thông đối thoại.

Mọi người phải rao giảng bằng đời sống chứng tá của mình. Nghĩa là đời sống của họ phải đi đôi với lời họ rao giảng. Tại Châu Á, một người có lòng đạo đức thật sự sẽ được kính trọng và noi theo. Bởi vì, “con người thời nay tin ở những chứng nhân hơn là tin ở thày dạy, tin ở kinh nghiệm hơn là ở sách vở, tin ở lối sống và hành động hơn là ở lý thuyết.” Do vậy, công việc loan báo Tin mừng phải được nuôi dưỡng bằng đời sống cầu nguyện và chiêm niệm, nghĩa là trong sự kết hợp mật thiết với Chúa, nguồn suối của hoạt động truyền giáo. Nếu ở Châu Á người ta tôn kính những người có địa vị cao thế nào, thì những người có trách nhiệm trong Giáo hội càng phải nêu cao đời sống gương mẫu để xứng đáng với lòng kính trọng đó (x. EA 23, 42, 43).

Việc phục vụ xã hội qua giáo dục, chăm sóc bệnh nhân, người tàn tật, người di trú, người dân tộc thiểu số, đấu tranh cho sự công bằng và các quyền của con người là một minh chứng mạnh mẽ cho sứ điệp của Tin mừng (x. EA  42).

3. Liên Hội đồng Giám mục Châu Á (FABC)  
Những thành quả của FABC được Đức Gioan Phaolô II đúc kết trong tông huấn Giáo hội tại Châu Á (EA), năm 1998, đã trình bày ở trên. Ở đây chỉ phác họa thêm một số đặc điểm của FABC
Từ khi thành lập (1972) đến nay, FABC đã có một quá trình trên 30 năm suy tư, nghiên cứu và áp dụng những giáo huấn của Công đồng Vatican II vào thực tại Châu Á. FABC phản ánh và đào sâu về đời sống và sứ mệnh của Giáo hội ở Châu Á. FABC giúp Giáo hội ở Châu Á tìm ra một cách hiện diện mới mẻ, những định hướng mục vụ, nhiệm vụ loan báo Tin mừng, hội nhập văn hóa, đối thoại liên tôn, thăng tiến con người, liên đới qua việc xây dựng công bằng và hòa bình trong ánh sáng của những thực tại phức tạp ở Châu Á, để tiếp tục sứ mệnh của mình trong khi đồng hành với các dân tộc ở lục địa này. Thật vậy, truyền giáo chính là hiện diện với mọi người, đáp ứng những nhu cầu của họ với sự nhạy cảm về sự hiện diện của Thiên Chúa trong các truyền thống văn hóa và tôn giáo. Do đó, sứ mệnh của Giáo hội tại Châu Á được thực hiện qua ba cuộc đối thoại: đối thoại với các tôn giáo, với các nền văn hóa và với người nghèo (x. FABC I).
Giáo hội được kêu gọi trở thành cộng đoàn đối thoại. Tại Châu Á, những giá trị của các tôn giáo và tín ngưỡng đã trở thành linh hồn của văn hóa. Tôn giáo và văn hóa có ảnh hưởng lẫn nhau và gắn bó khăng khít với nhau, không thể tách rời được. Những giá trị của tôn giáo và văn hóa đan quyện vào nhau và tạo nên cách sống, cách suy tư của con người. Do vậy, đối thoại với các tôn giáo và hội nhập văn hóa là hai tiến trình bổ túc và gắn liền với nhau. Giáo hội đối thoại với người nghèo vì đại đa số dân ở lục địa này là những người nghèo.
Giáo hội phải lấy triều đại nước Thiên Chúa làm trung tâm đời sống mình, thay vì coi Giáo hội là trung tâm như từ trước đến nay. Sứ mệnh của Giáo hội là loan báo và thiết lập triều đại nước Thiên Chúa giữa các dân tộc. Giáo hội trở nên dấu chỉ và dụng cụ hữu hiệu của sự hiện diện cứu độ của triều đại này, triều đại của công lý, hoà bình và tình thương mà Giáo hội là hạt giống. “Triều đại nước Thiên Chúa là lý do hiện hữu của Giáo hội. Giáo hội hiện hữu trong và vì triều đại ấy… Nơi nào Thiên Chúa được đón nhận, Tin mừng được sống, con người được tôn trọng…Ở đó, triều đại nước Thiên Chúa hiện diện.”[32] Vì thế, Giáo hội không có lựa chọn nào khác là đối thoại với các truyền thống tôn giáo và văn hóa để hợp tác với tất cả những người thiện chí trong việc thăng tiến công bình, bình an, tình yêu và tình hữu nghị giữa các dân tộc.[33] Giáo hội đối thoại với mọi người trong tinh thần bình đẳng, tôn trọng, làm phong phú lẫn nhau để cùng cộng tác trong việc xây dựng thế giới, thiết lập triều đại nước Thiên Chúa trong mọi lãnh vực của cuộc sống.
Trong cuộc đối thoại với người nghèo, Giáo hội cần phải có tình yêu ưu tiên dành cho người nghèo. Liên kết với người nghèo, người bị áp bức, người bị bỏ rơi là đáp lại những đòi hỏi của Tin mừng về triều đại nước Thiên Chúa trong thế giới hôm nay: bằng cách trở thành Giáo hội của người nghèo và cho người nghèo, Giáo hội ở Châu Á trở thành khí cụ và bí tích của triều đại nước Thiên Chúa.[34]   

4. Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN)
Biến cố 1975 đã giúp Giáo hội Việt Nam nhìn lại chính mình và đồng thời ý thức hơn về sứ mệnh loan báo Tin mừng trong hoàn cảnh mới. Khi Giáo hội không còn nắm trong tay các phương tiện loan báo Tin mừng, khi Giáo hội bị tước hết mọi đặc quyền đặc lợi, Giáo hội thực sự trở thành Giáo hội của Chúa Giêsu: khiêm hạ và phục vụ. Như người tôi tớ khiêm nhu của triều đại nước Thiên Chúa, Giáo hội trở nên gần gũi với người nghèo, với truyền thống tôn giáo và văn hóa của dân tộc và với những thực tế xã hội của đất nước.

Trong bản góp ý của HĐGMVN gởi cho Thượng Hội đồng Giám mục Châu Á[35] , các Giám mục Việt Nam đã quả quyết: “Một Giáo hội nghèo mới có thể thích hợp với đại dương mênh mông của người nghèo. Một Giáo hội khiêm nhu nhỏ bé dễ hòa mình vào giữa đại đa số những người nghèo của Châu Á. Và một Giáo hội không quyền lực dễ gần gũi số đông những người chỉ mơ ước được làm người, được cơm no áo ấm, được học hành và có việc làm.” Cũng trong bản góp ý này, các Giám mục Việt Nam đã rút ra được những kinh nghiệm từ thực tế, và do đó, nhận thức được một cách loan báo Tin mừng mới, trong bối cảnh Châu Á: “Lục địa Á Châu không phải là một vùng đất hoang mà chúng ta có thể gieo trồng bất cứ giống gì. Trái lại, đây là vùng đất của những tôn giáo và của những nền văn hóa lâu đời hơn nhiều so với Âu Châu… Tại đây, phần lớn người ta không phải là không biết đến Thiên Chúa, trái lại, họ cũng cảm nghiệm được sự hiện diện của Người một cách nào đó, và gọi Người bằng những tên gọi khác nhau, như là Trời, là Thiên, là Brahman… Do đó, ‘truyền giáo’ không phải là giới thiệu một Thiên Chúa, một Chúa Kitô hoàn toàn xa lạ, mà một cách nào đó, có thể nói là ‘làm sáng tỏ cái đức sáng’ (minh minh đức) vốn đã hiện hữu tiềm tàng, hay là giúp cho người ta ‘ngộ’ được cái chân lý, mà theo công đồng Vatican II, đã có một phần nào trong các tôn giáo khác (x. NA 2), đặc biệt là của Á Châu. Hãy theo cung cách của chính Chúa Giêsu, là nói cho người ta biết Thiên Chúa đang ở giữa họ, ngay trong lòng họ, bây giờ và tại đây, chứ không phải tại Giêrusalem hay một nơi nào khác, một thời nào khác. Nói khác đi, chính từ thứ nước uống hàng ngày mà người ta có thể khám phá ra nước hằng sống (x. Ga 4, 7- 26)”. Vì vậy, các Giám mục Việt Nam nhận định rằng truyền giáo không phải là “tìm cách thuyết phục, tuyên truyền, càng không phải là chinh phục, kéo cho được đông người ‘vào’ Đạo, nhưng trái lại là đi đến với mọi người (x. Mt 28, 19), làm người với mọi người, ở giữa mọi người (x. Ga 1, 14), như là nhân chứng của Chúa Kitô, hiện thân tình yêu của Cha trên trời.”

Giáo hội phải “đồng hành với dân tộc, đồng cảm, chia sẻ hy vọng và lo âu của dân tộc trong tiến trình phát triển xã hội và thăng tiến con người.” (Thư chung 2001, số 9)
Theo tinh thần của FABC, các Giám mục Việt Nam cũng đặc biệt chú tâm đến ba cuộc đối thoại: với các tôn giáo, với các nền văn hóa và với người nghèo.
Thư chung của HĐGMVN năm 1980 đã định hướng cho việc hội nhập văn hóa: “Xây dựng trong Hội thánh một nếp sống và một lối diễn tả Đức Tin phù hợp với truyền thống dân tộc” (số 11). Và được khẳng định lại trong Thư chung 1992: “Xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả Đức Tin có bản sắc dân tộc hơn” (số 9). Hội nhập văn hóa “là tìm ra những điểm gặp gỡ giữa Tin mừng và hồn dân tộc, để xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả đức tin ngày càng phù hợp hơn với nền văn hóa dân tộc.” (Thư chung 1998, số 13) Các Giám mục Việt Nam đã giải thích rõ hơn về mối quan hệ giữa Tin mừng và văn hóa Việt Nam và khuyến khích người Công giáo Việt Nam đem những giá trị của Tin mừng làm phong phú và thăng tiến những giá trị của văn hóa Việt Nam: “Yêu thương và hiệp nhất là đặc điểm của Tin mừng Chúa Giêsu Kitô và cũng là điểm gặp gỡ sâu xa nhất giữa Tin mừng và văn hóa Việt Nam, một nền văn hóa vốn lấy nghĩa đồng bào và đạo hiếu trung làm nền tảng cho đạo đức xã hội.” (Thư chung 1998, số 5)

Giáo hội phải là một cộng đoàn đối thoại: “Cuộc đối thoại phải khởi đi từ trong lòng Hội thánh, giữa các thành phần dân Chúa, bằng khiêm tốn lắng nghe, bằng trao đổi yêu thương để trở thành một tiếng nói hy vọng khơi nguồn cho cuộc đối thoại với mọi anh chị em ở những môi trường khác biệt.” (Thư chung 2001, số 10) Ở Việt Nam, “đa số đồng bào là người có tín ngưỡng và tôn giáo,” nên “tôn giáo phải là nền tảng cho người ta xích lại gần nhau.”

“Đối thoại với người nghèo, không chỉ là nghèo về của cải vật chất mà còn nghèo về phẩm giá, về kiến thức, về niềm hy vọng… Không nên coi người nghèo như đối tượng của ‘việc từ thiện’ nhưng như những con người đáng được tôn trọng và cần được lắng nghe.” Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, “cần đối thoại để hiểu biết, yêu mến, tôn trọng và liên đới, nhằm bảo vệ phẩm giá, quyền lợi của họ.” (Thư chung 2001, số 11)

 Các Giám mục Việt Nam cũng khuyến khích những người Công giáo can đảm đến với những miền đất mới, nơi những nhà truyền giáo chưa đặt chân tới và đến với tất cả mọi môi trường trong đời sống xã hội, vì chúng cần “sự hiện diện của Chúa Kitô, chứng tá của Hội thánh và ánh sáng của Tin mừng.” (Thư chung 2003, số 8)

Tóm lại, từ cái nhìn rộng mở của công đồng Vatican II, Giáo hội đã hiểu truyền giáo là công việc bao trùm tất cả mọi hoạt động của con người: Phúc âm hóa toàn diện (integral evangelization). Nó bao gồm mọi lãnh vực, vật chất cũng như tinh thần: “Ngày nay việc Phúc âm hoá là một thực tại, vừa súc tích vừa năng động. Nó gồm có nhiều khía cạnh và yếu tố: chứng tá, đối thoại, rao giảng, dạy giáo lý, hoán cải, bí tích Rửa tội, gia nhập vào cộng đoàn Giáo hội, thiết lập Giáo hội, hội nhập văn hoá và thăng tiến toàn diện con người. Một số yếu tố liên kết với nhau, đang khi một số khác là những bước hay những giai đoạn kế tiếp nhau của toàn thể quá trình Phúc âm hoá.” (EA 23) Thư chung 1980 xác nhận: “Không có sinh hoạt nào của con người lại xa lạ đối với sứ mạng của Hội thánh, và ngược lại không có sinh hoạt nào của Hội thánh không liên quan tới tất cả cuộc sống con người.” Giáo hội ngày càng ý thức hơn về vai trò dụng cụ và dấu chỉ của sự hiệp nhất, về sự dấn thân để đem lại hòa bình và phát triển con người.

(tiếp bài 3).
 

Lm JB Trần Hữu Hạnh fsf. -Trong giaosivietnam

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)