Suy Niệm Chúa nhật năm A
Chúa nhật Hiển Linh năm A
ÁNH SÁNG GIÊSU
Is 60, 1-6; Ep 3, 2-3a5-6; Mt 2, 1-12
Lễ Hiển Linh có nguồn gốc là một ngày lễ cổ xưa của người Kitô giáo tương tự với lễ Giáng Sinh và lễ Phục Sinh.
Từ Đông phương, lễ Hiển Linh lan sang Châu Âu vào khoảng thế kỷ thứ 4 và được nói đến lần đầu tiên tại xứ Gaule vào năm 361. Đến cuối thế kỷ 21, hầu hết các Giáo hội đều cử hành ngày lễ trọng này.
Ban đầu, ở Tây phương, người ta có thói quen cử hành chung các biến cố hạ sinh của Giêsu vào ngày Giáng sinh, biến cố các đạo sĩ đến thờ lạy Chúa và cuộc tàn sát các Thánh Anh Hài. Nhưng khi Roma bắt đầu mừng lễ Hiển Linh thì hai biến cố cuối cùng này được tách rời ra khỏi ngày lễ 25 tháng Chạp để dành tôn kính các Đạo Sĩ là chủ đề chính cho ngày lễ trọng mới vào ngày 6 tháng Giêng. Lễ Hiển Linh trong phụng vụ Roma mang thông điệp chính là sự mạc khải của Đức Kitô cho mọi dân tộc được biểu tượng qua các Đạo Sĩ.
Với Giáo Hội Đông phương, lễ Hiển Linh đã trở thành đại lễ mừng thiên tính của Đức Kitô; mầu nhiệm Nhập Thể và sự thờ lạy của các Đạo Sĩ vì thế được cử hành vào ngày lễ Giáng Sinh. Sau đó lễ Hiển Linh ngày càng được hiểu như là lễ Đức Kitô Chịu Phép Rửa. Do đó mà ở Đông phương có tục lệ làm phép nước rửa tội, nước giếng rửa tội, các nguồn nước và sông suối vào dịp lễ Hiển Linh. Vào ngày này, nhiều đám đông kéo nhau đến bờ sông Giođan để dìm mình ba lần trong trong dòng sông theo như nghi thức rửa tội của Đông phương.
Hôm nay, ta nghe lại lời ngôn sứ Isaia từ 600 năm trước : ‘Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước ... Lạc đà đàn đàn che rợp đất, lạc đà Mađian và Epha, dân Saba hết thảy kéo lại, tải đến vàng với trầm hương và chúng cao rao lời khen ngợi Giavê’.
Isaia đã đưa ra những lời tiên đoán đầy phấn khởi về Giêrusalem vào ngày Đấng Cứu Thế xuất hiện.
Ngày ấy, Giêrusalem sẽ trở thành trung tâm ánh sáng và mọi người từ bốn phương trời sẽ tiến về đó với muôn vàn lễ vật. Nghiệt ngã thay vào ngày mà Con Thiên Chúa giáng sinh làm người như lời ngôn sứ Isaia loan báo, ánh sáng đã chiếu trên Giêrusalem, thì lại chỉ có những người ở ngoài mới nhận ra ánh sáng ấy, còn dân trong thành thì vẫn tiếp tục sống trong u tối. Dẫu rằng Giêrusalem đã chỉ rõ nơi vua dân Do Thái mới sinh ra, nhưng lại chỉ có những người ở ngoài mới tới thờ lạy Ngài.
Trang Tin Mừng hôm nay thuật lại chuyện các đạo sĩ Đông Phương đã theo ánh sao tìm đến triều bái Hài Nhi Giêsu mới giáng sinh tại Bêlem như lời đã loan báo tự ngàn xưa.
Kkhông phải bất ngờ cũng chẳng phải ngẫu nhiên chuyện Chúa Giêsu sinh ra. Chuyện này đã được loan báo từ thuở trước. Được chỉ dẫn, được dặn dò rất rõ ràng về Ngài nhưng rồi không gặp được Ngài.
Khuôn mặt Hêrôđê mà chúng ta vẫn thường nghe gắn liền với cái tên "bạo vương". Bạo vương Hêrôđê dù có binh hùng tướng mạnh trong tay muốn tìm Chúa Giêsu nhưng không gặp được Chúa. Ông không gặp Chúa Giêsu vì ông đã nghe tiên đoán về Ngài và sự xuất hiện của Ngài sẽ làm cho ông mất quyền lợi. Thế nên dù có tìm Chúa đi chăng nữa nhưng không phải để thờ lạy nhưng để giết chết. Ông tìm Chúa Giêsu không phải để tôn vinh Ngài nhưng để tôn vinh bản thân. Ông tìm Chúa Giêsu không phải để làm theo ý Ngài nhưng để bắt Ngài phải vâng theo ý ông. Vì thế Chúa Giêsu đã vượt thoát khỏi tầm tay của ông. Với tất cả những điều đó, vĩnh viễn Hêrôđê ông không gặp được Chúa Giêsu.
Vào thời Chúa Giêsu, bên cạnh khuôn mặt Hêrôđê bạo vương, chúng ta nhìn đến khuôn mặt của các kinh sư, biệt phái. Hơn ai hết, họ là những người hiểu biết Thánh Kinh. Họ đã đọc vanh vách lời ngôn sứ loan báo Đấng Cứu Thế sinh ra tại Bêlem khi ba nhà đạo sĩ đến hỏi thăm họ. Họ hiểu và biết rất nhiều về lý thuyết nhưng không thực hành, vì thế họ không gặp được Chúa. Ngồi một chỗ mà không chịu lên đường. Chỉ chú ý tới chữ nghĩa sách vở mà không chú ý tới cuộc sống con người. Chỉ tìm trong sách vở mà không tìm những dấu chỉ thời đại, dấu chỉ trong đời thường nhật của họ.
Chuyện hài hước mà chúng ta thấy ở đây đó là với những người xem ra gần gũi nhất, hiểu biết nhất, có phương tiện nhất đã không gặp được Chúa Giêsu. Ngược lại, những người có vẻ nghèo hèn, thiếu thốn phương tiện, xa xôi cách trở lại gặp được Chúa Giêsu. Họ là ai ? Họ là những mục đồng đơn sơ nghèo nàn và đặc biệt nhất là ba nhà đạo sĩ mà ta nhớ đến trong thánh lễ hôm nay.
Những người này đã gặp được Hài Nhi Giêsu bởi vì họ đã cất bước lên đường tìm Hài Nhi. Dù không hay không biết không nghe lời ngôn sứ loan báo và thậm chí họ cũng chẳng biết lời hứa, không thuộc Thánh Kinh, nhưng khi thấy ngôi sao lạ, họ đã lên đường ngay tức khắc. Lên đường nói lên thái độ vâng theo ơn Chúa sáng soi cho họ. Vì dấn thân mạnh mẽ cho thái độ vâng theo ơn Chúa soi sáng nên họ lên đường. Thái độ lên đường nói lên lòng cương quyết đi tìm. Và khi lên đường như vậy, họ chấp nhận gian khổ để đạt được điều mơ ước.
Lòng khao khát của họ được đáp trả khi họ gặp được Hài Nhi Giêsu. Với lòng khao khát kiếm tìm chân lý nên đêm đêm họ không ngừng quan sát bầu trời tìm kiếm ánh sao. Nhìn cả bầu trời bao la họ thấy duy chỉ một ánh sao lạ xuất hiện và như vậy họ đã nhận biết. Khao khát chân lý nên khi Chúa vừa tỏ mình qua dấu hiệu ngôi sao, họ đã vội vã theo sát dấu ánh sao đi tìm. Khao khát gặp Chúa nên khi ánh sao vụt biến mất, họ đã không nản lòng, quyết tâm dò hỏi cho ra.
Và với tâm hồn đơn sơ chân thành nên họ đã gặp được Hài Nhi. Họ đi tìm Đấng Cứu Độ trần gian chứ không tìm bản thân. Đi tìm Đấng Cứu Độ trần gian để thỏa lòng khao khát chân lý chứ không để thỏa mãn tính tò mò, thỏa mãn những tham vọng đen tối của cá nhân mình. Họ đi tìm Chúa để thờ lạy Chúa chứ không vì lợi lộc cá nhân. Với tâm hồn đơn sơ như vậy, dù ý Chúa và dấu chỉ hết sức nhẹ nhàng qua một ánh sao nhưng họ đã nhận ra ý Chúa. Với tâm hồn hết sức đơn sơ như thế, dù Chúa có ẩn thân dưới hình dáng một em bé yếu ớt nghèo nàn, trong khung cảnh rất tồi tàn của chuồng bò hôi hám họ đã nhận ra Chúa đang ở đó.
Niềm tin, lòng đạo của ta là một hành trình dài của chuỗi ngày tìm kiếm và sống. Nhìn vào gương của các nhà đạo sĩ, ta sẽ nhận ra Chúa khi ta có tâm hồn đơn sơ thành thực, có lòng khao khát Chúa vì chính Chúa, và dám dấn thân thực hành những điều Chúa truyền dạy, đặc biệt là giới răn bác ái, phục vụ Chúa trong những anh em nghèo khổ.
Không dừng ở việc gặp Chúa, các nhà đạo sĩ đã lên đường để loan báo Đấng Cứu Độ trần gian. Họ chính là những ngôi sao sống động để chỉ cho người khác sự hiện diện của Ngôi Lời nhập thể. Và như vậy, là người kitô hữu, chúng ta cũng được mời gọi mặc lấy tâm hồn đơn sơ để gặp Chúa và khi gặp Chúa lại chiếu tỏa ánh sáng Giêsu trên cuộc đời ta như những ánh sao.
Ta được mời gọi toả sáng trong đời sống của mình. Qua lời mở đầu của Phúc Âm thánh Gioan, Chúa Giêsu chính là “ánh sáng thật đã đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1, 9), Người là ánh sáng ban sự sống, “sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1, 4-5). “Những ai tiếp nhận Người thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa, ban cho họ ân sủng và chân lý” (Ga 1, 9.17).
Là ngôi sao có nghĩa là phải có ánh sáng. Ngôi sao chỉ chiếu sáng khi chính bản thân nó có ánh sáng. Phản chiếu ánh sáng nhận tự nơi Thiên Chúa thế nên Kitô hữu chỉ chiếu sáng khi chính cuộc sống của mình mang ánh sáng của Đức Kitô.
Kitô hữu phải tỏa ánh sáng của niềm tin. Tin yêu Chúa và tin yêu người. Tin yêu để xây dựng một cuộc sống chan hoà tình người. Tin yêu đẻ tha thứ hoà giải. Tin yêu để vượt qua mọi bóng tối thù hận, chia rẽ, bất hoà. Tin yêu là làn ánh sáng ấm áp làm cho thế giới trở nên gần gũi, con người trở nên thân thiện, cuộc đời trở thành đáng yêu đáng mến.
Kitô hữu phải tỏa ánh sáng của niềm cậy trông. Niềm cậy trông vào ơn cứu độ của Chúa giúp ta vừng bước trên đường lý tưởng. Niềm trông cậy vào một trời mới đất mới cho ta thêm sức mạnh góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp. Niềm trông cậy vào hạnh phúc thiên đàng giúp ta đánh gía đúng mức của cải vật chất đời này. Trông cậy là ánh sáng làm tươi đẹp con người và cuộc đời.
Kitô hữu phải tỏa lên ánh sáng của công bằng, bác ái, yêu thương. Niềm hy vọng, niềm tin yêu được chứng minh bằng đời sống công bình, bác ái, yêu thương. Tin Chúa được biểu lộ qua sự công bình trong đời sống. Yêu Chúa được thể hiện qua tình bác ái với tha nhân.
Tất cả những ánh sáng mà người Kitô hữu phải có góp lại thành ánh sáng đích thực của người con cái Chúa. Ánh sáng đó là ánh sáng mang tên Giêsu.
Những đam mê vật chất, danh vọng sẽ khiến con người rơi vào bóng tối tuyệt vọng, không lối thoát. Nghi ngờ con người sẽ khiến cuộc đời chìm vào bóng tối cô đơn. Thiếu công bằng bác ái sẽ phủ lên thế giới mới một bóng tối phi nhân, tàn nhẫn. Chỉ có ánh sáng Giêsu mới đủ sức phá tan những bóng tối ấy. Chỉ có ánh sáng Giêsu mới làm cho thế giới thành vui tươi hạnh phúc.
Với tất cả những điều đó, ta hãy toả sáng trong cuộc đời qua lời nói của chúng ta khi gắn bó với Chúa Giêsu là Ngôi Lời. Từng lời ăn tiếng nói của ta phải là những lời tốt đẹp mang lại niềm vui, hạnh phúc, hy vọng, ơn cứu độ cho con người thay vì lời nói xấu, nói dối, nói tục, lời tiêu cực làm cho người khác buồn phiền, chán nản, thất vọng.
Ta hãy toả sáng trong hành động. Những hành động xấu xa, gian ác, tiêu cực đều xúc phạm đến Thiên Chúa trong lòng con người cũng như trong vạn vật. Dù không có ai biết, ai thấy hay khen tặng, ta cũng vẫn hành động tích cực, vẫn chăm chỉ học hành, suy nghĩ tốt, làm việc tốt, làm tất cả những gì Chúa muốn vì Chúa đang nhìn ta và ban thưởng cho ta. Hành động như thế là chúng ta toả sáng.
Khi ý thức được như vậy chúng ta mới chăm chỉ học hành, làm việc, đào luyện tài năng, chơi đùa, giải trí cho đúng đắn thì chúng ta mới đạt được kết quả tốt đẹp để làm chứng cũng như làm cho ánh sáng Giêsu được lan tỏa.
Hôm nay, mỗi người chúng ta được mời gọi trở thành những ngôi sao thật sự toả sáng trong đêm tối cuộc đời để người khác nhận ra Chúa Cứu Thế bằng đời sống kết hợp mật thiết với Chúa và chân thành yêu thương nhau. Như thế là chúng ta mang lại niềm vui, hạnh phúc và ơn cứu độ cho gia đình cũng như cho xã hội hôm nay. Với ánh sáng nhỏ bé của ta và của nhiều người thành tâm thiện chí như ta góp lại sẽ tràn ngập ánh sáng và niềm vui mà Chúa muốn chúng ta thể hiện từ Mùa Giáng Sinh này.
Thế giới đang mong chờ ánh sao dẫn đường. Chúa đang mời gọi chúng ta trở thành một ngôi sao chiếu lên làn ánh sáng đạo đức. Chính qua ánh sáng Giêsu mà ta có trong đời của ta mọi người sẽ nhận biết và yêu mến Chúa.
Lm Anmai, CSsR 2014
Chúa nhật Hiển linh - năm A
Is 60, 1-6; Ep 3, 2-3a.5-6; Mt 2, 1-12
TRỞ VỀ TRÊN CON ĐƯỜNG MỚI !
Năm nào cũng vậy, trang Tin mừng Chúa nhật “Lễ Hiển Linh” thuật lại câu câu chuyện các nhà đạo sĩ đi thờ lạy Chúa. Câu chuyện ấy dễ hiểu và hay. Trang Tin mừng hôm nay không nói rõ con số người đi thờ lạy Chúa và nhất là những người ấy không nhất thiết phải là vua. Có lẽ họ là những nhà chiêm tinh. Nhưng vì bài Tin Mừng kể họ dâng 3 thứ lễ vật, nên người ta đã muốn có mỗi người mang một thứ. Và khung cảnh câu chuyện một phần đã xảy ra trong đền vua, nên dân chúng dễ coi họ là vua.
Thánh vịnh 72 vừa được cất lên trong câu đáp ca chúng ta vừa nghe :
Tâu Thượng Đế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương,
trao công lý Ngài vào tay Thái Tử,
để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý,
và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn ...
Từ Tác-sít và hải đảo xa xăm,
hàng vương giả sẽ về triều cống.
Cả những vua Ả-rập, Xơ-va,
cũng đều tới tiến dâng lễ vật.
Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng,
muôn dân nước thảy đều phụng sự.
Người giải thoát bần dân kêu khổ
và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương,
chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo.
Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ,
Thánh Vịnh 72 nhắc đến các vua Tarsis. Ảrập và Saba đến dâng lễ vật cho Chúa, lại thêm một cớ cho người ta khẳng định các người đến thờ lạy Chúa trong câu chuyện hôm nay là các vua.
Nếu hiểu lễ hôm nay là lễ kính nhớ câu chuyện các vua đi thờ lạy Chúa thì cũng không đúng. Ai cũng biết, Phụng vụ đã gọi tên ngày lễ hôm nay là Hiển Linh, tức là Chúa vinh hiển hiện ra, tỏ mình cho nhân loại. Việc soi sáng, việc tỏ mình cho lương dân đến thờ lạy là điều hết sức quan trọng. Nơi máng cỏ, Chúa đã hiển linh khi cất tiếng khóc chào đời; trong ngày chịu cắt bì và nhận Tên là Giêsu, Chúa Giêsu đã hiển linh cho các mục đồng. Đặc biệt hôm nay Phụng vụ nhấn mạnh đến việc Người tỏ mình ra cho lương dân. Giáo Hội gồm hầu hết các dân tộc trước kia là lương dân, chưa hay không nhận biết Chúa nên hôm nay Giáo Hội mừng lễ này thật long trọng. Giáo Hội cảm nhận Thiên Chúa thương yêu thương mình một cách lạ lùng.
Các bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay nói lên hạnh phúc của Dân Chúa. Isaia say sưa nhìn ngắm vinh quang của Giêrusalem :
Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi.
Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi.
Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân;
còn trên ngươi Đức Chúa như bình minh chiếu toả,
vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.
Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi,
vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước.
Đang khi các dân tộc chìm đắm trong u tối thì chỉ một mình Giêrusalem nổi lên rực sáng. Ánh sáng của Chúa chiếu soi, vinh quang của Người tỏa xuống chứ không phải tự sức của. Các dân tộc liền châu về Giêrusalem: nào thuyền bè từ đại dương, nào lạc đà từ sa mạc, chở muôn dân đến thờ lạy Chúa.
Isaia có bao giờ nhìn thấy một cảnh tượng tưng bừng như thế không ? Lịch sử Israel được mấy lúc như thời Saolomon, mà vua bà Saba nghe tiếng đã tìm tới ? Chắc chắn Isaia đã tiên báo về thời cứu thế. Những lời tiên báo của Isaia sẽ chỉ hoàn thành khi, như lời Chúa nói: người phương Đông phương Tây sẽ tuôn vào Nhà Chúa, trong khi con cái trong nhà sẽ bị đuổi ra ngoài. Chỉ trong ngày Chúa quang lâm mới thực hiện hoàn toàn những lời ngôn sứ trên.
Tưởng chừng lời loan báo ấy ấy là những lời vu vơ nhưng tiên báo của Isaia ngày xưa nay đang và đã thành hiện thực. Ngôi sao chỉ đường đã đứng lại trên nơi Hài Nhi trú ngụ. Giêrusalem bừng sáng chính là Đức Kitô mà hôm nay các đạo sĩ tìm đến thờ lạy. Giáo Hội được mời gọi làm chứng cho Giáo Hội là thành Giêrusalem mới. Và vì vậy mỗi giáo xứ, mỗi cộng đoàn và mỗi người tin hữu là đền thờ của Chúa - là một Giêrusalem khác. Giêrusalem khác ấy mang trong mình sự thánh thiện của Chúa, được chiếu sáng bởi anh sáng của Đức Kitô.
Khi nhắc đến kitô hữu chúng ta nghĩ cảm thấy hạnh phúc vì hồng ân cao cả mà Chúa đã đoái thương chọn mỗi người làm mình làm nơi cho Người hiển linh. Từ ngày chịu phép Thanh Tẩy, mọi tín hữu đã được trao cây nến cháy để trở thành ánh sáng của Chúa giữa thế gian, để nên Giêrusalem rực sáng trước mặt tiên tri Isaia. Hôm nay chúng ta hãy nhận ra vinh quang của mình, tức vinh quang của Chúa sáng trên ta, để chúng ta sáng lên trước mắt mọi người.
Hôm nay, chúng ta dừng chân lại để nhìn về Giáo Hội, nhìn xứ đạo, nhìn cộng đoàn và nhìn mỗi người chúng ta. Chúng ta phải cầu xin, phải xây dựng để mọi cộng đoàn Kitô giáo làm tròn sứ mệnh của mình; trở nên các Giêrusalem rực sáng cho mọi người mang lễ vật đến thờ lạy Chúa, kết hợp mọi dân vào gia nghiệp Lời Hứa. Để được như vậy, để có được một Giáo Hội bừng sáng, mỗi người chúng ta phải bắt chước lên đường thờ lại Chúa như các đạo sĩ.
Chúng ta vẫn thường suy nghĩ, trăn trở rằng các đạo sĩ kia từ bên Đông tới nhưng thuộc nước nào ? Hêrôđê đã cặn kẽ hỏi họ về thời gian ngôi sao đã hiện ra khi nào ? Khi đọc kỹ Tin mừng, chúng ta không hề thấy thánh Matthêu ghi lại câu trả lời. Và nhất là làm sao họ đã nhận ra ngôi sao lạ đó, biết ngay là dấu chỉ một vua Do thái mới sinh ra, và vì sao lại phải thờ lạy vua đó ? Thánh Matthêu dường như không để ý đến những bận tâm nhỏ nhoi ấy của chúng ta. Thánh Matthêu chỉ khẳng định một điều: các đạo sĩ tin chắc chắn Hài Nhi mới sinh là Vua và là Chúa, tức là Chúa Cứu thế mà muôn dân trông đợi. Tin như vậy và rồi họ đã mang theo vàng, nhũ hương và mộc dược làm lễ vật. Đó là những sản phẩm quý giá của miền Ảrập, dùng trong đền vua. Mà ở Đông phương, vua cũng là chúa nên đền vua sơn son thiếp vàng thường phảng phất mùi hương. Và mộc dược được dùng trong việc ướp hoặc liệm xác các hoàng đế.
Các đạo sĩ tin như vậy chỉ vì một ánh sao còn tâm tình của các tư tế và luật sĩ Do thái như thế nào ? Tư tế, luật sĩ Do Thái trong tay có sách Thánh và thuộc Thánh Kinh làu làu nhưng không hề nhận ra Đấng Cứu Độ trần gian giáng sinh. Thánh Matthêu đã nhấn mạnh điều này trong bài tường thuật này một cảm tình chua chát trong lòng. Matthêu muốn gửi đến trước cho độc giả về cuộc tử nạn của Đấng Cứu Độ trần gian. Tư tế và luật sĩ cung cấp cho Hêrôđê những tài liệu ông để thi hành tội ác là giết trẻ thơ. Và thật, sau khi Hài Nhi cất tiếng khóc chào đời, Hêrôđê đã ra tay giết bao đứa trẻ khác trong đó có Hài Nhi Giêsu. Điều nghịch lý đó là lương dân được ơn Chúa soi sáng, đã nhận biết Chúa và thờ lạy Người. Các đạo sĩ ở đây tiêu biểu cho họ. Các đạo sĩ là đại diện khuôn mặt của lòng tin của, của những người được Chúa kêu gọi và soi sáng. Thấy ánh sao, các ông đã bỏ hết mọi suy nghĩ cũ kỹ, từ giã mọi sự để lên đường hân hoan và đơn thật đến nỗi dường như không đoán biết ý đồ đen tối của Hêrôđê, cũng như không ngần ngại sấp mình thờ lạy một Hài Nhi mà bề ngoài xem ra chẳng có gì khác thường.
Chúng ta có thể bắt chước niềm tin như vậy không ?
Không những chúng ta có thể mà còn phải bắt chước niềm tin của các đạo sĩ, vì mục tiêu của ngày lễ hôm nay là vậy. Chúng ta phải từ bỏ thái độ cứng lòng tin và tăm tối của hàng tư tế và luật sĩ Do thái và theo chân các đạo sĩ lên đường tìm kiếm Giêsu. Ranh giới giữa tin và không tin rất mong manh. Nếu không tỉnh chúng ta sẽ luôn sống như các tư tế và luật sĩ Do thái. Chúng ta có Thánh Kinh ở trong tay như những tư tế và luật sĩ và chúng ta cũng sơ cứng như họ.
Chúng ta thuộc giáo lý của Chúa thật nhiều và nếu có ai hỏi chúng ta tư tưởng đạo đức nào, chúng ta có thể trả lời ngay. Nhưng chúng ta chẳng bao giờ thực hành, chẳng muốn sống theo lời Chúa dạy bảo. Chúng ta chỉ muốn quên các đòi hỏi của Tin Mừng để sống theo bản năng, dục vọng; cố gắng hưởng đời theo các phương tiện ích kỷ. Chúng ta dần dần đánh mất lòng nhiệt thành của ngày Thanh Tẩy, rước lễ lần đầu, chịu phép Thêm sức, hoặc Hôn phối, tĩnh tâm và được những ơn đặc biệt.
Những ngày ấy, chúng ta đã yêu Chúa hết lòng hết sức, hết linh hồn nhưng dần dần niềm tin, lòng mến thuở ban đầu ấy nhạt dần. Ngày ấy, với ngọn nến sáng trong tay, chúng ta chiếu sáng như thành Giêrusalem được chiếu sáng bởi ánh sáng của Chúa Kitô.
Xã hội ngày mỗi ngày được đổi mới và xã hội đang thúc giục chúng ta từ bỏ con người và nếp sống cũ để bước vào đời sống mới, đời sống tốt đẹp hơn. Giáo hội Việt Nam vừa mừng kỷ niệm năm Thánh, Giáo Hội đang muốn vươn lên trong giai đoạn mới. Bí tích Thánh Thể luôn luôn đưa chúng ta vào mầu nhiệm Phục sinh, tức là sống lại, sống mới. Mỗi Thánh lễ là một cuộc hiển linh của Chúa trong cuộc đời của chúng ta.
Với tất cả tấm lòng, chúng ta được mời đến ngôi Thánh Đường này để thờ lạy Chúa. Tấm lòng thật của chúng ta thật với Chúa khi chúng ta bắt chước các đạo sĩ. Sau Thánh Lễ này, chúng ta ra về "bằng con đường khác" như lòng Chúa mong muốn nghĩa là trở về đời thường với tâm tình mới, với thái độ mới. Xin Chúa ban cho chúng ta tận tâm xóa bỏ cái cũ, xây dựng cái mới để tiến vào thành đô Giêrusalem trên Thiên Quốc.
Lm Anmmai, CSsR
Lm Anmai CSsR - dongcongnet