dongcong.net
 
 

Suy Niệm Chúa nhật mùa vọng năm A

ĐỨC MARIA SỐNG TÂM TÌNH MÙA VỌNG

December 10, 2013
Một ngày đẹp trời kia, ở cái vườn nọ có cái tên là Ê-đen có hai vợ chồng đang sống trong an bình hạnh phúc bỗng dưng hóa trần truồng ...
Không gian, thời gian, con người và sự kiện đó nhiều người biết đến qua câu chuyện ghi lại trong sách Sáng Thế.
Thiên Chúa là vị Thiên Chúa tuyệt hảo. Thiên Chúa tạo dựng trời đất, muôn vật muôn loài và Ngài đã tạo dựng nên con người giống hình ảnh của Ngài. Hơn thế nữa, nét đẹp của tấm lòng Thiên Chúa đó là :
Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy,
ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên,
cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo,
đặt muôn loài muôn sự dưới chân:
            Nào chiên bò đủ loại,
nào thú vật ngoài đồng,
nào chim trời cá biển,
mọi loài ngang dọc khắp trùng dương. (Tv 8, 6-9)
Nhưng, hỡi ôi, hai ông bà nguyên tổ đã không đủ tỉnh thức đủ để nhận ra tình thương bao la của Thiên Chúa. Hai ông bà đã khước từ, đã đánh đổ tình thương đó. Và, ngay lúc ông bà phạm tội, tình yêu Thiên Chúa vẫn dẫy tràn trên cuộc đời của hai ông bà. Ta bắt gặp tình thương đó ở sách Sáng Thế, chương 3, 14.15 : Đức Chúa là Thiên Chúa phán với con rắn: "Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi. Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó."
Dòng giống được Thiên Chúa tuyển chọn, yêu thương đó sẽ là dân riêng của Ngài và sẽ chiến thắng con rắn dữ xưa, chiến thắng kẻ thù mưu ma chước quỷ xưa trong vườn Địa Đàng. Dòng giống Thiên Chúa tuyển chọn ấy có tên là Israel.
Qua dòng chảy lịch sử cứu độ, ta thấy Israel là một dân sống bằng hy vọng bởi vì họ đã ra đời, đã dựng nước, đã sống dựa trên một lời hứa của Thiên Chúa làm nền tảng. Lời hứa mà Thiên Chúa đã hứa với tổ phụ Abraham được nhiều lần lặp lại bằng cách này hay cách khác với các con cháu của ông : “Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân tộc hùng mạnh, sẽ ban cho ngươi một miền đất phì nhiêu làm quê hương, Ta sẽ chúc phúc cho ngươi và con cháu ngươi, và qua ngươi, Ta chúc phúc cho các dân tộc khác. Ta sẽ là Chúa của các ngươi và các ngươi sẽ là dân riêng của Ta”.
Lời hứa mà Thiên Chúa hứa với Abraham đã được long trọng lặp lại nhiều thế kỷ sau với vua Đavít qua miệng Ngôn sứ Nathan. Ngôn sứ nói rằng Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện từ dòng dõi nhà vua một người con; người con này sẽ là vị Cứu Tinh, Người sẽ tái lập vương quốc Đavít và sẽ trị vì mãi mãi.
Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời, lịch sử của dân tộc Israel cũng vậy. Ta thấy có những thời Israel cực thịnh nhưng cũng có những lúc cực suy và có những lúc rơi vào hoàn cảnh bi đát gần như tuyệt vọng. Trong nỗi thất vọng nhưng có một niềm hy vọng vẫn lóe lên trong cuộc đời của họ. Niềm hy vọng của Israel như là sợi chỉ đỏ chạy xuyên suốt qua dòng lịch sử. Họ luôn luôn quay về với Lời Hứa của Chúa để tìm lẽ sống cho mình, nhất là những khi cùng đường tuyệt vọng. Và Chúa luôn luôn tỏ ra rất trung thành với lời hứa, có điều là lắm khi đường lối của Người theo rất lạ lùng, khó hiểu.
Sống dưới ách nô lệ của Ai Cập, dân Do Thái vẫn ngóng trông, vẫn mong đợi ngày giải phóng suốt mấy trăm năm. Thế rồi Thiên Chúa đã sai Môsê đến làm vị cứu tinh của họ.
Vừa bước chân ra khỏi Ai Cập, dân Do Thái lại ngóng chờ được vào chỗ định cư, nơi có sữa và mật chảy thành suối như lời hứa.
Niềm hy vọng của dân Do Thái không dừng lại ở đất hứa. Khi vừa đặt chân đến đất hứa rồi, họ vẫn chưa hết chờ mong vì vẫn chưa được như lòng sở nguyện. Sau những thế kỷ lập quốc khá hùng mạnh, đến lúc họ lại bị nước mất nhà tan và bị bắt đi lưu đầy ở Babylon, năm 586 trước công nguyên. Nơi chốn lưu đày họ lại mong lại chờ, và Chúa  đã sai vua Kyrô nuớc Ba Tư đưa họ về quê cha đất tổ và tái thiết lại Đền Thờ. Đền thờ cuối cùng bị phá huỷ là vào năm 70 thời tướng Lamã Titus. Dân Israel lại rơi vào ách thống trị của đế quốc Rôma. Và họ lại chờ mong một vị cứu tinh mới.
Nhìn lại niềm hy vọng của Do Thái, ta thấy niềm hy vọng của họ chỉ gói ghém, chỉ hạn hẹp, chỉ được giới hạn ở cái nhìn của phàm tục, của vật chất, của hư danh dẫu rằng quá nhiều lần cũng như quá nhiều ngôn sứ nhiều lần dạy họ phải mở rộng cái nhìn vật chất hẹp hòi đó. Các ngôn sứ đã hướng họ nhìn và trông mong Đấng Cứu Độ trần gian chứ không phải đấng đến để làm cho họ được vinh quang với cái vẻ bên ngoài.
Thiên Chúa cũng đã thử thách dân Do Thái nhiều lần và nhiều cách. Có lúc niềm tin vào Đấng Cứu Độ trần gian bừng lên mạnh mẹ nhưng rồi cũng có những người chán nản thất tín bất trung. Nhiều đại họa đến với dân và làm cho dân nản chí nản lòng.
Trong số những người Do Thái chờ đợi trong niềm tin, hy vọng trong niềm cậy trông đó nổi lên khuôn mặt hết sức dễ thương đó chính là Đức Trinh Nữ Maria.
Maria (Miryam), một tên rất phổ biến, giống như tên Mai, Lan, Cúc, Trúc trong giới phụ nữ Việt Nam ta. Giả như Maria sinh ra ở Việt Nam, Maria sẽ mang một cái tên hết sức gần gụi Trần Thị ..., Đặng Thị ... Đơn giản là như thế. Về quê quán, Đức Maria là người làng Nazareth (Lc 1, 26), một làng rất tầm thường như về sau ông Nathanael một môn đệ Đức Giêsu đã nhận xét: “Từ Nazareth làm sao có cái gì hay được?” (Ga 1, 46).
Mẹ đã đến thế gian, Mẹ đã đi vào trần gian, Mẹ được sinh hạ bởi tình yêu, bởi huyết nhục của GioaKim và Anna.
Cũng như bao nhiêu người nữ khác nói riêng và như bao nhiêu người Do Thái, Mẹ Maria cũng trông chờ Đấng Cứu Độ trần gian đến. Giản đơn, qua lịch sử, ta thấy Đức Trinh Nữ Maria là ai: là một thiếu nữ Do thái, hết lòng mong đợi ơn cứu chuộc dân tộc của mình. Ngày ngày, Maria lên Đền Thờ cầu nguyện và nghe Lời Chúa. Maria đã sống niềm hy vọng vào Đấng Cứu Độ trần gian từ độ còn xuân. Maria luôn luôn nghiền ngẫm Thánh Kinh để rồi Maria nhớ lại lời Chúa đã dùng ngôn sứ Nathan mà thề hứa với vua Đavít xưa.
Và rồi, cũng bỗng đến ngày kia, giờ kia, không phải là cái giờ đại họa đến cho con người khi ông bà nguyên tổ phạm tội mà đến cái giờ con người được hưởng hồng phúc, được hưởng ơn cứu độ. Giờ ấy chính là giờ sứ thần truyền tin cho Maria.
Hoàn toàn bất ngờ, hoàn toàn không hiểu, hoàn toàn ngạc nhiên. Chẳng bao giờ Maria nghĩ đến lời ngôn sứ ngày xưa lại rơi vào cuộc đời của mình. Chuyện “không thể” được đầu tiên là làm sao mình có thể sinh con được vì đã quyết “không biết đến chuyện vợ chồng” để sống trọn vẹn cho một mình Thiên Chúa mà thôi?
Thế nhưng, bình tĩnh để nghe sứ thần giải thích rằng “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, Maria đã khiêm nhường thưa lại: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).
Niềm hy vọng của Maria được nung nấu, được nuôi dưỡng trong tâm tình tỉnh thức, chờ đợi và đặc biệt nhất đó là hoàn toàn khiêm hạ để đón Ơn Cứu Độ trần gian đến trong đời của Mẹ. Nếu như Mẹ không tỉnh thức, không suy niệm lời Chúa, không hoàn toàn bỏ ngõ đời mình cho Thiên Chúa, cho Thánh Ý Thiên Chúa thì Đấng Cứu Độ trần gian sẽ không đến với Mẹ.
Với tâm tình đó, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người trong lòng Đức Trinh Nữ. Và thế là Đức Maria khiêm nhường đã trở thành thánh mẫu của Thiên Chúa.
Ta bắt gặp Đức Maria đã sống hết sức mạnh mẽ niềm hy vọng chờ mong ơn cứu độ của dân tộc mình. Hơn thế nữa, Mẹ đã trở thành dụng cụ đặc biệt Chúa dùng để thực hiện ý định cứu độ vì Mẹ là một tâm hồn nghèo khó, khiêm nhường, tuyệt đối tin tưởng và gắn bó trọn vẹn vào Thiên Chúa.
Sống Mùa Vọng, Giáo Hội đặt chúng ta lại trong thái độ khao khát chờ mong Chúa đến cứu độ chúng ta.
Ta chờ ai, mong ai, đón ai đến trong cuộc đời của ta ?          
Bài học của dân Do Thái ngày xưa dẫu là xưa nhưng vẫn là bài học còn rất mới và rất tốt cho mỗi người chúng ta. Đôi khi, ta cũng lầm đường lạc lối là hy vọng, chờ mong, đạt được những cái gì hạn hẹp trong cái đợi, cái mong của vật chất, của hạ giới chứ không về thượng giới, về Ơn Cứu Độ.
Nếu chúng ta cứ lầm lũi chờ đợi vật chất, danh vọng, quyền lực, lợi lộc trần gian ta sẽ đánh mất cái cảm thức của chờ đợi Đấng Cứu Thế. Và với tâm tình đó, ta sẽ không khiêm hạ đủ như Mẹ Maria để đón Đấng Cứu Độ trần gian vào đời mình như bao nhiêu người đã đánh mất Ơn Cứu Độ.
Ta hãy thức tỉnh và đặc biệt hơn cả là hãy noi gương Đức Maria: ý thức mình là kẻ nghèo khó khiêm nhu, sống phó thác vào Chúa. Và cũng cần lắm là noi gương của Mẹ sẵn sàng để cho Chúa sử dụng vào công cuộc cứu độ của Người đang thực hiện cho bản thân chúng ta và cho toàn thế giới.
Anmai, CSsR December 10, 2013

MẸ TINH TUYỀN 2013
Con rắn bước vào trần gian đã để lại cho tội lỗi. Tội lỗi do con rắn "gửi" vào trần gian ngang qua người đàn bà mang tên Eva. Cũng từ tội lỗi đó đã làm cho dòng dõi của con người phải chịu biết bao nhiêu hệ lụy.
Trước một nhân loại mang đầy vết nhơ của tội lỗi, Thiên Chúa không những không ngoảnh mặt đi mà còn yêu thương con người hơn xưa nữa. Tình thương ấy không thể lý giải, không thể hiểu được bởi lẽ đó là mầu nhiệm yêu thương mà Thiên Chúa dành cho con người.
Tình thương Thiên Chúa dành, Thiên Chúa trao ban cho con người được Thiên Chúa ngỏ lời qua các ngôn sứ.
Qua miệng ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa nói với dân như thế này :
"Hãy đến đây, ta cùng nhau tranh luận!
Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết;
có thẫm tựa vải điều, cũng hoá trắng như bông. (Is 1, 18)
Và rồi, qua miệng ngôn sứ Ezekien rằng: "Ta không muốn kẻ có tội phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối mà được sống" (Ez 33, 11).
"Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. (Ez 36, 26).
Tình yêu được loan báo đó đã hiện thực nên bằng chính cuộc đời của Con Một yêu dấu. Con Một của Thiên Chúa xuống trần gian sống kiếp phàm nhân như con người để cứu con người. Sống thân phận làm người, mang thân phận yếu đuối của con người, cùng chung chia cuộc sống kiếp phàm nhân nhưng duy chỉ một điều là không vương tội đời.
Chúa Giêsu không vương tội đời để rồi khi được Mẹ Maria cưu mang cũng không mang vết tích của tội nguyên tổ.
Đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Mẹ Maria đã được Đức Giáo Hoàng Pio IX tuyên bố thành Tín điều ngày Lễ Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, mồng 8 tháng 12 năm 1854, bắt buộc hết mọi tín hữu phải tin.  
Tín điều Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội như sau : "Đạo lý dạy rằng, ngay từ phút đầu tiên để thành thai, Đức Trinh Nữ Maria đã được ơn thánh và ơn đặc biệt của Thiên Chúa toàn năng, nhờ vào công nghiệp của Đức Kitô, Đấng Cứu Thế, mà Thiên Chúa đã thấy trước, thì Đức Mẹ không hề vướng mắc bất cứ tì ố nào của tội Nguyên Tổ. Đó là điều Thiên Chúa đã mạc khải và vì thế hết mọi tín hữu phải tin chắc chắn và vững vàng."
Trước tiên Đức Thánh Cha xác định rằng Đức Mẹ được giữ gìn khỏi mắc tội nguyên tổ, và đó là một đặc ân Thiên Chúa ban cho một mình Người mà thôi. Nhưng được gìn giữ cho khỏi vướng tội nguyên tổ mới chỉ là một mặt. Khía cạnh thứ hai, có thể nói là khía cạnh tích cực hơn, là Đức Maria ngay từ phút đầu tiên trong lòng mẹ đã được tràn đầy ân sủng, đuợc sống trong mối quan hệ thân mật với Thiên Chúa Ba Ngôi, và mãi mãi về sau không bao giờ sống trong tình trạng xa lìa Thiên chúa. Chúng ta biết, sau này khi truyền tin cho Trinh Nữ Maria, sứ thần Gabriel đã thưa với Người: "Kính chào Bà đầy ân sủng". Đúng hơn (sát với nguyên văn hơn) phải nói: "Mừng vui lên, hỡi Đầy Ân Sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà!" "Đầy Ân Sủng" được dùng như là tên riêng của Đức Maria vậy. Chính vì tràn đầy ân sủng như thế mà linh hồn Mẹ không còn một kẻ hở nào, dù là nhỏ nhất, cho tội lỗi có thể lọt vào. Ánh sáng đầy ắp thì không có chỗ cho bóng tối. Mẹ là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội vì Mẹ được tràn đầy ân sủng. 
Và, điều chúng ta lại hoàn toàn tin tưởng vào Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đó chính là qua lời sứ thần truyền tin cho Mẹ Maria : "Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được." (Lc 1, 37).
Vâng ! Với con người, con người không làm được những điều mà Thiên Chúa làm. Đó là lẽ dĩ nhiên bởi lẽ con người đã phạm tội và vì tội phạm đã làm cho con người không còn làm được điều gì nữa.
Mẹ Maria, trong thân phận làm người, Mẹ cũng ý thức phận nữ tỳ nhỏ bé của Mẹ nhưng Mẹ đã đặt hết cuộc đời và hơn nữa Mẹ đã đặt hết niềm tin vào Thiên Chúa để Mẹ chỉ biết thân thưa với sứ thần hai tiếng "xin vâng". Thời điểm cũng như lời thưa hai tiếng "xin vâng" của Mẹ chính là lúc mà Mẹ thật sự bước vào trần gian để cứu con người khỏi tội lỗi. Mẹ đã đảo ngược con người tội lỗi của Eva bất tuân bằng hai tiếng xin vâng.
Thiên Chúa có cách của Ngài, Thiên Chúa yêu thương con người và rồi Ngài làm tất cả vì yêu thương. Vì làm tất cả, vì yêu thương nên Chúa đã tuyển chọn Mẹ và đã trao gửi con yêu của mình trong cung lòng của Mẹ để cứu độ trần gian.
Mẹ Vô Nhiễm, Mẹ Tinh Tuyền để Mẹ cứu con người khỏi bợn nhơ của tội lỗi.
Bí quyết để cứu con người của Mẹ cũng chẳng có con đường nào khác hơn đó là con đường khiêm hạ. Con đường khiêm hạ mà Mẹ đi cũng là con đường mà Mẹ họa lại con đường của Chúa Giêsu con Mẹ :
Đức Giê-su Ki-tô
vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự.
Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người
và tặng ban danh hiệu
trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. (Pl 2, 6-9)
Ngang hàng đó nhưng Chúa Giêsu đã chấp nhận, đã đồng hàng với con người tội lỗi.
Chúa Giêsu đã xếp hàng cùng với tội nhân để lãnh phép rửa của Gioan Tẩy Giả bên dòng sông Giođan.
Chúa Giêsu đã đồng bàn với người thu thuế tội lỗi.
Chúa Giêsu đã ngồi lại với người phụ nữ ngoại tình để chấp nhận mang tiếng dèm pha chỉ trích.
Đỉnh điểm của lòng khiêm hạ, Chúa Giêsu đã chịu khổ hình và chịu đóng đinh ở hai tội nhân. Không còn tủi nhục nào cho bằng tủi nhục bị liệt vào hàng của tội nhân.
Cùng thân cùng phận với Đấng vô tội bị liệt sỉ nhục, bị giết cùng với tội nhân không có ai khác ngoài Đức Trinh Nữ Maria. Mẹ đã cưu mang Đấng Cứu Độ trần gian từ ngày đón nhận lời sứ thần cho đến giây phút cuối cuộc đời của con Mẹ. Mẹ đã tự khiêm tự hạ thẳm sâu để quyền năng Thiên Chúa đổ trên đời Mẹ đặc biệt đó là quyền năng, đó là đặc ân, đó là ơn ban Vô Nhiễm.
Chúa Giêsu và Mẹ Maria không vươn chút bợn nhơ và lòng tinh tuyền vẹn sạch đã sống lòng khiêm hạ đến tột cùng.
Gần chúng ta, một tấm gương sáng bước theo con đường của Chúa Giêsu, của Mẹ Maria, của các thánh đó là Đức Thánh Cha Phanxicô.
Khi được hỏi Ngài là ai, Đức Thánh Cha Phanxicô nói : “Tôi không biết mô tả thế nào là phù hợp nhất… Tôi là một tội nhân. Đây là định nghĩa chính xác nhất. Đây không phải là một lối nói hoa mĩ hay văn chương. Tôi là một tội nhân.”
Phần chúng ta, ai trong chúng ta can đảm nhận mình là không mắc tội.
Mang trong phận mình là người tội lỗi, chúng ta cũng hãy sống, hãy đi theo con đường khiêm hạ để chúng ta được đón nhận ơn tha thứ của Chúa.
Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Tinh Tuyền, Mẹ Vô Nhiễm xin Mẹ giúp cho ta ngày mỗi ngày bớt đi những tính hư tật xấu của mình để ngày mỗi ngày chúng ta gần Chúa và gần Mẹ hơn.
Anmai, CSsR 2013

 

Chúa nhật 2 MV năm A
Is 11, 1-10; Rm 15, 4-9; Mt 3, 1-12
SỐNG TRONG LẮNG ĐỌC ĐỂ GẶP CHÚA

Trang sách Ngôn sứ Isaia hôm nay được công bố có điều gì đó phải suy nghĩ, không phải suy nghĩ ít mà là suy nghĩ nhiều. Suy nghĩ nhiều bởi lẽ từ một gốc Giesê lại đâm ra một nhánh nhỏ thôi và rồi nhánh đó mọc lên mầm non và từ mầm non đó mọc lên một cây um tùm hoa lá. Cây um tùm hoa lá đó chính là hình ảnh được dùng để nói về Chúa Giêsu.
Và rồi, chúng ta nghe tiếp Isaia mô tả :
Thần khí Đức Chúa sẽ ngự trên vị này:
thần khí khôn ngoan và minh mẫn,
thần khí mưu lược và dũng mãnh,
thần khí hiểu biết và kính sợ Đức Chúa.
Điều suy nghĩ nữa là trong đất nước mà Isaia miêu tả đó thì :
Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ.
Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau,
một cậu bé sẽ chăn dắt chúng.
Bò cái kết thân cùng gấu cái,
con của chúng nằm chung một chỗ,
sư tử cũng ăn rơm như bò.
trẻ thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục,
trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang.
Có thể hình ảnh mà Isaia miêu tả đây ta chưa thấy nhưng ta vẫn mường tượng, vẫn hình dung sự thái bình thịnh vượng trong vương quốc này.
Vương quốc này là một vương quốc mà phải nói rằng ai cũng mơ tưởng và nghĩ đến rằng mình sẽ được đến và ở trong vương quốc bình an và hạnh phúc như vậy.
Quả thật, Chúa Giêsu chính là Hoàng Tử mà muôn dân đợi trông suốt hành trình cứu độ ở Cựu Ước. Cựu Ước không dừng mơ ước mong đợi này nhưng qua Tân Ước người ta cũng mong Đấng Cứu Độ từng loan báo đến với dân để cứu dân thoát khỏi ách nô lệ.
Nhiều ngôn sứ được gửi đến như là người dọn đường cho Hoàng Tử Bình An này. Gioan Tẩy Giả là vị ngôn sứ giữa Cựu Ước và Tân Ước đã công bố sự hiện diện của Hoàng Tử Bình An : "Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi".
Tâm tình chờ đó, tâm tình đón tiếp của Gioan Tẩy giả ta thấy cũng ngồ ngộ : Gioan Tẩy Giả sống trong sa mạc, sống như người sống trong sa mạc thật sự : Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn.
Sau thời gian chuẩn bị, Gioan đi đón Hoàng Tử Bình An. Gioan rất thẳng thắn trong dòng sông Gio đan hôm nay : "Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy? Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối.9 Đừng tưởng có thể bảo mình rằng: "Chúng ta đã có tổ phụ Áp-ra-ham." Vì, tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Áp-ra-ham.Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa. Tôi, tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để giục lòng các anh sám hối. Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và lửa. Tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi."
Rất rõ ràng, rất thẳng thắn chứ không quanh co.
Gioan mời gọi hãy dọn đường, hãy sám hối để chờ đón Đấng Cứu Độ trần gian. Và, chúng ta thấy, Đấng Cứu Độ trần gian cũng đến thật. Đến nhưng không đến trong vẻ oai phong lẫm liệt như người ta chờ nghĩ. Đến trong thân phận làm người và phải nói hết sức là người nữa. Chúa Giêsu  đã đồng hàng với con người để lãnh nhận phép rửa của Gioan.
Đấng Cứu Độ trần gian đã đến nhưng người nhà của Ngài đã khước từ và không đón nhận Ngài. Bằng chứng hết sức rõ ràng qua cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá.
Lời mời của Gioan Tẩy Giả xưa vẫn còn văng vẳng bên tai của mỗi người chúng ta dẫu rằng lời ấy đã qua đi hơn hai ngàn năm. Thế nhưng, ngày hôm nay, chúng ta nghe và đón nhận lời của Gioan như thế nào trong cuộc đời chúng ta hay chúng ta lại cứ để lời gọi đó qua đi một cách uổng phí, luống công của Gioan.
Tâm tình mời gọi của Thánh Phaolô ngày hôm nay rất thực tế : Vậy, anh em hãy đón nhận nhau, như Đức Ki-tô đã đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa. Thật vậy, tôi xin quả quyết: Đức Ki-tô có đến phục vụ những người được cắt bì, để thực hiện những gì Thiên Chúa đã hứa với tổ tiên họ, đó là do lòng trung thành của Thiên Chúa. Còn các dân ngoại có được tôn vinh Thiên Chúa, thì đó là do lòng thương xót của Người, như có lời chép: Vì thế giữa muôn dân con cất lời cảm tạ, dâng  điệu hát cung đàn ca mừng danh thánh Chúa
Đức Giêsu Kitô đã đến trong thế gian, đã sống trong thế gian để ôm con người tội lỗi và yếu đuối vào trong cuộc đời của mình nhưng ta, ta có đón nhận Chúa hay không ? Điều này rất dễ khi nhìn thấy cuộc đời của mỗi người chúng ta. Chúng ta không đón nhận Đức Kitô, bằng chứng là chúng ta không đón nhận anh chị em đồng loại vì anh chị em đồng loại chính là hình ảnh của Thiên Chúa ngay trong đời của ta.
Ta vẫn còn ích kỷ, ta vẫn còn tham lam, ta vẫn còn hơn thua, ta vẫn còn tranh giành với anh chị em đồng loại ... khi ta sống như thế thì lòng ta quanh co và đầy những hố sâu cũng như đồi núi. Chỉ khi nào ta bỏ đi những đố kỵ, ghen tuông trong lòng ta thì khi đó Chúa mới có một chỗ trong lòng chúng ta.
Gioan đã đến, đã chỉ cho ta Đấng Cứu Độ trần gian. Đấng Cứu Độ trần gian cũng đã đến trong nhân loại, trong thế gian này rồi. Chuyện còn lại là chúng ta có mở lòng ra để đón nhận Đấng Cứu Độ trần gian, Vua Bình an vào trong cuộc đời của ta hay không mà thôi.
Gioan đã chìm mình trong sa mạc hoang khô cháy để đón chờ Đấng Cứu Độ trần gian. Những ồn ào, những náo nhiệt của cuộc đời, những chộn rộn của cuộc sống sẽ là bước cản trở ta đến để gặp Chúa.
Trở về với sa mạc lòng ta, nơi cô quạnh và sâu lắng khi đó ta mới có cơ hội gặp Chúa và gặp anh chị em đồng loại.

 

Chúa nhật 2 Mùa Vọng - năm A
Is 11, 1-10; Rm 15, 4-9; Mt 3, 1-12
KHIÊM NHƯỜNG DỌN MÌNH ĐÓN ĐẤNG CỨU ĐỘ TRẦN GIAN

Thiên Chúa là một vị Thiên Chúa giàu lòng thương xót, là một Thiên Chúa của Tình Yêu. Bằng chứng về lòng thương xót, bằng chứng về tình yêu cứ trải dài trong lịch sử cứu độ, trong lịch sử nhân loại.

Con người, ngay tự thuở ban đầu đã quay lưng lại với Ngài nhưng Ngài thì ngược lại. Ngài không quay lưng lại nhưng Ngài bằng mọi cách cho bằng được để tiếp cận với con người, để bày tỏ tình cảm của Ngài với con người. Thật ra mà nói cũng có những lúc giận lắm khi lòng con người trở nên chai, trở nên cứng trước tình yêu ấy nhưng mà Ngài giận thì giận nhưng mà thương thì cũng càng thương.

Tình thương, lòng thương xót của Thiên Chúa tỏ hiện rõ nét nơi cuộc đời của các ngôn sứ.

Lật lại những trang Thánh Kinh, phảng phát đâu đó hình ảnh của các ngôn sứ thật dễ thương.

Có thể ban đầu, chưa hiểu được tình yêu của Chúa nhưng nhận ra một tình thương bao la đại hải để rồi các ngôn sứ sau khi đã nhận tình yêu ấy đã can đảm, đã mạnh dạn lên đường loan báo Tình yêu cứu độ của Thiên Chúa.

Trong sấm ngôn của Hôsê, Giavê như muốn nhắc lại tình sử của Người dành cho Israel:

“Thuở Israel còn là trẻ bé, Ta đã mến thương,
và từ Aicập, Ta đã gọi con Ta.
Người ta (cũng) đã gọi chúng. Thế là chúng đã lìa Ta.
Phần chúng, chúng đã tế cho các Baal,
chúng đã huân yên kính ngẫu tượng.
Chính Ta, Ta đã tập đi cho Ephraim.
Ta bồng bế chúng trên cánh tay Ta.
Nhưng chúng nào có biết là chúng đã được Ta săn sóc.
Ta lôi kéo chúng, với dây tình người, với thừng chão yêu thương.
Với chúng, Ta ở như những người nhấc con đỏ lên tận má mình.
Và cúi xuống trên nó, Ta mớm cho nó ăn" (Hs 11, 1-4).

Trong tình sử ấy, bất chấp sự xấu xa bội phản của Israel, Giavê đã bước vào mối tình thâm sâu với Israel, đã đính hôn và kết hôn với Israel, để Israel mãi mãi thuộc về Giavê, và thuộc về một mình Người mà thôi:

"Cho nên, này Ta dụ dỗ nó, đem nó vào sa mạc,
và kề lòng Ta nói khó với nó" (Hs 2:16).
"Ta sẽ đính hôn với ngươi mãi mãi,
Ta sẽ đính hôn với ngươi bằng công chính,
Công minh, nhân nghĩa, xót thương.
Ta sẽ đính hôn với ngươi bằng đức trung tín,
Và ngươi sẽ biết Giavê" (Hs 2, 21-22).

Có thể nói được rằng ngôn sứ Hôsê là người đã trình bày tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại bằng ngôn ngữ của liên hệ phu phụ giữa Giavê với dân Israel một cách tha thiết đậm đà hơn cả. Hôsê khởi đầu sứ vụ ngôn sứ trong thời Vua Jeroboam II ở vương quốc phía Bắc (783-743 BC), tiếp tục hoạt động trong các triều kế tiếp và có lẽ kết thúc trước năm 721 BC. Ông đã cưới một người vợ tên là Gômer, và người vợ này đã bỏ ông. Ông vẫn yêu quí và đã nhận về sau khi đã thử luyện.

Kinh nghiệm đau thương này của Hôsê đã trở thành một hình ảnh cho cách cư xử của Giavê đối với dân Người. Hôsê là người đầu tiên đã diễn tả liên hệ giữa Giavê và Israel trong ngôn ngữ của một cuộc hôn nhân. Sứ điệp của ông gây ảnh hưởng sâu đậm trong Cựu Ước và trong lời kêu gọi của các ngôn sứ sau này về một tôn giáo của tấm lòng, của con tim.

Các ngôn sứ Jeremiah, Ezekiel và Isaia tiếp tục dùng ngôn ngữ của tình yêu phu phụ để diễn tả liên hệ giữa Giavê và Israel. Các tác giả Tân Ước cũng dùng ngôn ngữ ấy để diễn tả liên hệ giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Trong truyền thống tu đức và thần bí của Giáo Hội, liên hệ phu phụ cũng được dùng để diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và mỗi linh hồn.

Ơn gọi của Giêrêmia cũng hết sức đặc biệt. Thiên Chúa thương Giêrêmia một cách lạ lùng.

Giêrêmia – một con người đã cảm nhận được Chúa đã mạnh tay với ông như thế nào. Thiên Chúa đã kêu gọi ông làm ngôn sứ và để rồi từ một con người nhút nhát, thích sống đơn sơ âm thầm bỗng chốc phải trở thành người nói Lời Chúa nhưng những lời ấy lại gây sự khó chịu cho dân vì toàn tiên báo những tai họa. Trong nỗi đau khổ vì bị mọi người lên án ông như muốn tố cáo lại Thiên Chúa, vì chính Chúa đã “quyến rũ” đã “mạnh hơn” “đã thắng” để giờ đây ông phải nói những điều này dù trước đó ông đã từ chối làm ngôn sứ.

“Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con,
và con đã để cho Ngài quyến rũ.
Ngài mạnh hơn và Ngài đã thắng.” (Gr 20, 7a)

Đứng trước tình yêu bao la của Thiên Chúa, ông cảm thấy mình bị tổn thương, bị đau khổ khiến ông muốn từ bỏ, không muốn bước theo nữa. Nhưng vị ngôn sứ đầy đau khổ này vẫn không thể chối bỏ được Đấng mà ông yêu, vì thế dù ông có cảm thấy thế nào đi nữa ông vẫn không thể cưỡng lại được lời mời gọi của Đức Chúa :

           “Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim,
âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được!” (20, 9b)

            Lời Chúa có một sức mạnh đến lạ lùng khiến ông không nói không được, lời đó cứ như “ngọn lửa bừng cháy trong tim ông” (20, 9b), nó thấu cả vào trong “xương cốt”, vâng, một cảm giác “âm ỉ” diễn ra sự thúc giục mạnh mẽ đến mức làm ông phải cảm thấy ông phải nói.
Có thể nói Lời Chúa đối với ông giống như một sự sống, Lời Chúa đặt để vào miệng ông thật mạnh mẽ, làm dậy lên cả cuộc sống với ông, gắn bó như thể là ngày nào ông còn sống thì ông cần phải nói Lời Chúa. Cách dùng so sánh Lời Chúa của ông khiến chúng ta được quyền nghĩ như vậy. Nhưng một mặt khác ta cũng thấy, chính Lời Chúa đã khiến ông gặp nhiều đau khổ và bị người đời tránh xa. Trong sách Giêrêmia ta cũng thấy chỉ có một lần ông nhìn nhận Lời Chúa khiến ông vui sướng :

            ‘Gặp được Lời Chúa, con đã nuốt vào, lời Ngài làm cho con hoan hỷ,

làm vui thoả lòng con, vì con được mang danh Ngài, lạy Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh.’ (15,16)

Isaia cũng vậy, được chọn, được lựa trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Ngôn sứ Isaia đã loan báo cho dân Israel đang gặp thử thách ngày xưa và cho chúng ta ngày nay về dung mạo của Thiên Chúa Cứu Chuộc sắp đến là vị Thiên Chúa mà con người cần đến, với những lời được trích lại trong bài đọc thứ nhất mà chúng ta vừa nghe : "Chúa lấy công minh mà xét xử người nghèo" (x. Is 11, 1-10).

Đó là những đường nét chính của một vị Thiên Chúa cứu rỗi mà con người mọi thời đại cần đến, một vị Thiên Chúa công bằng trong xét đoán và giàu tình yêu thương, vì Ngài đến để thiết lập cuộc sống hoà bình và hoà hợp cho con người. Cuộc sống ấy được tiên tri Isaia loan báo bằng hình ảnh môi sinh, trong đó sói sống chung với chiên, trẻ nhỏ dám tiếp xúc với các thú dữ. Đó là hồng ân cao cả Thiên Chúa ban cho con người được sống trong cảnh thái bình hoà hợp. Nhưng từ phía con người, họ không được sống ỷ lại để mặc Thiên Chúa muốn làm sao thì làm, nhưng họ phải biết thay đổi cuộc sống của mình mà trở về với Thiên Chúa, đón nhận hồng ân Ngài ban.

Nhắc đến tình yêu Thiên Chúa ban cho dân Người, nhắc đến những người được Chúa chọn để loan báo tình yêu ấy mà quên đi một ngôn sứ của buổi giao thời quả là một điều thiếu sót lớn. Vị ngôn sứ ấy được Isaia loan báo: “Có tiếng hô từ nơi hoang địa: hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa,sửa lối cho thẳng để Ngài đi.Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, mọi núi đồi phải bạt cho thấp, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Is 40, 3-5; Mc 1, 3; Lc 3, 4-6; Mt 3,  3). Isaia đã giới thiệu về Gioan như một vị Tiền Hô dọn đường cho Đấng Thiên Sai đến.

Malakia tiên báo: “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt con,người sẽ dọn đường cho con đến để làm lòng cha ông quay về với con cháu” (Ml 3,1- 24; Mt 1,10; Lc 1,17;7,27). Lời Ngôn sứ Malakia nhắc nhở cho người đương thời và hậu thế về ơn gọi của Gioan như vị sứ giả dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến.

Sứ Thần Truyền Tin xác nhận: Sứ Thần của Chúa hiện ra với Dacaria, đứng bên phải hương án, xác nhận với ông rằng người con trai của ông sắp chào đời là Gioan Tẩy Giả “Sẽ đi trước mặt Chúa và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa”(Lc1,17).

Thân phụ của Gioan : Dacaria, dưới tác động của Thánh Thần, Dacaria đã hát lên bài ca chúc tụng “Benedictus” về ơn gọi của người con trai mình “Hài Nhi hỡi, con sẽ đi trước mặt Chúa, mở lối cho Người, bảo cho dân Chúa biết, Người sẽ cứu độ và tha thứ cho họ hết mọi tội khiên” (Lc 1,76- 77).

Thiên Chúa đã chọn và đã đặt Gioan làm gạch nối giữa Cựu ước và Tân ước với sứ vụ đặc biệt đó là Tiền Hô cho Đấng Cứu Thế, là loan báo Tin mừng cứu độ.

Hôm nay xuất hiện trong hoang địa miền Giu-đê và nói :  "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần."

Gioan không phải là người nói suông nhưng là những lời chân thành, những lời đây là những lời xác tín. Cứ nhìn cách ăn mặc, cách sống và lời rao giảng của Gioan ta sẽ nhận ra điều này.

Cũng như Hôsê, như Giêrêmia, như Isaia và như bao ngôn sứ khác, Gioan đã mặc lấy trong mình tâm tình hết sức khiêm nhường để đón nhận Chúa vào trong cuộc đời. Đấng Cứu Độ trần đã đến thế gian. Điều lạ lùng, điều đặc biệt là Đấng Cứu Độ chỉ đến được với những tấm lòng rộng mở, những tấm lòng hết sức khiêm hạ.

“Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người”. Một con người cao trọng như vậy, với ơn gọi đặc biệt như vậy nhưng Gioan hoàn toàn khiêm tốn trước “Chiên Thiên Chúa”. Không những thế, tại dòng sông Giođan khi làm phép rửa cho Chúa Giêsu Gioan còn nói : “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian. Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi”. Một tâm tình hết sức khiêm hạ để Chúa lớn lên trong Gioan.

Hôm nay, đang sống trong mùa Vọng, Giáo Hội mời gọi chúng ta sống tâm tình chờ đón Chúa đến với tâm tình hết sức dễ thương của Gioan Tẩy Giả. Xin cho mỗi người chúng ta nhìn rõ, nhìn kỹ, nhìn sâu hơn nữa vào cuộc đời của Gioan để rồi chúng ta mặc lấy tâm tình khiêm hạ như Gioan để sẵng sàn đón Ơn Cứu Độ vào trong cuộc đời của mỗi người chúng ta.

Lm Anmai, CSsR


Lm Anmai CSsR - dongcongnet

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)